Các cơ quan, đơn vị thuộc chính quyền Hà Nội sẽ sử dụng hệ thống AI dùng chung của Thành phố sau khi hoàn thành, tính từ ngày 1/10. Đây là mục tiêu thuộc trụ cột chính quyền số, trong khung chuyển đổi số Hà Nội gồm ba trụ cột: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Ngoài mục tiêu tăng tỷ lệ ứng dụng AI, Hà Nội sẽ giảm ít nhất 50% văn bản lấy ý kiến giữa các cơ quan nhà nước từ nay đến hết năm 2026. 100% hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường điện tử, trừ nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước.
Tỷ lệ họp trực tuyến cũng được đặt mục tiêu chiếm 60% tổng số hội nghị, cuộc họp. Các cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước phải công khai, minh bạch, thống nhất và có kênh tương tác với người dân, doanh nghiệp.
Trong giải quyết thủ tục hành chính, Hà Nội phấn đấu tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu đạt tối thiểu 95%. Tỷ lệ hồ sơ được xử lý đúng hạn hoặc trước hạn đạt ít nhất 98%, trong khi tỷ lệ hồ sơ bị từ chối hoặc yêu cầu bổ sung ở mức dưới 5%.
Ở trụ cột kinh tế số, Hà Nội đặt mục tiêu đến hết năm 2026, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt tối thiểu 22%. Tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt ít nhất 15%. Tỷ trọng thương mại điện tử trong tổng mức bán lẻ đạt trên 17% và duy trì vị trí dẫn đầu cả nước về Chỉ số Thương mại điện tử (EBI). Tỷ trọng kinh tế dữ liệu chiếm tối thiểu 5% trong kinh tế số.
Về xã hội số, chính quyền Hà Nội cũng đề ra nhiều mục tiêu cụ thể. Tỷ lệ công dân được định danh điện tử đạt tối thiểu 95%, trong đó mức độ 2 đạt 90%. Tỷ lệ tổ chức, doanh nghiệp, hộ kinh doanh có tài khoản định danh điện tử đạt tối thiểu 90%.
Thành phố hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ dân số trưởng thành sử dụng điện thoại thông minh lên 95%. Trên 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản thanh toán tại ngân hàng. Tối thiểu 60% người trưởng thành có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân.
Về mức độ sử dụng dịch vụ số, Hà Nội muốn 80% hồ sơ trực tuyến trên tổng số hồ sơ tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính. Tỷ lệ cấp kết quả điện tử đạt 100%. Tối thiểu 90% giao dịch dịch vụ công và tiện ích công được thực hiện không dùng tiền mặt. Tỷ lệ dân số trưởng thành sử dụng dịch vụ tư vấn sức khỏe trực tuyến hoặc khám chữa bệnh từ xa đạt tối thiểu 45%.
Để đạt được các mục tiêu trên, Hà Nội sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có việc ban hành khung kiến trúc số và kiến trúc dữ liệu theo nguyên tắc API-first, dữ liệu dùng chung, nền tảng dùng chung và bảo mật theo thiết kế. Hà Nội cũng sẽ rà soát, cập nhật các danh mục dữ liệu, gồm dữ liệu mở và dữ liệu dùng chung. Thành phố dự kiến công bố Bộ quy tắc AI và xây dựng Trung tâm Dashboard điều hành, đặt tại Trung tâm Dữ liệu của Hà Nội.
Tin Gốc: https://vnexpress.net/ha-noi-dat-muc-tieu-100-co-quan-nha-nuoc-ung-dung-ai-5061915.html

Ở nhóm smartphone cận cao cấp, khác biệt giữa các sản phẩm ngày càng khó tạo ra nếu chỉ nhìn vào màn hình, thiết kế hay hiệu năng. Phần lớn máy hiện nay đều đủ nhanh cho nhu cầu phổ thông, đủ mỏng để tạo cảm giác cao cấp và đủ đẹp để dễ gây thiện cảm từ cái nhìn đầu tiên.
Vì vậy, thứ quyết định bản sắc của một mẫu máy thường nằm ở trải nghiệm sử dụng cụ thể. Với vivo V70, hãng chọn đặt trọng tâm vào camera, rõ nhất là cụm ZEISS ở mặt lưng và hệ thống ống kính gồm camera chính 50 MP có chống rung quang học OIS, tele 50 MP và camera siêu rộng 8 MP; phía trước là camera selfie 50 MP lấy nét tự động. Về mặt thông số, đây là một cấu hình đủ cho thấy V70 không muốn chỉ đứng ở vị trí "chụp ổn", mà muốn tiến gần hơn tới một chiếc điện thoại thiên về hình ảnh trong tầm giá.
Điều đáng chú ý là vivo không chỉ gắn ZEISS như một yếu tố nhận diện. Cách hãng xây dựng sản phẩm cho thấy camera mới là phần được ưu tiên kể chuyện. V70 được nhấn vào khả năng tele 3x quang học, zoom số 10x cũng như khung viền hợp kim nhôm. Những chi tiết này, nếu nhìn riêng lẻ, có thể dễ bị xem là ngôn ngữ tiếp thị quen thuộc. Nhưng khi nhìn vào ảnh chụp thực tế, có thể thấy V70 ít nhất cũng đang cố tạo ra một hướng dùng rõ ràng hơn là chỉ trang bị camera để đủ thông số.
Từ những ảnh chụp thực tế, có thể thấy vivo V70 theo đuổi kiểu xử lý khá bắt mắt. Ảnh ngoài trời có màu sắc tươi, độ tương phản rõ, bầu trời và mảng cây lá thường được làm nổi lên thay vì giữ hoàn toàn trung tính. Đây là kiểu xử lý dễ tạo thiện cảm ngay khi xem trên màn hình điện thoại, đặc biệt với người dùng thích chụp xong là đăng. Bù lại, sự bắt mắt đó đôi khi cũng làm ảnh rời nhẹ khỏi cảm giác thật của bối cảnh, V70 ưu tiên ảnh có tính trình bày tốt hơn là cố giữ sự trung tính tuyệt đối.
Đó là lựa chọn không mới, nhưng hợp lý với nhóm người dùng mà dòng V hướng tới. Một chiếc điện thoại thiên chụp ảnh cho số đông thường không cần quá kỹ tính theo kiểu máy ảnh, mà quan trọng là ảnh ra đủ sắc, đủ sáng, màu da dễ nhìn và bố cục có nhiều không gian sáng tạo hơn nhờ tiêu cự linh hoạt. V70 có vẻ đang đi đúng công thức đó.
Phần đáng nói nhất trên vivo V70 vẫn là ống kính tele 50 MP. Trên lý thuyết, camera này hỗ trợ zoom quang 3x và được đặt như một trong những điểm nhấn chính của sản phẩm. Trên thực tế, đây cũng là thành phần giúp V70 khác hơn so với khá nhiều smartphone cùng tầm giá, nơi camera tele vẫn chưa phải trang bị phổ biến.
Qua các ảnh chụp hoa, máy bay, chân dung hay vật nuôi, tele trên V70 cho thấy giá trị rõ ràng hơn so với kiểu zoom để có thêm lựa chọn. Khi chụp hoa, tiêu cự dài giúp gom khung hình gọn hơn, tách chủ thể khỏi hậu cảnh dễ hơn và giữ được cảm giác nổi khối khá rõ. Với ảnh máy bay, camera tele không biến chiếc điện thoại thành công cụ chụp siêu xa, nhưng đủ để mở ra một kiểu ảnh mà camera chính khó làm tốt nếu chỉ crop. Còn với chân dung, đây là nơi lợi thế thể hiện rõ nhất: khuôn mặt lên thuận mắt, phối cảnh bớt méo, nền lùi ra sau tự nhiên hơn và khung hình có cảm giác đúng tiêu cự hơn cho ảnh.
Ảnh chân dung từ V70 cũng cho thấy máy thiên về hướng nịnh mắt. Tông da sáng, gương mặt được làm nổi khá rõ, nền xóa vừa phải và tổng thể ảnh phù hợp với thói quen chia sẻ mạng xã hội. Đây là điểm mạnh nếu nhìn từ góc độ sử dụng phổ thông. Tuy nhiên, với người thích ảnh thật màu hoặc muốn hệ camera giữ nguyên cá tính ánh sáng của bối cảnh, V70 có thể vẫn hơi ưu tiên xử lý phần mềm. Sự dễ nhìn của ảnh trong nhiều trường hợp đến từ cách máy tăng tương phản và tinh chỉnh màu khá chủ động.
Tựu trung, vivo V70 không tạo cảm giác là một cú nhảy vọt lớn về nhiếp ảnh di động, nhưng đây là một mẫu máy có hướng đi cụ thể. Điểm đáng giá nhất không nằm ở việc camera mạnh tới đâu mà ở chỗ máy tạo ra được một trải nghiệm chụp ảnh tương đối nhất quán: chất ảnh tươi sáng, màu sắc rõ ràng, chân dung nổi bật và tele thực sự có ích. Trong một thị trường đang có nhiều smartphone tầm trung vẫn dừng ở mức chụp ổn định, đó là một khác biệt đủ để V70 được chú ý.
Tin Gốc: Thanh Niên

Trong chuyến du hành tới Mặt Trăng đầu tháng 4, phi hành đoàn Artemis II chụp nhiều hình ảnh ngoạn mục về thiên thể này và Trái Đất, nhận được sự quan tâm lớn của những người yêu thích khám phá không gian. Tuy nhiên, một số bức ảnh lại thu hút vì yếu tố khác: những ngôi sao và hành tinh lấp lánh trên nền vũ trụ. Điều này gây ngạc nhiên vì trong ảnh chụp từ chương trình Mặt Trăng Apollo của NASA cách đây hơn nửa thế kỷ, nhiều người đã quen với nền vũ trụ là khoảng không tối đen.
Theo Viện Vật lý (IOP) tại Anh, việc không có ngôi sao nào trong ảnh chụp từ bề mặt Mặt Trăng là lý do phổ biến khiến một số người nghi ngờ việc phi hành gia Apollo đã đặt chân lên bề mặt thiên thể. Không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm ánh sáng và khí quyển dày như ở Trái Đất, họ trông đợi thấy hàng nghìn ngôi sao trong mọi bức ảnh.
IOP giải thích, kỳ vọng này dựa trên giả định rằng ảnh được chụp vào đêm Mặt Trăng (ban đêm trên Mặt Trăng dài tương đương 14 ngày Trái Đất). Trong khi thực tế, mọi chuyến bay có người lái đến Mặt Trăng thời Apollo đều diễn ra vào ban ngày (cũng dài tương đương 14 ngày Trái Đất), khi bề mặt thiên thể này sáng rực. Phi hành gia phải đeo kính bảo hộ và chụp ảnh trong điều kiện các ngôi sao thua kém bề mặt Mặt Trăng về độ sáng. Chúng quá mờ để xuất hiện trong ảnh, khiến bầu trời trông như khoảng không tối đen.
"Giả sử bạn là Neil Armstrong đang chụp ảnh Buzz Aldrin vào ban ngày nhiều ánh sáng trên Mặt Trăng. Buzz (mặc bộ đồ vũ trụ) và bề mặt Mặt Trăng sẽ là chủ thể sáng nhất trong ảnh. Để Buzz hiện rõ, bạn cần chọn tốc độ màn trập nhanh và khẩu độ nhỏ. Kết quả, bạn thu được hình ảnh rõ nét của Buzz, nhưng nguồn sáng khác như những ngôi sao lại quá mờ để xuất hiện trên phim chụp", nhà sử học du hành vũ trụ Amy Shira Teitel nói với Astronomy.
Theo nhà vật lý thiên văn Alfredo Carpineti, tiến sĩ tại Đại học Hoàng gia London, từ bề mặt Mặt Trăng hoặc không gian sâu, con người thường có thể thấy bầu trời đầy sao, dải Ngân Hà rõ nét cùng nhiều thiên thể khác. Tuy nhiên, chúng không hiện diện trong ảnh do mục tiêu và cách chụp.
Những mục tiêu phổ biến trong nhiếp ảnh cận Trái Đất là phi hành gia mặc bộ đồ vũ trụ màu trắng, tàu, trạm vũ trụ, Mặt Trăng và chính hành tinh xanh. "Tất cả chủ thể đó đều có một điểm chung: rất sáng nhờ phản xạ nhiều ánh nắng Mặt Trời. Trong khi đó, các ngôi sao vốn là nguồn sáng nhưng lại ở quá xa nên mờ nhạt", Carpineti giải thích trên IFL Science.
Không chỉ ảnh chụp từ phi hành gia, những bức ảnh do camera trên tàu vũ trụ chụp cũng có thể vắng bóng sao. "Về cơ bản, chúng ta không thể thấy sao từ camera trên tàu vì để quan sát chính con tàu (hoặc Mặt Trăng, Trái Đất) thì phải là ban ngày, khi Mặt Trời soi sáng chúng. Camera được điều chỉnh để phù hợp với độ sáng đó nên không thể thu ánh sáng yếu từ những ngôi sao phía sau", tiến sĩ Becky Smethurst, nhà vật lý thiên văn tại Đại học Oxford, nói với Reuters.
Hình ảnh từ không gian có thể trông giống chụp vào ban đêm vì nền trời màu đen thay vì xanh. Nhưng thực tế, bầu trời ban ngày trên Trái Đất có màu xanh nhờ sự tán xạ ánh sáng trong khí quyển. "Vượt khỏi khí quyển, bầu trời ban ngày trông tối đen", Smethurst giải thích.
Bên cạnh đó, đa số ảnh không gian được chụp trên tàu vũ trụ di chuyển nhanh. Vì vậy, để có tác phẩm tốt, cần điều chỉnh tốc độ màn trập và thời gian phơi sáng thích hợp. Phi hành gia NASA Don Pettit thậm chí tự phát triển thiết bị theo dõi sao riêng để chụp những bức ảnh phơi sáng đúng thời gian cần thiết từ Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS), vật thể di chuyển với tốc độ tới 8 km mỗi giây.
Ảnh chụp toàn cảnh Trái Đất ngày 3/4 (trái) và 2/4 (phải) từ tàu vũ trụ Orion trong nhiệm vụ Artemis II. Ảnh: NASA
Những hình ảnh từ phi hành đoàn Artemis II, trong đó các hành tinh và ngôi sao nằm ngoài hệ thống Trái Đất - Mặt Trăng hiện diện, đều có điểm chung là ngược sáng, hay Mặt Trời chiếu sáng từ phía sau. Trong ảnh toàn cảnh Trái Đất ngày 2/4 với thời gian phơi sáng dài hơn, các chi tiết, bao gồm Sao Kim cùng nhiều thiên thể khác, rõ nét hơn so với ảnh chụp ngày 3/4.
Tương tự, trong ảnh chụp nhật thực ngày 6/4, khi Mặt Trăng chắn trước Mặt Trời, các hành tinh và ngôi sao cũng hiện rõ. NASA giải thích: "Các ngôi sao, thường quá mờ để quan sát khi chụp Mặt Trăng, cũng xuất hiện. Lý do là khi Mặt Trăng chìm trong bóng tối, việc chụp ảnh sao trở nên dễ dàng hơn".
Tàu Orion rời bệ phóng tối 1/4 (5h35 ngày 2/4 giờ Hà Nội) đưa bốn phi hành gia bay tới Mặt Trăng, đánh dấu sứ mệnh có người lái đầu tiên của NASA vượt ra ngoài quỹ đạo Trái Đất tầm thấp sau 54 năm. Phi hành đoàn gồm chỉ huy nhiệm vụ Reid Wiseman (NASA), phi công Victor Glover (NASA), chuyên gia nhiệm vụ Christina Koch (NASA) và chuyên gia nhiệm vụ Jeremy Hansen (Cơ quan Vũ trụ Canada CSA).
Nhiệm vụ Artemis II đánh dấu hàng loạt cột mốc trong ngành hàng không vũ trụ. Ví dụ, phi hành gia da màu, người phụ nữ, người không phải công dân Mỹ đầu tiên, phi hành gia lớn tuổi nhất đến Mặt Trăng. Ngoài ra, phi hành đoàn còn lập kỷ lục bay xa Trái Đất nhất, 406.771 km, xa hơn 6.616 km so với kỷ lục cũ của Apollo 13.
Bên cạnh đó, đây là chuyến bay có người lái đầu tiên của tên lửa Hệ thống Phóng Không gian (SLS) và tàu Orion. Rất nhiều công nghệ thử nghiệm trên tàu cũng lần đầu được sử dụng ngoài không gian như Hệ thống Liên lạc Quang học Orion Artemis II, sử dụng tia laser để gửi và nhận dữ liệu từ Trái Đất. Ngoài ra, tàu cũng trang bị nhà vệ sinh hoạt động đầy đủ đầu tiên trong chuyến bay tới Mặt Trăng.
Thu Thảo tổng hợp
Nguồn: https://vnexpress.net/ly-do-anh-cua-artemis-ii-xuat-hien-sao-con-apollo-toi-den-5060547.html

Trong năm cuối tại Đại học Yale, Amanda biết rằng nhiều bạn cùng lớp sử dụng chatbot để viết luận và làm bài tập về nhà. Tuy nhiên, cô chỉ nhận ra điều kỳ lạ khi thảo luận nhóm: các bạn đưa ra những luận điểm và lập luận trau chuốt kỹ lưỡng, nhưng kết quả thu "nhạt nhẽo, thiếu sức sống" ở nhiều chủ đề khác nhau.
"Trong buổi học, tôi thấy cảnh tượng quen thuộc. Khi giảng viên yêu cầu sinh viên suy nghĩ một câu hỏi, những người bạn bên cạnh liền gõ lia lịa vào laptop đang mở sẵn", Amanda nói với CNN, yêu cầu dùng biệt danh để tránh rắc rối.
"Bây giờ, ai cũng thảo luận na ná nhau", cô cho biết. "Hồi năm nhất, các cuộc tranh luận diễn ra rôm rả, không mạch lạc nhưng ai cũng đóng góp một điều gì đó mới mẻ, dựa vào ý kiến của nhau, tiếp cận từ nhiều góc độ và đưa ra nhận xét khác biệt".
Thực tế, theo bài báo được công bố vào tháng 3 trên tạp chí Trends in Cognitive Sciences, các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) đang "hệ thống hóa" cách diễn đạt và tư duy của con người trên ba khía cạnh: ngôn ngữ, quan điểm và lý luận.
Trong môi trường giáo dục, sinh viên, giảng viên cho biết họ đang thấy những ảnh hưởng của xu hướng đó trong lớp học. Và điều đó khiến nhiều sinh viên nói chuyện với quan điểm như nhau.
Tác động
Jessica, sinh viên năm cuối tại Đại học Yale, nói cô sử dụng AI mỗi ngày khi lên lớp. "Vào đầu giờ học, bạn có thể thấy từng người đưa file PDF vào chatbot", cô cho biết.
Theo Jessica, việc AI diễn đạt rõ ý là yếu tố cần thiết đối với cô - người thường gặp khó khăn khi muốn chuyển suy nghĩ thành lời. "Tôi muốn bình luận, tôi có ý tưởng, nhưng tôi không biết làm thế nào để nói câu đó một cách mạch lạc", cô nói. "Vì thế, tôi nhờ một chatbot làm cho câu nói của mình mạch lạc hơn".
Giáo sư Thomas Chatterton Williams tại Trung tâm Hannah Arendt thuộc trường Cao đẳng Bard, chứng kiến tác động từ quyết định sử dụng AI của sinh viên theo nhiều hướng khác nhau. "Việc dựa vào AI đã giúp nâng cao chất lượng thảo luận trên lớp, nhất là ở khóa học có khái niệm khó", ông nói. "Nhưng công nghệ này cũng có xu hướng làm giảm đi những suy nghĩ kỳ lạ, độc đáo và mới mẻ hơn".
Theo ông, điều lo ngại là nhiều người trẻ tài năng sẽ không có được tiếng nói riêng. Thậm chí, một lượng đáng kể trong số họ sẽ không thực sự hiểu được giá trị của việc viết lách và sở hữu quan điểm.
Jessica thừa nhận cô thấy mình trở nên lười biếng hơn kể từ khi bắt đầu sử dụng chatbot trong học tập. "Dường như tinh thần tự học, tự làm việc của tôi đã hoàn toàn biến mất", cô chia sẻ.
Về vấn đề AI khiến giọng điệu của sinh viên nghe na ná nhau, Zhivar Sourati, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Nam California, cho rằng các mô hình ngôn ngữ lớn được huấn luyện để dự đoán từ tiếp theo có khả năng xuất hiện cao nhất dựa trên nội dung đã xuất hiện trước đó. Do đó câu trả lời "phản ánh một lát cắt hẹp và méo mó về trải nghiệm của con người, sự thu hẹp không gian khái niệm mà các mô hình sử dụng để viết, nói và suy luận".
Dẫn một nghiên cứu đang thực hiện cùng nhóm cộng sự, Sourati giải thích rằng sự đồng nhất hóa do AI diễn ra trên ba chiều: ngôn ngữ, quan điểm và chiến lược lập luận. Các mô hình AI có xu hướng tái tạo những gì gọi là quan điểm WEIRD (phương Tây hóa - có học thức - công nghiệp hóa - giàu có - dân chủ). Hệ quả là, AI sẽ ưu tiên WEIRD "đúng đắn hơn về mặt xã hội", làm lu mờ các quan điểm khác.
"Khi một người hoặc một nhóm tương tác nhiều lần với hệ thống AI, họ bị giảm khả năng sáng tạo so với khi không có sự hỗ trợ của AI", Sourati viết trên blog.
Hiện tượng "san bằng" làm dấy lên những lo ngại trong các cơ sở giáo dục ở mọi cấp độ khi ứng dụng AI. Morteza Dehghani, giáo sư tâm lý học và khoa học máy tính tại Đại học Nam California, thành viên nhóm nghiên cứu, cho biết xu hướng này khiến mọi người "đánh mất sự đa dạng" trong cách nghĩ, lười biếng về mặt trí tuệ, gây ảnh hưởng lớn đến xã hội con người trong tương lai.
Daniel Buck, nhà nghiên cứu tại Viện Doanh nghiệp Mỹ từng là giáo viên tiếng Anh, lo ngại học sinh đang "né tránh" nhận thức khi tham gia thảo luận trên lớp và hoàn thành bài tập về nhà. "Rất nhiều kiến thức cần được học hỏi từ chi tiết nhỏ nhặt và nhàm chán hay từ những khó khăn", Buck nói. "Sinh viên chỉ ghi nhớ những gì họ thực sự dành thời gian một cách có ý thức. Nếu giao phó cho AI, họ chỉ có thể tái hiện lại một luận điểm, không thể xây dựng kỹ năng cho riêng mình".
Nhà nghiên cứu này lo ngại sinh viên nếu quá phụ thuộc vào AI sẽ tốt nghiệp mà không xây dựng được mối quan hệ với các giáo sư, cũng như thói quen làm việc trí óc bền bỉ. Nghĩa là, họ sẽ gặp khó khăn trong giải quyết vấn đề trong thế giới thực khi ra trường.
Vấn đề còn liên quan đến gian lận trong thi cử. Năm ngoái, nạn dùng AI để gian lận xảy ra ở nhiều đại học hàng đầu Hàn Quốc, như Đại học Yonsei, Đại học Quốc gia Seoul, Đại học Korea... gây tranh cãi và đặt ra thách thức về về dạy và học trong kỷ nguyên công nghệ, theo Korea Herald.
Ứng phó
Theo giáo sư triết học Sun-Joo Shin của Đại học Yale, việc kiểm soát và định hướng sử dụng AI cho học sinh là "nhiệm vụ lớn đối với bất kỳ ai tham gia giảng dạy". Bà nhấn mạnh, giáo viên/giảng viên phải liên tục tìm tòi các phương pháp để đảm bảo sinh viên tiếp tục tư duy phản biện và sáng tạo trong thời đại trí tuệ nhân tạo.
"Tôi muốn sinh viên của mình hiểu nội dung bài học - thứ vốn không thay đổi trước và sau khi trí tuệ nhân tạo xuất hiện", bà nói. "Tôi muốn họ sử dụng công cụ thú vị này để có lợi cho mình, không phải trở thành nạn nhân của nó".
Đại học Yale hiện đưa ra hướng dẫn về sử dụng AI cho sinh viên và giảng viên trên website. Trường khuyến khích tất cả giảng viên điều chỉnh giáo án phù hợp với khóa học và mục tiêu học tập cụ thể của sinh viên thay vì cần đến công cụ phát hiện gian lận. Bên cạnh đó, họ có thể kiểm soát bài học trên lớp thông qua các bài kiểm tra đột xuất.
Danny Liu, giáo sư công nghệ giáo dục tại Đại học Sydney, cho rằng không nên cấm AI trong lớp. "Thay vì trừng phạt, nên dạy sinh viên cách sử dụng đúng đắn. Chúng tôi muốn xác minh liệu sinh viên có đang học hay không, chứ không phải liệu họ có gian lận hay không", Liu nói với ABC cuối năm ngoái.
Các nhà giáo dục nhấn mạnh, họ có thể tìm cách khắc phục việc sinh viên sử dụng AI trong các bài đánh giá. Tuy nhiên, điều quan trọng không kém là học sinh cần chủ động hạn chế phụ thuộc vào AI trong quá trình học tập.
Basil Ghezzi, sinh viên năm nhất tại trường Bard College, cho biết bản thân chủ động tránh xa AI trong học tập, một phần vì công nghệ này tiêu tốn tài nguyên và gây hại cho môi trường. Tuy nhiên, phần lớn nằm ở cách AI đã tạo ra "những người bạn rập khuôn" xung quanh.
"Hãy nói chuyện với thầy cô giáo, nói chuyện với giáo sư, nói chuyện với những người xung quanh", Ghezzi nói về cách bản thân không bị AI cám dỗ. "Hãy tạo cuộc trò chuyện ý nghĩa với những người trong cuộc sống của bạn".
GS Dehghani hy vọng nhiều công ty sẽ đầu tư vào mô hình AI có thể phản ánh sự đa dạng về tư duy trong xã hội. Tuy nhiên, hiện tại, ông cho rằng mọi người nên hạn chế dùng AI trong việc tạo ý tưởng hoặc để suy luận trong học tập. "Các mô hình AI nên là cộng tác viên, không phải người đại diện chúng ta làm mọi việc", Dehghani nói thêm.
Bảo Lâm tổng hợp
Nỗi sợ siêu AI của một số sinh viên Harvard, MIT
Jensen Huang: 'Sẽ chọn khoa học vật lý nếu là sinh viên'
Nạn sinh viên 'ma' tạo bằng AI khiến đại học Mỹ đau đầu
Nguồn: https://vnexpress.net/ai-dang-khien-sinh-vien-na-na-nhau-the-nao-5060802.html
