Trong nghiên cứu mới công bố trên International Journal of Osteoarchaeology, dựa trên phân tích di hài người tiền sử tại Việt Nam, nhóm nhà khoa học Úc – Việt Nam – New Zealand – Nhật Bản phát hiện dấu vết của một nhóm bệnh có biểu hiện “tương tự giang mai” đã tồn tại từ hàng nghìn năm trước và đặc biệt có thể lây truyền từ mẹ sang con.
Nghiên cứu đã phân tích 309 bộ hài cốt từ 16 địa điểm khảo cổ, có niên đại từ khoảng 10.000 đến 1.000 năm trước. Trong số này, ba bộ hài cốt trẻ em, khoảng 2,5 đến 18 tuổi, cho thấy những dấu hiệu rõ rệt của bệnh lý.
Theo công bố, các di hài này được tìm thấy tại miền Bắc và miền Nam nước ta, có niên đại khoảng 4.100 đến 3.300 năm trước.
Qua phân tích X-quang và cấu trúc xương, các nhà nghiên cứu phát hiện những tổn thương đặc trưng ở xương và bất thường ở răng, dấu hiệu điển hình của nhóm bệnh xoắn khuẩn đặc hữu treponematosis. Nhóm bệnh này bao gồm giang mai, ghẻ cóc (yaws), bejel và pinta.
Điểm đáng chú ý là các dấu hiệu trên không hoàn toàn phù hợp với giang mai cổ điển, mà nhiều khả năng là một dạng bệnh không lây qua đường tình dục, chẳng hạn như ghẻ cóc.
Trước đây giới khoa học cho rằng chỉ giang mai mới có thể lây truyền từ mẹ sang con (giang mai bẩm sinh). Chính giả định này đã củng cố giả thuyết bệnh xuất hiện muộn trong lịch sử nhân loại.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy các bệnh do xoắn khuẩn đặc hữu treponematosis không lây qua đường tình dục cũng có thể truyền từ mẹ sang thai nhi. Điều này làm thay đổi cách hiểu về các bằng chứng khảo cổ học trước đây.
Tiến sĩ Melandri Vlok, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết phát hiện này cho thấy cần xem xét lại nhiều trường hợp từng được chẩn đoán là giang mai bẩm sinh trong quá khứ.
Từ lâu, giả thuyết “Columbus mang giang mai từ Tân Thế giới về châu Âu” được xem là một trong những nền tảng quan trọng trong lịch sử y học. Tuy nhiên, nếu các bệnh tương tự đã tồn tại ở châu Á từ hàng nghìn năm trước, giả thuyết này có thể không còn chính xác.
Nhà nghiên cứu Nicola Czaplinski nhận định rằng phát hiện mới cho thấy giới khoa học vẫn còn rất xa mới có thể giải mã hoàn toàn nguồn gốc của giang mai.
Không chỉ là câu chuyện về quá khứ, nghiên cứu này còn có ý nghĩa quan trọng đối với y học hiện đại. Việc hiểu rõ cách các bệnh truyền nhiễm tiến hóa và lây lan qua thời gian có thể giúp cải thiện chẩn đoán và điều trị ngày nay.
Đặc biệt, phát hiện về khả năng lây truyền bẩm sinh ở các bệnh không lây qua đường tình dục có thể buộc các nhà khoa học phải đánh giá lại dữ liệu bệnh học trong cả hiện tại và quá khứ.
Dù mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, phát hiện từ Việt Nam cũng cho thấy còn rất nhiều khoảng trống trong hiểu biết về lịch sử bệnh tật của loài người. Những gì được tìm thấy chỉ là một phần nhỏ trong bức tranh lớn về tiến hóa của các bệnh truyền nhiễm.
Trong khi đó, các nhà khoa học tiếp tục mở rộng nghiên cứu sang nhiều khu vực khác, với hy vọng một ngày nào đó có thể trả lời câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng đầy phức tạp: giang mai thực sự bắt nguồn từ đâu.
Bác sĩ Keiko Amano là thành viên Hội đồng quản trị của Hiệp hội Y học Giới tính Nhật Bản. Sau khi tốt nghiệp khoa Y, Đại học Tokyo năm 1967, bà đóng vai trò nòng cốt trong việc thành lập phòng khám ngoại trú dành cho phụ nữ đầu tiên tại một bệnh viện công vào năm 2002. Từ năm 2009, bà phụ trách phòng khám ngoại trú dành cho phụ nữ tại Bệnh viện Seifuso, tỉnh Saitama, và hiện là cố vấn đặc biệt tại đây. Bà cũng là tác giả của một số cuốn sách như "Nội tiết tố nữ quyết định cuộc đời người phụ nữ".
Dù đã ở tuổi 80, bác sĩ Amano vẫn duy trì nhịp làm việc đều đặn tại phòng khám. Bà tin rằng bản thân vẫn có thể hoạt động bền bỉ và giữ được thể trạng tốt là nhờ đặc biệt chú trọng đến chế độ ăn uống, vận động, giấc ngủ và duy trì một lối sống điều độ.
Bà Amano kể từ thời thơ ấu đã rèn được thói quen thức dậy vào khoảng 4-5h và đi ngủ lúc 20-21h. Gần đây, bà thường bị tỉnh giấc do ảnh hưởng của chứng tiểu đêm ở người cao tuổi nhưng chấp nhận điều đó như một quy luật tự nhiên của lão hóa. Theo bác sĩ, không nên quá lo lắng về thời lượng ngủ. Người cao tuổi chỉ cần ngủ bất cứ khi nào cơ thể cho phép, thậm chí có thể dậy đọc sách hoặc uống chút đồ ấm nếu không thể ngủ tiếp ngay lập tức.
Mỗi buổi sáng sau khi thức dậy, bà Amano luôn dành 15 phút ngâm mình trong bồn nước nóng từ 41 đến 42 độ C. Thói quen này giúp tăng thân nhiệt lên 1-2 độ, thúc đẩy tuần hoàn máu và làm mềm các khớp xương trước khi bắt đầu ngày mới. Theo bác sĩ Amano, duy trì thân nhiệt trên 36,5 độ C là chìa khóa để hệ miễn dịch hoạt động hiệu quả. Ngược lại, tình trạng cơ thể bị lạnh thường xuyên sẽ dẫn đến hàng loạt hệ lụy như đau khớp, mệt mỏi, táo bón và rối loạn thần kinh thực vật. Đặc biệt với phụ nữ trung niên và cao tuổi, những người vốn có ít cơ bắp và khả năng sinh nhiệt kém hơn nam giới, các liệu pháp làm ấm cơ thể là vô cùng cần thiết.
Bà chia sẻ sở dĩ chọn chuyên ngành chăm sóc sức khỏe phụ nữ là bởi từng trải qua giai đoạn tiền mãn kinh khó khăn từ năm 48 đến 59 tuổi. Lúc đó, cơ thể bà lúc nào cũng thấy lạnh buốt. Bà thường xông hơi khô ở nhiệt độ thấp để cải thiện nhưng sau khi nuôi mèo không còn nhiều thời gian nên đã chuyển sang liệu pháp ngâm bồn. Để đạt hiệu quả tương đương, bà tắm 2 lần mỗi ngày. Buổi tối, bà ngâm mình trong nước ấm vừa phải (40-41°C) để kích hoạt hệ thần kinh phó giao cảm, giúp đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn. Sau mỗi lần tắm sáng và tối, bác sĩ luôn uống một cốc nước ấm để làm ấm các cơ quan nội tạng và thúc đẩy lưu thông máu. Bà cũng luôn mang theo nước ấm bên mình và uống thường xuyên ngay cả khi chưa thấy khát.
Chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quyết định trong việc cải thiện thể chất của nữ bác sĩ. Sau khi phát hiện các dấu hiệu cao huyết áp và tiểu đường nhẹ ở tuổi 75, bà đã chuyển sang thực đơn giàu thực vật với món súp rau củ không gia vị. Món súp gồm hành tây, cà rốt, bắp cải, bí đỏ và các loại rau theo mùa như bông cải xanh hay nấm được ninh kỹ để tận dụng vị ngọt tự nhiên. Chính việc cắt giảm muối thông qua thói quen ăn nhạt này đã giúp huyết áp của bà trở lại mức bình thường. Bên cạnh đó, bà cũng chú trọng bổ sung protein từ trứng, cá và đậu phụ để bù đắp lượng cơ bắp và mật độ xương vốn dễ bị suy giảm sau tuổi 50.
Bác sĩ Amano muốn tiếp tục làm nghề y cho đến năm 100 tuổi nên không chỉ chú trọng dinh dưỡng, bà còn duy trì tập luyện với huấn luyện viên cá nhân hai lần mỗi tuần trong suốt 7 năm qua. Mục tiêu của bà là cải thiện tính linh hoạt của khớp và tăng cường khối lượng cơ để bảo vệ khung xương. Những bài tập tự chăm sóc tại nhà như xoay cổ chân và ngón chân cũng được bà thực hiện thường xuyên để giữ cho cơ thể luôn linh hoạt.
Từ trải nghiệm cá nhân về việc thay đổi nội tiết và những phản ứng của cơ thể với thuốc khi về già, bác sĩ Amano rút ra bài học về sự nhạy cảm đối với các tín hiệu của cơ thể. Ngày nay, cứ hai phụ nữ thì có một người sống thọ trên 90 tuổi. Trong bối cảnh đó, bà cho rằng điều quan trọng nhất là tận hưởng mỗi ngày một cách thoải mái bằng cách từ bỏ những áp lực không cần thiết và chuyện vụn vặt gây lãng phí thời gian. Những bất ổn nhỏ trong sức khỏe không nên là nỗi lo sợ mà cần được nhìn nhận như những "tín hiệu" để điều chỉnh lối sống sao cho phù hợp và trân trọng bản thân hơn.
"Việt Nam có nền y học cổ truyền lâu đời nhưng tỷ trọng khám chữa bệnh bằng phương pháp này còn thấp. Mỗi năm cả nước có khoảng 195 triệu lượt khám chữa bệnh BHYT với tổng chi hơn 160.000 tỷ đồng, song chi cho y học cổ truyền chỉ chiếm khoảng 3,3%", bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Bảo hiểm Y tế (Bộ Y tế), nói tại Hội thảo về nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh BHYT trong lĩnh vực y, dược cổ truyền, chiều 29/5 tại Hà Nội.
Bà Trang cho hay chủ trương của Đảng và Nhà nước là bảo tồn, kế thừa và phát triển y học cổ truyền, đồng thời kết hợp bình đẳng giữa y học cổ truyền và y học hiện đại. Việc sử dụng cụm từ "kết hợp giữa y học cổ truyền và y học hiện đại" trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh nhằm thể hiện tính tương tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nền y học, thay vì coi y học cổ truyền chỉ là phần bổ trợ.
Thông tư 01/2025 cũng bổ sung nhiều bệnh mạn tính và bệnh cần kỹ thuật chuyên sâu như châm cứu, phục hồi chức năng vào danh mục được chuyển tuyến điều trị. Tuy vậy, Bộ Y tế thừa nhận vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là việc cập nhật danh mục bệnh còn chậm, một số chuyên khoa sâu của y học cổ truyền chưa được đưa vào đầy đủ.
Về dịch vụ kỹ thuật, Bộ Y tế đánh giá y học cổ truyền có lợi thế khi hầu như không bị khống chế tỷ lệ thanh toán BHYT như thuốc. Tuy nhiên, nhiều kỹ thuật hiện có mức giá thanh toán thấp, chưa tương xứng với công sức đào tạo và kinh nghiệm chuyên môn của đội ngũ thầy thuốc.
Hiện tỷ lệ bao phủ BHYT đã vượt 97% dân số trong quý I/2026, được xem là nền tảng tài chính quan trọng để mở rộng tiếp cận y học cổ truyền, đặc biệt tại tuyến xã và y tế cơ sở. Theo Thông tư 05, BHYT hiện thanh toán cho 222 vị thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và 349 vị thuốc cổ truyền. Tuy nhiên, nhu cầu bổ sung các thuốc và dược liệu mới đang gia tăng. Bộ Y tế cho biết đang tiếp nhận hồ sơ đề xuất đưa thêm 94 loại thuốc và 5 dược liệu mới vào danh mục được BHYT chi trả. Ngoài ra, cơ quan này cũng nghiên cứu điều chỉnh cơ chế thanh toán đối với các dịch vụ như châm cứu, điều trị nội trú ban ngày và phục hồi chức năng.
"Chìa khóa để đưa y học cổ truyền đến gần người dân hơn là tích hợp các dịch vụ kỹ thuật và bài thuốc cổ truyền chính thống vào danh mục chi trả toàn diện của BHYT quốc gia", bà Trang nói.
Tại hội nghị, Thứ trưởng thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà cho biết mạng lưới khám chữa bệnh y học cổ truyền thời gian qua tiếp tục được củng cố. Hiện cả nước có 5 bệnh viện y học cổ truyền trực thuộc Bộ và các bộ, ngành; 61 bệnh viện tuyến tỉnh cùng 10 bệnh viện tư nhân. Ông đề nghị ngành y tế đánh giá toàn diện thực trạng khám chữa bệnh BHYT trong lĩnh vực y dược cổ truyền, làm rõ những kết quả đạt được, khó khăn, vướng mắc cũng như yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới.
Theo lãnh đạo Bộ Y tế, cần tiếp tục nâng cao chất lượng chuyên môn, hiệu quả sử dụng Quỹ BHYT, đồng thời tăng cường kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại nhằm giúp người bệnh tiếp cận dịch vụ an toàn, thuận lợi và hiệu quả hơn.
Hôm 12/5, WHO cập nhật thông tin dịch tễ trên mạng xã hội X, xác định 9 ca dương tính và 2 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh. Những người này đều sinh hoạt trên tàu MV Hondius với tư cách hành khách hoặc thủy thủ đoàn. Dựa vào diễn biến thực tế và thời gian ủ bệnh, cơ quan y tế dự báo số ca mắc tiếp tục tăng, đồng thời khuyến cáo người rời tàu cách ly 42 ngày tại nhà hoặc cơ sở y tế.
Giải thích nguyên nhân rủi ro cộng đồng ở mức thấp tại cuộc họp báo ngày 7/5, Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus khẳng định cơ chế lây lan của Hantavirus hoàn toàn khác biệt so với nCoV hay virus cúm. Tiến sĩ Maria Van Kerkhove, Giám đốc bộ phận Quản lý Dịch bệnh và Đại dịch của WHO, nói: "Đây không phải là Covid-19 hay cúm bởi cơ chế lây lan của nó hoàn toàn khác biệt. Trong các đợt bùng phát virus Andes trước đây, việc lây truyền từ người sang người chủ yếu chỉ xảy ra giữa những người có tiếp xúc gần".
Theo các chuyên gia, khác với khả năng lây lan qua không khí mạnh mẽ của Covid-19, Hantavirus chủ yếu truyền từ động vật gặm nhấm sang người qua chất thải. Dù có tỷ lệ tử vong cao hơn, loại virus này khó có thể gây đại dịch do khả năng lây truyền giữa người với người cực kỳ hạn chế.
Tờ Newsweek hôm 8/5 dẫn lời giáo sư Vincent Racaniello, chuyên gia về Vi sinh và Miễn dịch học tại Đại học Columbia, giải thích chìa khóa của việc lây truyền nằm ở chỗ virus được phát tán ngay trong giai đoạn ủ bệnh và giai đoạn không triệu chứng. "Virus cúm và SARS-CoV-2 làm việc này rất tốt. Còn với Hantavirus, rào cản lớn nhất của nó chính là khả năng lây truyền từ người sang người một cách hiệu quả", giáo sư cho hay.
Các chuyên gia cho biết Hantavirus không dễ lây lan và chỉ lây khi người bệnh xuất hiện các triệu chứng. Với hầu hết người bị nhiễm, virus sẽ ủ bệnh trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần, thậm chí 8 tuần trong một số trường hợp, trước khi các triệu chứng bắt đầu phát tác. Tuy nhiên, một khi triệu chứng xuất hiện, người bệnh sẽ trở nặng nhanh. Đây chính là lúc độc lực cao lại vô tình trở thành lợi thế cho việc khoanh vùng dịch bệnh.
"Những mầm bệnh dễ gây đại dịch toàn cầu nhất thường là những loại 'ẩn mình' giỏi, khiến người bệnh vẫn thấy đủ khỏe để đi lại và giao lưu trong lúc họ đang phát tán virus", bà Zoe Weiss, Giám đốc khoa Vi sinh tại Trung tâm Y tế Tufts, Mỹ, chia sẻ.
Bà ví dụ Covid-19 có thể lây lan ngay cả khi người bệnh chưa có biểu hiện gì hoặc chỉ bị ốm nhẹ. Chính việc bệnh nhân không biết mình đang mang mầm bệnh mà vẫn sinh hoạt bình thường đã khiến việc ngăn chặn dịch trở nên cực kỳ khó khăn.
Nhưng Hantavirus thì khác. Theo ông Marc Lipsitch, giáo sư Y khoa và Sinh học tại Đại học Stanford, đồng thời là chuyên gia dịch tễ học bệnh truyền nhiễm, mặc dù cần theo dõi sát sao đợt dịch trên du thuyền Hondius nhưng loại virus này vẫn có những hạn chế căn bản. "Việc lây truyền nó từ người này sang người khác là cực kỳ khó khăn", ông Lipsitch nhận định.
Song nhiều chuyên gia khác vẫn có quan điểm thận trọng cao độ. Nhóm tác giả bài viết trên tạp chí BMJ hôm 12/5 lập luận WHO cần thay đổi cách ứng phó mặc định. Họ chỉ ra khái niệm "tiếp xúc gần" thực chất phản ánh việc con người hít phải các hạt bụi mịn đậm đặc chứa virus tỏa ra từ hơi thở người bệnh. Việc Hantavirus thường xuyên lây lan trong phòng kín, nơi đông người hoặc phương tiện giao thông đã chứng minh mầm bệnh có thể phát tán qua không khí.
Do đó, nhóm chuyên gia đề xuất y bác sĩ, người bệnh và người tiếp xúc gần đồng loạt sử dụng mặt nạ phòng độc. Họ yêu cầu các cơ sở y tế tối ưu hóa hệ thống thông gió, tránh tái tuần hoàn không khí chưa qua bộ lọc và vận hành máy lọc HEPA tại khu vực cách ly.
Nhóm nghiên cứu thúc giục WHO coi chủng Andes như một tác nhân lây qua không khí và chỉ nới lỏng biện pháp phòng dịch khi giới khoa học cung cấp đầy đủ bằng chứng an toàn.
Ngày 2/5, giới chức y tế phát hiện ca nhiễm Hantavirus đầu tiên trên du thuyền MV Hondius. Các chuyên gia xác định tác nhân gây bệnh là virus Andes, chủng Hantavirus duy nhất sở hữu khả năng lây truyền trực tiếp từ người sang người. Mầm bệnh này mang độc lực mạnh với tỷ lệ tử vong lên đến 50%, đe dọa trực tiếp nhóm hành khách có độ tuổi trung bình 65 trên chuyến tàu. Cơ quan y tế quốc gia sở tại hiện giám sát sức khỏe chặt chẽ toàn bộ hành khách cùng thủy thủ đoàn nhằm khống chế đợt bùng phát.