Báo Wall Street Journal (WSJ) ngày 15-4 đưa tin Lầu Năm Góc đang tiếp cận các nhà sản xuất ô tô và nhiều nhà sản xuất khác ở Mỹ để kêu gọi họ sản xuất vũ khí.
Theo các nguồn thạo tin, các quan chức quốc phòng cấp cao đã tổ chức các cuộc đàm phán về việc sản xuất vũ khí và các vật tư quân sự khác với các giám đốc điều hành (CEO) của một số công ty, bao gồm bà Mary Barra – CEO của Hãng ô tô General Motors và ông Jim Farley – CEO của Hãng Ford Motor.
Lầu Năm Góc huy động các công ty nói trên sử dụng nguồn nhân lực và năng lực sản xuất để tăng cường sản xuất đạn dược và các thiết bị khác, trong bối cảnh các cuộc chiến ở Ukraine và Iran đang làm cạn kiệt vũ khí.
Theo các nguồn tin, các cuộc đàm phán vẫn còn ở giai đoạn sơ bộ và bao quát nhiều vấn đề. Các quan chức quốc phòng cho biết có thể cần các nhà sản xuất Mỹ hỗ trợ các công ty quốc phòng truyền thống, và đặt câu hỏi liệu các công ty này có thể nhanh chóng chuyển sang lĩnh vực quốc phòng hay không.
Công ty linh kiện máy bay GE Aerospace và nhà sản xuất xe máy chuyên dùng Oshkosh cũng tham gia cuộc đàm phán nói trên.
Một quan chức Lầu Năm Góc cho biết Bộ Chiến tranh “cam kết nhanh chóng mở rộng cơ sở công nghiệp quốc phòng bằng cách tận dụng tất cả các giải pháp và công nghệ thương mại hiện có để đảm bảo lực lượng chiến đấu của Mỹ duy trì lợi thế quyết định”.
Báo WSJ dẫn các nguồn tin cho biết những cuộc đàm phán đã bắt đầu trước khi chiến tranh ở Iran nổ ra. Việc xung đột gây áp lực lên kho dự trữ đạn dược của Mỹ càng cho thấy quân đội cần thêm các đối tác thương mại để nhanh chóng tăng cường nguồn cung cấp đạn dược và trang thiết bị chiến thuật, chẳng hạn như tên lửa và công nghệ chống máy bay không người lái (drone).
Theo nguồn tin, các quan chức đã hỏi liệu các công ty có thể hỗ trợ gì trong nỗ lực tăng cường năng lực sản xuất trong nước của Lầu Năm Góc. Họ cũng yêu cầu các CEO xác định những rào cản đối với việc đảm nhận thêm các dự án quốc phòng, từ các yêu cầu hợp đồng đến những khó khăn trong quá trình đấu thầu.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Khi tuyên bố phát động chiến dịch không kích Iran ngày 1/3, Tổng thống Donald Trump tuyên bố quá trình này sẽ kéo dài "khoảng 4 tuần hoặc ngắn hơn", khẳng định Mỹ "không gặp khó khăn" khi cùng Israel tấn công quốc gia Hồi giáo. Washington tin rằng việc tập kích cơ sở hạt nhân, kho tên lửa và hạ sát lãnh đạo Iran sẽ khiến đối phương nhanh chóng suy yếu.
Tuy nhiên, dù hứng chịu tổn thất nặng nề, Iran vẫn duy trì năng lực phản công và phong tỏa eo biển Hormuz để gây sức ép ngược lên Mỹ và đồng minh. Washington và Tehran đã ngừng bắn để hòa đàm, nhưng triển vọng về một thỏa thuận vẫn chưa rõ ràng và nguy cơ xung đột tái bùng phát vẫn hiện hữu.
Cục diện này ngày càng giống cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine. Nga tháng 2/2022 mở chiến dịch tại Ukraine, kỳ vọng "đánh nhanh, thắng nhanh" và cũng vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ từ đối thủ. Moskva sau đó chuyển hướng sang tập trung kiểm soát các vùng lãnh thổ ở miền nam và đông Ukraine.
"Mỹ nguy cơ bị cuốn vào một cuộc chiến không có lối thoát rõ ràng, như những gì Nga đang trải qua ở Ukraine", James Jeffrey, nhà nghiên cứu tại Viện Washington về Chính sách Cận Đông, bình luận trên Foreign Affairs.
Những chiến thuật tương đồng
Mỹ và Nga đều có ưu thế quân sự vượt trội so với đối thủ, nhưng giống Ukraine, Iran cho thấy khả năng duy trì chiến tranh bằng chiến thuật phi đối xứng và sức chịu đựng dài hạn.
Iran trả đũa Mỹ bằng cách dùng máy bay không người lái (UAV) tập kích vào hạ tầng năng lượng các nước đồng minh của Washington tại vùng Vịnh. Đây cũng là một trong những công cụ mà Tehran dùng để gây sức ép tại Hormuz, tuyến hàng hải chiến lược vận chuyển 20% nguồn cung dầu của thế giới trong thời bình.
Trong khi đó, Ukraine liên tục tập kích các cơ sở dầu khí, kho nhiên liệu và hạ tầng quân sự Nga bằng UAV tầm xa. Kiev cũng dùng xuồng không người lái để làm suy yếu Hạm đội Biển Đen của Moskva.
Hai cuộc chiến cho thấy công nghệ đang tái định hình chiến tranh hiện đại thế nào. Mỹ được cho là đã triển khai các hệ thống phát hiện UAV tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để bảo vệ căn cứ không quân Prince Sultan ở Arab Saudi. Những hệ thống này do Ukraine phát triển để tự vệ trước các cuộc tấn công của Nga.
Michael Kofman, chuyên gia quân sự tại Viện Carnegie vì Hòa bình Quốc tế, cho rằng các hệ thống phòng thủ nhiều lớp như vậy "nhiều khả năng sẽ sớm xuất hiện trên toàn thế giới".
Nga và Iran còn áp dụng nhiều chiến thuật tác chiến tương tự trên chiến trường. Trước khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực hồi đầu tháng 4, Iran thường tập kích các mục tiêu bằng cách kết hợp bầy UAV với tên lửa đạn đạo, phương thức mà Nga đã phát triển mạnh trong chiến sự Ukraine.
Iran xác nhận đã chuyển giao UAV tự sát Shahed cho Nga từ năm 2022 và Moskva dùng chúng để tập kích Ukraine. Hiện nay, Nga bị nghi hỗ trợ ngược cho Iran về công nghệ UAV và tác chiến điện tử.
Nicole Grajewski, chuyên gia về Iran và Nga tại Đại học Sciences Po, Pháp cho biết Moskva và Tehran có "một số hợp tác" trong việc gây nhiễu hệ thống dẫn đường của đối phương.
Một số tàu liên quan đến Iran gần đây dường như đã giả mạo tín hiệu định vị tại eo biển Hormuz, tương tự chiến thuật lâu nay mà "hạm đội bóng tối" được cho là chuyên vận chuyển dầu Nga thường sử dụng để né lệnh trừng phạt phương Tây.
Thiết bị chống gây nhiễu của Nga đã được phát hiện trong một UAV Iran nhắm vào căn cứ Anh tại Cyprus hồi tháng 3. Giới chức châu Âu lo ngại Nga có thể cung cấp thêm vũ khí cho Iran nếu tiến trình hòa đàm bị đình trệ.
"Chúng tôi đã thấy bằng chứng cho thấy Nga hỗ trợ Iran trong các cuộc tấn công của họ", Bộ trưởng Quốc phòng Anh John Healey phát biểu hồi tháng 4 tại cuộc họp của các đồng minh đang hỗ trợ quân sự cho Ukraine. Ông không nêu chi tiết bằng chứng, nhưng thêm rằng "Tổng thống Putin muốn chúng ta bị phân tâm bởi xung đột ở Trung Đông".
Những hệ quả đan xen
Chiến sự Trung Đông đã làm rạn nứt một số liên minh, rõ ràng nhất là giữa Mỹ và châu Âu, nơi nhiều nước cho rằng cuộc xung đột với Iran là không cần thiết và trái luật pháp quốc tế. Diễn biến cũng châm ngòi cho cuộc chạy đua tìm kiếm nguồn năng lượng trên toàn cầu, khi một số quốc gia tìm đến Nga để mua dầu.
"Tôi tin rằng Điện Kremlin đã ăn mừng khi Tổng thống Trump bắt đầu cuộc chiến với Iran", Danylo Lubkivsky, giám đốc Diễn đàn An ninh Kiev và cựu thứ trưởng ngoại giao Ukraine, nói.
Tuy nhiên, chiến sự Iran cũng tạo ra những liên minh mới, như mối quan hệ đối tác mà Ukraine xây dựng với các nước vùng Vịnh. Tháng 4, Ukraine công bố các thỏa thuận an ninh mới với Qatar, Arab Saudi và Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất. Những mối quan hệ như vậy khó có thể xuất hiện vài năm trước, khi vùng Vịnh còn muốn duy trì thế trung lập với Nga.
Theo Jana Kobzova, đồng giám đốc Chương trình An ninh châu Âu tại Hội đồng châu Âu về Quan hệ Đối ngoại, Kiev muốn trao đổi công nghệ UAV và hỗ trợ huấn luyện quân sự để đổi lấy hậu thuẫn ngoại giao từ Trung Đông, các thỏa thuận năng lượng và hệ thống phòng không tiên tiến.
Tổng thống Volodymyr Zelensky đang hy vọng "biến cuộc khủng hoảng này thành cơ hội", bà Kobzova nói. Các thỏa thuận với những quốc gia giàu dầu mỏ có thể mang lại nguồn lợi lớn cho ngành công nghiệp quốc phòng đang phát triển nhanh của Ukraine.
Châu Âu đã trở thành "phao cứu sinh" cho Ukraine, sau khi Mỹ ngừng hầu hết viện trợ vũ khí và thiết bị cho Kiev năm ngoái. Các nước châu Âu đã mua vũ khí từ Mỹ để chuyển cho Ukraine. Tháng 4, Liên minh châu Âu (EU) mở khóa khoản vay 90 tỷ euro (khoảng 106 tỷ USD) nhằm hỗ trợ Ukraine trong cuộc chiến.
Tuy nhiên, khả năng EU tiếp tục hỗ trợ Ukraine đến đâu còn phụ thuộc vào việc tình trạng thiếu nhiên liệu và hàng hóa do chiến sự Iran gây ra có làm suy yếu nền kinh tế châu Âu hay không.
Riccardo Alcaro, chuyên gia tại Viện Quan hệ Quốc tế, cho rằng tình trạng bế tắc kéo dài ở Hormuz cho thấy Iran có thể trở thành mối đe dọa với châu Âu nghiêm trọng không kém cuộc chiến ngay sát sườn ở Ukraine.
"Chiến sự Ukraine vẫn là mặt trận chính của châu Âu", ông Alcaro nói. "Nhưng cuộc chiến Iran không phải mặt trận thứ yếu, bởi nó thực sự tác động rất lớn tới khả năng châu Âu tập trung cho ưu tiên hàng đầu của mình, đó là Ukraine".
Tin Gốc: Vnexpress
Thế Giới
Tình hình Iran, Trung Đông mới nhất ngày 19.4: Eo biển Hormuz cực kỳ căng thẳng

Tin Gốc: Thanh Niên
Thế Giới
Kỳ vọng về hợp tác Việt - Trung sau chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm

"Một trong những thành quả trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là tin cậy chính trị đi vào chiều sâu hơn nữa, cho thấy rõ nét tính đặc thù và trình độ cao của quan hệ hai nước", Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hà Vĩ cho biết sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc ngày 14-17/4 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Đại sứ chỉ ra đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của lãnh đạo cao nhất sau khi Việt Nam kiện toàn ban lãnh đạo cấp cao sau Đại hội XIV của Đảng. Đây cũng là lần đầu tiên có nguyên thủ nước ngoài đến thăm Khu mới Hùng An, một đô thị tương lai của Trung Quốc.
Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là lãnh đạo nước ngoài đầu tiên đi đường sắt cao tốc của Trung Quốc với thời gian hơn 10 tiếng, qua 5 tỉnh với lộ trình 2.500 km. "Chuyến thăm sẽ trở thành mốc son mới trong lịch sử hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc và có ảnh hưởng sâu sắc cho quan hệ song phương lẫn khu vực", ông Hà Vĩ nói.
Sau chuyến thăm, hai bên đã ra tuyên bố chung về tiếp tục làm sâu sắc quan hệ, thúc đẩy hợp tác trên 6 lĩnh vực để phát triển tốt quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong thời kỳ mới.
Đại sứ Hà Vĩ cho biết trong các tuyên bố chung giữa hai nước giai đoạn 2023-2026, cách diễn đạt cụ thể về xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có thay đổi từ xây dựng sang đẩy nhanh xây dựng và giờ là xây dựng ở mức độ cao hơn.
"Đây không phải là việc tăng thêm từ ngữ, mà cho thấy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc không ngừng đi vào chiều sâu, đồng thời cho thấy tính chính xác, ổn định và liên tục của con đường phát triển XHCN mà hai nước cùng nhau lựa chọn", ông nói.
Hợp tác chính trị, an ninh - quốc phòng
Theo Đại sứ Hà Vĩ, Việt Nam - Trung Quốc năm qua "tiếp xúc cấp cao với tần suất chưa từng có" và đã lần đầu tiên tổ chức thành công nhiều hội nghị trong cơ chế song phương, trong đó nổi bật là đối thoại chiến lược 3+3 cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Quốc phòng, Công an. "Đây là nền tảng trao đổi chiến lược quan trọng được Việt Nam và Trung Quốc khởi xướng đầu tiên trên thế giới", ông nói.
PGS. TS. Nguyễn Minh Hoàn, trưởng Khoa Triết học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đánh giá cơ chế 3+3 cấp bộ trưởng "là bước phát triển mới trong hợp tác kết nối chiến lược ở tầm cao hơn" giữa Việt Nam và Trung Quốc.
"Điều này cho thấy quan hệ song phương không còn chỉ dựa vào thiện chí chính trị hay các khuôn khổ hợp tác phân tán, mà đã chuyển sang giai đoạn được vận hành bằng những cơ chế phối hợp thực chất, đồng bộ giữa các trụ cột then chốt của nhà nước, qua đó từng bước hình thành quá trình cấu trúc hóa tin cậy như trong định hướng '6 hơn' đã đề ra", ông Hoàn cho biết.
Định hướng "6 hơn" trong quan hệ Việt - Trung bao gồm tin cậy chính trị cao hơn, hợp tác quốc phòng - an ninh thực chất hơn, hợp tác thực chất sâu sắc hơn, nền tảng xã hội vững chắc hơn, phối hợp đa phương chặt chẽ hơn và bất đồng được kiểm soát và giải quyết tốt hơn.
Theo chuyên gia này, điểm mới căn bản là lần đầu tiên lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng và an ninh được đặt trong cấu trúc phối hợp tổng thể, "phản ánh sự chuyển dịch từ niềm tin chính trị mang tính tuyên bố sang niềm tin được thể chế hóa và có khả năng vận hành trong thực tiễn".
Cơ chế 3+3 đóng vai trò điều tiết chiến lược, hạn chế hiểu lầm, kiểm soát căng thẳng và củng cố tin cậy chính trị theo hướng bền vững, đồng thời giải phóng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển để hai nước tập trung nhiều hơn cho các mục tiêu phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, kết nối hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực.
Hợp tác đường sắt thành điểm tựa then chốt
Trong tuyên bố chung được công bố sau chuyến thăm, Việt Nam và Trung Quốc nhất trí tăng cường kết nối chiến lược phát triển, đưa hợp tác đường sắt trở thành điểm sáng mới trong hợp tác chiến lược giữa hai nước.
Đại sứ Hà Vĩ nhận định Việt - Trung đã đạt thành quả hợp tác thực chất nhiều chưa từng có, với tổng kim ngạch thương mại song phương đạt kỷ lục mới, vượt 250 tỷ USD. Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất, cũng như thị trường xuất khẩu lớn nhất của hàng nông sản và thủy sản Việt Nam.
Số lượng và quy mô đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam tiếp tục giữ vị trí số một và số hai, nhiều dự án hợp tác kết nối hạ tầng như ba tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn kết nối hai nước: Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Đồng Đăng - Hà Nội, và Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng được thúc đẩy.
Theo Đại sứ, tiêu chuẩn đường sắt của Việt Nam và Trung Quốc có sự khác biệt, phần nào hạn chế phát triển giao thương, thương mại và đi lại giữa hai nước. Do đó, hai nước nhất trí đưa việc thúc đẩy kết nối đường sắt hai nước thành đột phá chiến lược trong hợp tác kinh tế - thương mại để giải quyết bài toán khó này.
"Kết nối đường sắt giữa Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là kết nối vật lý về hạ tầng, mà còn là điểm tựa then chốt trong xây dựng cộng đồng chia sẻ tương lai", Đại sứ nhận định. "Điều này sẽ giúp tăng hiệu suất vận chuyển xuyên biên giới, nâng cao chất lượng giao thương và thương mại, giúp người dân đi lại thuận lợi và tạo ra liên kết 'núi sông liền một dải' thật sự".
Hoạt động hợp tác trên lĩnh vực này còn có thể giúp Việt Nam hoàn thiện mạng lưới đường sắt, nâng cao giá trị trong chuỗi sản xuất - cung ứng toàn cầu, đồng thời mang ý nghĩa quan trọng trong tăng cường tính bền vững của nền kinh tế tại khu vực và an ninh của chuỗi sản xuất - cung ứng.
"Dự án ba tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn là trọng tâm xây dựng đường sắt xuyên biên giới và hệ thống liên vận nhiều phương thức của hai nước", Đại sứ nói. "Hai bên cũng nỗ lực nâng cấp, xây dựng cửa khẩu thông minh, giảm thời gian và thực hiện thông quan 24/7, nâng cao hiệu suất phối hợp của chuỗi sản xuất - cung ứng".
Ông Hà Vĩ cho biết trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tìm hiểu sâu sát về tình hình phát triển của từng khu vực ở Trung Quốc và đường sắt cao tốc, đồng thời đánh giá cao sự phát triển cùng công nghệ của Trung Quốc trong lĩnh vực này. "Chúng tôi cảm nhận được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đang kỳ vọng rất cao về thúc đẩy hợp tác đường sắt cao tốc giữa hai nước", ông nói.
Cân bằng cán cân thương mại
Quy mô thương mại Việt - Trung trong một thập kỷ qua đã có bước nhảy vọt. Tính đến năm 2025, kim ngạch song phương đạt 256,5 tỷ USD, gấp gần 4 lần so với năm 2015 (xấp xỉ 66,2 tỷ USD), củng cố vị thế Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam.
Về tình trạng xuất siêu sang Việt Nam, Đại sứ Hà Vĩ cho rằng Trung Quốc cũng từng trải qua tình trạng nhập siêu tương tự trong quá trình phát triển nhanh chóng nhiều thập kỷ trước.
Theo số liệu của Cục Hải quan, trong năm 2025, Việt Nam xuất khẩu 70,4 tỷ USD sang Trung Quốc, nhập khẩu 186 tỷ USD.
"Chúng tôi hiểu xuất siêu không phải hình thức hợp tác bền vững, cũng như không muốn thúc đẩy xu hướng này", ông Hà Vĩ nói. "Trung Quốc sẽ cố gắng giảm mức độ xuất siêu sang Việt Nam, đây là nhận thức và phương hướng nỗ lực chung của hai bên".
Trung Quốc gần đây đã tăng cường mua nông sản Việt Nam. Trong tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu gần 1,5 tỷ USD nông lâm thủy sản sang Trung Quốc, chiếm hơn 22% tổng kim ngạch và tăng hơn 66% so với cùng kỳ.
Bên cạnh kinh tế - thương mại, Đại sứ nhận định sau chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, hợp tác khoa học - công nghệ giữa Việt Nam và Trung Quốc có tiềm năng rất to lớn, trong đó hai nước sẽ tiếp tục tập trung vào những lĩnh vực mới nổi như AI, y tế và năng lượng xanh.
Công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng hydrogen, đường sắt tốc độ cao, logistics thông minh và các công nghệ số phục vụ sản xuất mới là những lĩnh vực mang tính đột phá, cũng là những nút thắt nhân lực rõ nhất hiện nay.
Theo PGS. TS. Nguyễn Minh Hoàn, việc hai bên đồng thời nhấn mạnh đẩy mạnh hợp tác về giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn hóa, giao lưu nhân dân "là điểm kết nối giữa hợp tác tri thức với chiến lược phát triển, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng".
Điều này mang tới triển vọng phát triển toàn diện con người, tạo ra động lực cải cách sâu rộng đối với hệ thống giáo dục Việt Nam, cũng như đào tạo nhân lực chất lượng cao gắn trực tiếp với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển và hình thành các ngành công nghiệp mới.
"Khi hợp tác Việt - Trung ngày càng mở rộng sang các lĩnh vực này, nhân lực trở thành điều kiện tiên quyết để các dự án vận hành hiệu quả và tạo ra giá trị thực chất, do đó giáo dục - đào tạo không chỉ phục vụ phát triển, mà đang trực tiếp định hình con đường phát triển", ông Hoàn cho biết.
Thúc đẩy hợp tác giao lưu nhân văn
Đại sứ Hà Vĩ đánh giá nhịp độ giao lưu nhân văn giữa Việt Nam và Trung Quốc năm qua ở mức cao chưa từng có với nhiều hoạt động đa dạng. Năm 2025, lượng khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam đạt 5,3 triệu lượt, tăng 41,3% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 25% tổng thị phần khách quốc tế của Việt Nam. Trung Quốc quay trở lại vị trí hàng đầu trong thị trường khách quốc tế lớn nhất của Việt Nam.
Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Tổng Bí thư, Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố khởi động năm hợp tác du lịch Việt Nam - Trung Quốc.
Đại sứ Hà Vĩ cho rằng ý nghĩa của năm hợp tác du lịch Việt Nam - Trung Quốc là thông qua du lịch thúc đẩy kinh tế - thương mại, thông qua nhân văn để củng cố tình hữu nghị truyền thống, thông qua du lịch để người dân hai nước hiểu biết và gần gũi lẫn nhau, thực sự thụ hưởng thành quả phát triển từ hợp tác du lịch.
"Năm nay, chúng ta sẽ đạt bước đột phá và vượt qua điểm nghẽn, thu hút nhiều du khách Trung Quốc đến Việt Nam và ngược lại", ông bày tỏ kỳ vọng.
PGS. TS. Hoàn, người cũng là Ủy viên thường vụ Hội hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, nhận định việc Việt Nam và Trung Quốc dự kiến nghiên cứu miễn thị thực cho du khách theo đoàn tại một số địa điểm nhất định sẽ giúp giảm rào cản hành chính và chi phí đi lại, qua đó mở rộng đáng kể quy mô và tần suất tiếp xúc giữa người dân hai nước.
"Hiểu biết giữa các dân tộc không thể chỉ được hình thành qua truyền thông hay diễn ngôn chính trị, mà phải được nuôi dưỡng từ trải nghiệm thực tế, từ giao tiếp đời sống. Chính sách này giúp các nền tảng trên thấm sâu vào đời sống nhân dân, hình thành những dòng suối nhỏ góp phần cho dòng sông lớn hữu nghị lâu dài", ông nói.
Bên cạnh đó, chính sách miễn thị thực có tác động trực tiếp đối với giáo dục - đào tạo, giúp các chương trình trao đổi sinh viên, thực tập ngắn hạn, nghiên cứu chung và giao lưu học thuật giữa các cơ sở đào tạo hai nước sẽ có điều kiện phát triển linh hoạt và thực chất hơn.
"Khi nền tảng xã hội và nền tảng thể chế cùng được củng cố, cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc mới có thể trở thành một thực thể có chiều sâu chiến lược và sức sống lâu dài", ông Hoàn nhận định.
Tin Gốc: Vnexpress

