Dự án IFC Hanoi (hay còn được biết đến với tên gọi Shilla Hotel) do Công ty TNHH Phát triển THT (thành viên Tập đoàn Daewoo E&C) làm chủ đầu tư.
Đây là tòa văn phòng và thương mại bán lẻ nằm trong tổ hợp TTTM – Văn phòng – Khách sạn – Căn hộ dịch vụ lô B3CC1 – Khu đô thị Tây Hồ Tây, thuộc phường Xuân Đỉnh, Thành phố Hà Nội đã được khánh thành vào tháng 4/2026.
Tin Gốc: Người Đưa Tin
Kinh Tế
Báo Thanh Niên tổ chức hội thảo 'Mở khóa tăng trưởng - Động lực từ kinh tế tư nhân'

Để đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Việt Nam đặt ra mục tiêu đầy tham vọng: trong giai đoạn 2026 - 2030, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên.
Hiện thực hóa điều này, nền kinh tế cần huy động khoảng 38,5 triệu tỉ đồng. Trong đó, vốn từ ngân sách nhà nước chỉ chiếm khoảng 22%, phần còn lại phải dựa vào khu vực tư nhân và thu hút đầu tư nước ngoài.
Tại Kết luận 18 Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV ngày 2.4 vừa qua, Trung ương Đảng xác định nhiều nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030, nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tạo đột phá phát triển các thành phần kinh tế, trong đó phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Làm thế nào để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thực sự "trưởng thành", nâng cao năng lực nội tại, tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu? Đâu là giải pháp để chuyển hóa chủ trương, quy định của Nghị quyết 68 năm 2025 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 198 của Quốc hội thành những hành động thực chất, giúp khu vực kinh tế tư nhân phát triển bứt phá, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu tăng trưởng "2 con số" trong giai đoạn sắp tới.
Những vấn đề này sẽ được các chuyên gia kinh tế, nhà hoạch định chính sách cùng các doanh nghiệp thảo luận tại hội thảo "Mở khóa tăng trưởng - động lực từ kinh tế tư nhân" do Báo Thanh Niên tổ chức vào 14 giờ ngày 8.6, tại khách sạn Dolce by Wyndham Hanoi Golden Lake (B7 Giảng Võ, Hà Nội).
Hội thảo có sự tham gia của đại diện các cơ quan: Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp - Môi trường, cùng nhiều chuyên gia kinh tế, doanh nghiệp.
Sự kiện được truyền hình trực tiếp trên các nền tảng của Báo Thanh Niên.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Bộ Công thương bác kiến nghị mua sản lượng điện khí lên 95%, kéo dài 25 năm

Ngày 5.5, Bộ Công thương công bố bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội đối với hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung khoản 4 điều 15 Nghị định số 56/2025/NĐ-CP ngày 3.3.2025 của Chính phủ.
Nghị định 56 quy định chi tiết một số điều của luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 điều 1 Nghị định số 100/2025/NĐ-CP ngày 8.5.2025 của Chính phủ, trong đó có đề xuất liên quan đến điện khí sử dụng LNG nhập khẩu.
Theo Bộ Công thương, hoàn thiện cơ chế “sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn” (Qc) đối với các dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu là một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo lần này.
Trước đó, khi triển khai Nghị định 56 và Nghị định 100, nhiều chủ đầu tư phản ánh khó khăn trong việc thu xếp tài chính cho dự án, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu cơ chế đảm bảo dòng tiền ổn định, trong khi các dự án điện khí LNG có tổng mức đầu tư lớn, phụ thuộc nhiều vào vốn vay.
Góp ý vào dự thảo lần này, các nhà đầu tư kiến nghị một số cơ chế như áp dụng giá điện 2 thành phần, cơ chế bao tiêu sản lượng điện, kéo dài thời gian áp dụng sản lượng điện hợp đồng, cũng như nâng tỷ lệ sản lượng điện tối thiểu lên mức cao hơn.
Sau khi tiếp thu, xem xét các kiến nghị từ nhà đầu tư, Bộ Công thương đề xuất nâng mức sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn từ 65% lên 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án, đồng thời kéo dài thời gian áp dụng tối đa từ 10 năm lên 15 năm.
Theo lý giải từ Bộ Công thương, mức điều chỉnh Qc đối với dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu nói trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư trong việc thu xếp vốn, đồng thời vẫn bảo đảm cân đối lợi ích giữa các bên và phù hợp với khả năng vận hành của hệ thống điện.
Tuy nhiên, Bộ Công thương vẫn nhận được nhiều ý kiến từ các chủ đầu tư cho rằng, mức 75% vẫn chưa đủ hấp dẫn để bảo đảm tính khả thi tài chính của dự án, đề xuất nâng lên 85 - 95% và kéo dài thời gian áp dụng đến 20 - 25 năm.
Phản hồi đề xuất này, Bộ Công thương cho rằng, cơ quan soạn thảo dự thảo nghị định đã tiến hành tính toán, đánh giá trên nhiều kịch bản phụ tải điện khác nhau, từ cơ sở đến cao và cao đặc biệt.
Kết quả cho thấy, nếu tỷ lệ Qc tăng từ 80% trở lên có thể xuất hiện tình trạng “over contract”, tức sản lượng điện hợp đồng cao hơn nhu cầu huy động thực tế của hệ thống. Khi đó, dù không phát điện, bên mua điện vẫn phải thanh toán theo hợp đồng, dẫn đến gia tăng chi phí toàn hệ thống.
Đặc biệt, trong bối cảnh giá điện từ các nhà máy LNG thường cao hơn so với nhiều nguồn điện khác, việc tăng nghĩa vụ thanh toán hợp đồng có thể gây áp lực lên giá điện bình quân và ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Vì vậy, Bộ Công thương đề xuất Qc chỉ tăng từ 65% lên 75%.
Cũng theo Bộ Công thương, ngoài vấn đề sản lượng điện hợp đồng, các doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng đưa ra nhiều kiến nghị liên quan đến cơ chế giá điện, hợp đồng mua bán điện, tỷ giá, lạm phát, cũng như cơ chế bao tiêu nhiên liệu LNG...
Dự thảo nói trên đã nhận được ý kiến tham gia của 16 cơ quan, tổ chức, bao gồm các bộ, ngành: Tài chính, Tư pháp, Ngoại giao, Xây dựng, Quốc phòng… cùng nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực năng lượng như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và các nhà đầu tư dự án điện khí LNG.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Thanh toán số thông minh - Đòn bẩy tăng trưởng cho doanh nghiệp SME tại Việt Nam

Thanh toán số thông minh đang trở thành một động lực quan trọng, giúp doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch tài chính, mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn và tăng cường năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế số.
Việt Nam đang thúc đẩy chuyển đổi số với trọng tâm là nâng cao năng lực của khu vực SME. Định hướng này được thể hiện qua Đề án Hỗ trợ chuyển đổi số cho doanh nghiệp SME giai đoạn 2026 - 2030 (Quyết định số 433/QĐ-TTg của Chính phủ). Với khoảng 98% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam là SME, khả năng ứng dụng công nghệ số của khu vực này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Tuy nhiên, nhiều SME vẫn gặp khó khăn trong quản trị tài chính và tiếp cận nguồn vốn. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa Việt Nam, gần 60% SME gặp trở ngại khi vay vốn ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn đầu phát triển. Việc phụ thuộc vào tiền mặt và các quy trình thủ công cũng khiến nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng được hồ sơ tài chính minh bạch và lịch sử tín dụng đầy đủ.
Trong bối cảnh yêu cầu về minh bạch tài chính và số hóa hoạt động kinh doanh ngày càng cao, thanh toán số đang vượt ra ngoài vai trò là một phương thức giao dịch để trở thành nền tảng tăng trưởng mới của SME. Mỗi giao dịch số không chỉ giúp doanh nghiệp quản lý dòng tiền hiệu quả hơn mà còn tạo ra dữ liệu tài chính đáng tin cậy, phản ánh rõ hơn năng lực kinh doanh. Khi các tổ chức tài chính ngày càng ứng dụng dữ liệu trong đánh giá tín dụng, những dữ liệu này cũng góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức, đặc biệt đối với các SME chưa có nhiều tài sản thế chấp hoặc lịch sử tín dụng đầy đủ. Theo đó, thanh toán số không chỉ giúp doanh nghiệp chuẩn hóa hoạt động, nâng cao tính minh bạch mà còn tạo nền tảng để mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn và tăng cường năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế số.
Đối với Mastercard, việc hỗ trợ SME chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở các giải pháp thanh toán. Để giúp doanh nghiệp nhỏ tham gia toàn diện vào nền kinh tế số, cần có sự kết nối chặt chẽ giữa bốn nền tảng cốt lõi: khả năng tiếp cận các công cụ số, nâng cao năng lực kinh doanh, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính và kiến tạo một môi trường số an toàn, đáng tin cậy. Tại Việt Nam, Mastercard hợp tác chặt chẽ với các ngân hàng, công ty fintech và các đối tác trong hệ sinh thái để củng cố từng nền tảng này, giúp SME phát triển với khả năng chống chịu tốt hơn, và hồ sơ tài chính minh bạch hơn.
Các công nghệ như SoftPOS và SoundBox đang giúp doanh nghiệp dễ dàng chấp nhận thanh toán số mà không cần đầu tư lớn vào thiết bị, trong khi hợp tác với Sổ Bán Hàng hỗ trợ doanh nghiệp số hóa hoạt động quản lý kinh doanh. Bên cạnh đó, Mastercard cũng phối hợp với các tổ chức tài chính phát triển những giải pháp phù hợp với nhu cầu của SME, như Thẻ tín dụng doanh nghiệp VPBank CommCredit, góp phần hỗ trợ quản lý dòng tiền và mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn.
Hiểu rằng chuyển đổi số thành công đòi hỏi sự kết hợp giữa công nghệ và năng lực con người, Mastercard cũng đầu tư vào các chương trình như Strive Women cùng CARE Việt Nam nhằm hỗ trợ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ và SME phát triển kỹ năng số, năng lực tài chính và quản trị. Nỗ lực này tiếp nối thành công của chương trình Ignite (được Quỹ Mastercard Impact tài trợ), giúp hỗ trợ tiếp cận hơn 1.500 tỉ đồng vốn vay và hỗ trợ trực tiếp hơn 47.000 doanh nhân tại Việt Nam.
Khi môi trường kinh doanh ngày càng số hóa, Mastercard tiếp tục tăng cường niềm tin vào hệ sinh thái thanh toán thông qua các công nghệ như tokenization, Payment Passkeys và hệ thống phát hiện gian lận dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm mang đến trải nghiệm thanh toán an toàn và liền mạch, hướng tới mục tiêu xây dựng hệ sinh thái thanh toán được token hóa hoàn toàn tại Việt Nam vào năm 2027.
Những nỗ lực này phản ánh cam kết dài hạn của Mastercard trong việc hỗ trợ SME không chỉ chuyển đổi số mà còn mở rộng quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Trong bối cảnh kinh tế số Việt Nam tiếp tục phát triển, Mastercard hướng tới đồng hành xây dựng một hệ sinh thái thanh toán an toàn, toàn diện và vững mạnh, nơi mọi doanh nghiệp, bất kể quy mô, đều có cơ hội phát triển và bứt phá.
Tin Gốc: Thanh Niên

