Đội Quản lý thị trường số 5 (quản lý các phường Xóm Chiếu, Khánh Hội, Vĩnh Hội, Chợ Quán, An Đông, Chợ Lớn) đã tiến hành kiểm tra và xử lý 3 doanh nghiệp kinh doanh vàng năm trên địa bàn với hành vi kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ, trị giá hàng hóa vi phạm 135,68 triệu đồng. Tổng số tiền xử phạt là 210 triệu đồng.
Đội Quản lý thị trường số 9 (địa bàn quản lý khu vực TP.Thủ Đức cũ) đã kiểm tra, phát hiện và xử lý 9 tổ chức đã có hành vi vi phạm: Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ là vàng trang sức thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tổng số tiền phạt vi phạm hành chính 506 triệu đồng. Ngoài ra, tịch thu tang vật không rõ nguồn gốc, xuất xứ là vàng trang sức thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, không hiệu, chưa qua sử dụng, gồm 39 đơn vị sản phẩm là trang sức các loại, trị giá hàng hóa vi phạm 331,355 triệu đồng.
Sau khi thực hiện sáp nhập, TP.HCM mở rộng bao gồm 2 địa bàn khu vực tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Lực lượng Quản lý thị trường tại 2 địa bàn trên cũng chủ động tăng cường ra quân kiểm tra kiểm soát thị trường vàng. Điển hình, Đội Quản lý thị trường số 19 và Đội Quản lý thị trường số 22 đã chủ trì tiến hành kiểm tra 12 cơ sở kinh doanh vàng thuộc 2 địa bàn trên. Qua kiểm tra, kết quả bước đầu cơ quan chức năng đã tịch thu hàng hóa không có nhãn, không rõ nguồn gốc, xuất xứ với trị giá hơn 300 triệu đồng, tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước là 700 triệu đồng.
Việc liên tiếp phát hiện các vụ kinh doanh trang sức không rõ nguồn gốc cho thấy nguy cơ tiềm ẩn đối với người tiêu dùng và sự cần thiết phải siết chặt hơn nữa công tác quản lý thị trường. Trong thời gian tới, Chi cục Quản lý thị trường tiếp tục chỉ đạo các Đội Quản lý thị trường tăng cường công tác quản lý địa bàn, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh vàng; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng, trang sức, góp phần ổn định thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Tin Gốc: Thanh Niên
Kinh Tế
Một năm triển khai Nghị quyết 68: Doanh nghiệp làm trung tâm, hiệu quả làm thước đo

Nghị quyết 68 là một trong các Nghị quyết được Đảng, Nhà nước xác định là một định hướng lớn, có ý nghĩa chiến lược trong việc thúc đẩy, phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, là quyết sách quan trọng để tạo nền tảng đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Sau gần một năm triển khai Nghị quyết 68, khu vực kinh tế tư nhân đang ghi nhận những chuyển biến tương đối rõ nét cả về quy mô và chất lượng phát triển. Nhiều chính sách đã bắt đầu đi vào thực chất, tạo động lực mới cho tăng trưởng.
Báo chí đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm để làm rõ hơn những tác động tích cực của Nghị quyết 68 tới cộng đồng kinh doanh cũng như môi trường doanh nghiệp.
PV: Thưa Thứ trưởng, Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị được xem là một bước ngoặt trong tư duy phát triển. Sau một năm kể từ khi Nghị quyết được ban hành, Thứ trưởng đánh giá như thế nào về những kết quả ban đầu và chuyển biến của khu vực kinh tế tư nhân?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Sau gần một năm triển khai, Nghị quyết 68 đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp và kinh doanh trong xã hội.
Năm 2025, cả nước có gần 297.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm 2024. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân ước đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8%.
Đà phục hồi và gia nhập thị trường tiếp tục được duy trì trong 4 tháng đầu năm 2026. Cả nước ước đạt gần 75.000 doanh nghiệp thành lập mới, cùng với đó là hơn 48.000 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Qua đó nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lên gần 123.000 doanh nghiệp, tăng 36,7%. Tính đến hết ngày 18/5/2026, cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động.
Cùng với đà phục hồi kinh tế và niềm tin gia tăng của khu vực kinh tế tư nhân, việc chuẩn bị thành công lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán đã tạo động lực mới cho dòng vốn đầu tư.
Giá trị giao dịch bình quân từ đầu năm 2026 đạt khoảng 32.700 tỷ đồng/phiên, tăng 12,1% so với bình quân năm trước. Tính đến hết tháng 4/2026, tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường chứng khoán Việt Nam đạt khoảng 10,5 triệu tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Con số này tương đương khoảng 82% GDP Việt Nam năm 2025 (524 tỷ USD). Số lượng nhà đầu tư tiếp tục bùng nổ, đạt gần 13 triệu tài khoản, tăng hơn 29% so với cuối năm 2024.
Kết quả phục hồi và tăng trưởng sản xuất - kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục tác động tích cực tới thu ngân sách Nhà nước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách Nhà nước ước đạt 1.114 nghìn tỷ đồng, bằng 44% dự toán và tăng 15,2% so với cùng kỳ.
PV: Nghị quyết 68 đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính và chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Thứ trưởng đánh giá như thế nào về kết quả triển khai và những chuyển biến thực chất thời gian qua?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Ngay từ đầu tháng 4/2026, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã ban hành 11 Nghị quyết về cắt giảm (bãi bỏ), phân cấp và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc các lĩnh vực quan trọng như tư pháp, đầu tư, môi trường…
Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 15 Quyết định phê duyệt Phương án cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 14 Bộ, dự kiến sẽ bãi bỏ 606 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 2.479 thủ tục hành chính.
Tính đến ngày 15/4/2026, các bộ, ngành đã thực thi phương án đơn giản hóa và chủ động cắt giảm 292 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 1.640 thủ tục kinh doanh; cắt giảm 2.594/6.974 đăng ký doanh nghiệp (đạt tỉ lệ 37,2%); tương ứng cắt giảm 30,9% thời gian thực hiện thủ tục hành chính (khoảng 27.704 ngày/89.721 ngày) và 38% chi phí tuân thủ (khoảng 45.500 tỷ đồng/ 120.000 tỷ đồng).
Luật Đầu tư 2025 có hiệu lực từ tháng 3/2026 đã rà soát, cắt giảm mạnh danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo đó, Chính phủ đã trình Quốc hội cắt giảm 38 ngành, nghề và điều chỉnh phạm vi 20 ngành, nghề.
Đồng thời, Luật bổ sung các quy định để làm rõ nguyên tắc xác định điều kiện đầu tư kinh doanh, qua đó rà soát, sàng lọc, phân định các ngành, nghề thực sự cần thực hiện "tiền kiểm" và chuyển các ngành, nghề có thể kiểm soát bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành sang cơ chế "hậu kiểm", góp phần giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Không dừng lại ở đó, trong giữa tháng 5, Chính phủ đã ban hành 3 Nghị quyết đặc giúp từ ngày 1/7/2026, số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sẽ giảm từ 198 xuống còn 142, gồm: kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm, vàng, xăng dầu, vận tải hàng không, bất động sản, dịch vụ viễn thông…
PV: Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết 68 là tăng cường cơ hội tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh cho kinh tế tư nhân. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, mặt bằng không chỉ là điều kiện sản xuất, mà còn là không gian để đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Thứ trưởng nhìn nhận như thế nào về ý nghĩa của chính sách này? Theo Thứ trưởng, đâu là hướng tiếp cận cần ưu tiên để chính sách mặt bằng thực sự trở thành động lực hỗ trợ doanh nghiệp phát triển?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh là một trong những điểm nghẽn lớn, kéo dài đối với khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Trong khi đó, dư địa phát triển mặt bằng sản xuất của nước ta còn rất lớn. Tính đến hết năm 2025, cả nước đã có 478 khu công nghiệp được thành lập; trong đó 324 khu đã đi vào hoạt động với khoảng 68.000 ha đất công nghiệp, 153 khu đang trong quá trình xây dựng, dự kiến bổ sung khoảng 32.600 ha đất công nghiệp trong thời gian tới.
Tuy nhiên, tỉ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp đã hoạt động đạt khoảng 78,8%, cho thấy nhu cầu mặt bằng sản xuất còn rất cao, trong khi DNNVV vừa thường gặp bất lợi hơn trong cạnh tranh thuê đất, thuê nhà xưởng so với các doanh nghiệp lớn.
Trong thời gian tới, trọng tâm phải đưa chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất đi vào thực chất, chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ chung sang hỗ trợ cụ thể, các địa phương cần nhanh chóng bố trí, dành quỹ đất cho các DNNVV.
Về phía Bộ Tài chính, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi), dự kiến trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 tháng 10/2026, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của địa phương, cơ chế công khai quỹ đất, phương thức hỗ trợ và nhóm đối tượng ưu tiên.
Mục tiêu là để chính sách về hỗ trợ mặt bằng không chỉ tháo gỡ khó khăn trước mắt, mà còn tạo lập một "đường băng" dài hạn, giúp DNNVV có thêm không gian phát triển, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
PV: Thưa Thứ trưởng, Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã thể chế định hướng tại Nghị quyết 68 khi giao Chính phủ xây dựng và triển khai Chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030. Thứ trưởng có thể chia sẻ những điểm đột phá của Chương trình cũng như lộ trình triển khai trong thời gian tới?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Phần lớn doanh nghiệp tư nhân phát triển từ hộ kinh doanh gia đình nên còn hạn chế về kỹ năng quản trị như quản trị dòng tiền, nhân lực, khách hàng; đồng thời, do quy mô nhỏ, mức độ chuyên nghiệp và khả năng trả lương còn thấp, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa khó thu hút nhân lực chất lượng cao.
Thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao, Bộ Tài chính đã khẩn trương nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và đánh giá thực tiễn công tác đào tạo, bồi dưỡng cho doanh nghiệp tại Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ thông qua Quyết định phê duyệt Chương trình đào tạo, bồi dưỡng 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030.
Chương trình được thiết kế với nhiều nội dung mới, đột phá: các khóa đào tạo được phân loại cho nhiều đối tượng (lãnh đạo cấp chiến lược; giám đốc điều hành; giám đốc chuyên môn; quản trị kinh doanh thực chiến; lãnh đạo kế cận). Đặc biệt, với phương thức hỗ trợ qua phiếu học bổng, doanh nghiệp sẽ được lựa chọn chính xác dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ phù hợp nhất với nhu cầu của mình, điều này góp phần tạo ra thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh cạnh tranh hơn cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, học viên sau khi hoàn thành khóa đào tạo còn được tham gia các chương trình như: Chương trình Phòng thí nghiệm lãnh đạo (CEO Lab), Chương trình sẵn sàng CEO (CEO Readiness Program), Chương trình Trò chuyện doanh nhân (CEO Talk)…
PV: Năm 2026 được kỳ vọng là giai đoạn chuyển mạnh từ hoàn thiện chính sách sang tổ chức thực hiện, từ chủ trương sang kết quả cụ thể. Từ góc độ người trực tiếp theo dõi, chỉ đạo công tác triển khai Nghị quyết số 68, Thứ trưởng kỳ vọng điều gì ở chặng đường sắp tới? Theo Thứ trưởng, đâu là những việc cần làm quyết liệt nhất để khu vực tư nhân cảm nhận rõ hơn sự thay đổi từ chính sách?
Thứ trưởng Nguyễn Đức Tâm: Sau một năm triển khai Nghị quyết 68, có thể nói nhận thức về kinh tế tư nhận được khẳng định trong toàn hệ thống chính trị và xã hội, thể chế và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đã được củng cố rõ hơn. Vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới là làm sao để những chủ trương, chính sách đã được ban hành chuyển hóa nhanh hơn thành kết quả cụ thể trong thực tiễn.
Doanh nghiệp cần cảm nhận được sự thay đổi không chỉ qua thông điệp đồng hành, mà qua thủ tục thuận lợi hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn, khả năng tiếp cận nguồn lực tốt hơn và sự chủ động hơn từ cơ quan Nhà nước trong hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân.
Vì vậy, từ năm 2026 cần được xem là giai đoạn hành động thực chất, tập trung mạnh vào tổ chức thực hiện và đo lường hiệu quả chính sách bằng chính trải nghiệm của doanh nghiệp, hộ kinh doanh.
Bộ Tài chính đang tập trung rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân. Trong đó tập trung vào sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về đầu tư, thuế, phí và lệ phí, trái phiếu doanh nghiệp, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Đối với các bộ, ngành, địa phương cần chủ động, quyết liệt triển khai; bố trí nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ để các chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống; đảm bảo nhiệm vụ có kết quả đầu ra, KPI cụ thể và đánh giá trên mức độ tiếp cận, hài lòng của doanh nghiệp, hộ kinh doanh...
Tôi muốn nhấn mạnh một thông điệp xuyên suốt, nhất quán, không thay đổi, đó là "lấy doanh nghiệp làm trung tâm - lấy hiệu quả làm thước đo - lấy kết quả thực tế làm đánh giá cuối cùng". Phát triển kinh tế tư nhân là mệnh lệnh từ thực tiễn, là yêu cầu chiến lược lâu dài, là thước đo năng lực điều hành của bộ máy Nhà nước.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Hôm nay 23.4, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tọa đàm công bố kết quả điều tra hộ kinh doanh năm 2026. Cuộc điều tra được tiến hành từ tháng 2 - tháng 4, với phản hồi từ hơn 1.000 hộ kinh doanh đang hoạt động tại 34 tỉnh, thành phố.
"Bức tranh nhìn thấy không mấy lạc quan, nhưng rất thật", ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, nhấn mạnh tại sự kiện.
Cụ thể, 73,7% hộ kinh doanh cho biết chỉ lãi ít trong năm 2025; chỉ 1,9% đạt mức lãi như kỳ vọng. Cạnh đó, hơn 81% hộ bị giảm doanh thu, 75% bị giảm lượng khách hàng.
Phần lớn hộ kinh doanh đang vận hành ở ngưỡng lợi nhuận rất mỏng, dễ tồn tại những khó khăn dù chỉ ở mức nhẹ, không đủ sức chống chịu trước bất kỳ cú sốc nào tiếp theo.
"Sức khỏe" kinh doanh yếu đi đã khiến hộ kinh doanh chuyển hóa thành tâm lý phòng thủ: 60,8% hộ dự kiến chỉ duy trì quy mô hiện tại trong 2 năm tới, 33% có xu hướng thu hẹp và chỉ 1,8% có ý định mở rộng.
"Trạng thái chủ đạo của khu vực hộ kinh doanh hiện nay không còn là tìm kiếm tăng trưởng, mà chủ yếu là cố gắng duy trì sự tồn tại", ông Tuấn nhấn mạnh.
Điều đáng lưu tâm hơn nữa là khó khăn về pháp lý được đánh giá là nhóm áp lực lớn nhất, với 73,3% hộ kinh doanh cho biết đây là vấn đề ảnh hưởng lớn hoặc nghiêm trọng, cao hơn cả khó khăn về đầu vào, thị trường hay nguồn vốn.
Cụ thể, 71,2% gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin khách hàng để xuất hóa đơn điện tử; 67,6% khó khăn trong hạch toán chi phí được trừ; 66,8% khó theo dõi cập nhật chính sách.
Phát hiện được ông Tuấn nhìn nhận rất quan trọng là, gánh nặng tuân thủ không giảm đi khi hộ kinh doanh lớn hơn. Khi chủ hộ cân nhắc mở rộng quy mô, họ phải đối mặt với một hệ thống kế toán phức tạp hơn, thủ tục thuế nặng hơn, chi phí nhân sự và công nghệ tăng lên, thậm chí có thể trở nên dễ bị siết tuân thủ hơn.
Ông Phạm Ngọc Thạch, Phó trưởng ban Pháp chế của VCCI, phân tích, về bản chất, điểm nghẽn của khu vực hộ kinh doanh hiện nay không chỉ nằm ở sức cầu yếu hay chi phí đầu vào tăng, mà còn nằm ở sự thiếu tương thích giữa yêu cầu quản lý ngày càng phức tạp với năng lực tuân thủ của một khu vực chủ yếu gồm các đơn vị siêu nhỏ và nhỏ.
VCCI khuyến nghị, thời gian tới, cần ưu tiên giảm độ phức tạp của các quy định thuế, kế toán và hóa đơn điện tử theo hướng phù hợp hơn với năng lực thực tế của hộ kinh doanh, đặc biệt là nhóm siêu nhỏ, nhóm học vấn thấp và nhóm lớn tuổi.
Đối với chính sách chuyển đổi lên doanh nghiệp, trọng tâm cần chuyển sang giảm chi phí chuyển đổi thực tế.
Điều này có thể bao gồm: các gói ưu đãi tài chính có điều kiện trong giai đoạn đầu; đơn giản hóa thủ tục hành chính hậu chuyển đổi; hỗ trợ kế toán, thuế trong những năm đầu vận hành; tạo ra một lộ trình nghĩa vụ tăng dần thay vì áp lực tuân thủ tăng đột ngột ngay sau khi chuyển đổi.
"Nếu không xử lý bài toán chi phí và rủi ro cảm nhận sau chuyển đổi, tỷ lệ sẵn sàng lên doanh nghiệp của hộ kinh doanh sẽ còn tiếp tục ở mức thấp", ông Thạch nhấn mạnh.
Phó chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Lê Thị Duyên Hải cho rằng, cần có thêm những khảo sát chuyên sâu hơn để phân loại hộ kinh doanh theo quy mô, hành vi, mục tiêu phát triển, từ đó thiết kế chính sách cho phù hợp.
Chính sách cần phản ánh sự đa dạng này thay vì áp dụng chung một cách tiếp cận. Cốt lõi là giúp hộ kinh doanh quản lý tốt đầu vào, xác định rõ lãi - lỗ và lựa chọn con đường phát triển phù hợp.
Từ góc độ cơ quan quản lý, bà Nguyễn Thị Thu Hà, chuyên viên chính Ban Chính sách, thuế quốc tế (Cục Thuế, Bộ Tài chính), cho biết, từ năm 2026 bỏ thuế khoán, ngưỡng doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh được nâng lên 500 triệu đồng/năm.
Hiện nay, ngưỡng này đang được đề xuất nâng lên 1 tỉ đồng/năm. Nếu nâng lên mức 1 tỉ đồng/năm, dự kiến sẽ có 2,5 triệu hộ kinh doanh được miễn thuế.
"Chúng tôi đã thiết kế chính sách là hộ kinh doanh thuộc diện miễn thuế (doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống ở hiện tại và sắp tới là từ 1 tỉ đồng/năm trở xuống - PV) chỉ phải thông báo doanh thu với cơ quan thuế 1 năm 1 lần vào ngày 31.12 của năm sau, rất đơn giản, dễ thực hiện", bà Hà nói.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo các thông báo kết luận thanh tra được ban hành cuối tháng 4/2026, dù các chi nhánh trên của KienlongBank duy trì hoạt động ổn định, kinh doanh có lãi và cơ bản chấp hành nhiều quy định pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, cơ quan thanh tra vẫn phát hiện một số tồn tại đáng chú ý liên quan đến công tác cho vay, kiểm soát rủi ro và xử lý nợ.
Theo Thông báo kết luận thanh tra số 17/TB-TTRA, Chánh Thanh tra NHNN Khu vực 13 đã ban hành Kết luận thanh tra số 13/KL-TTRA đối với KienlongBank Chi nhánh Đồng Tháp.
Cơ quan thanh tra cho biết, trong thời kỳ thanh tra, KienlongBank Đồng Tháp duy trì hoạt động ổn định, kinh doanh có lãi, các chỉ tiêu cơ bản như huy động vốn và cho vay đều tăng trưởng qua các năm. Công tác xử lý nợ xấu được thực hiện tương đối hiệu quả, góp phần kéo giảm tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn theo khuyến cáo của NHNN.
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, cơ quan thanh tra xác định hoạt động của chi nhánh vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế và rủi ro liên quan đến điều kiện vay vốn; công tác thẩm định, xét duyệt cho vay; kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay; hồ sơ đề nghị bảo lãnh; thứ tự thu hồi gốc, lãi khoản vay quá hạn; phân loại nợ và cho vay ngoài địa bàn.
Theo kết luận, các tồn tại trên chủ yếu mang tính chủ quan, xuất phát từ việc chưa thực hiện đầy đủ quy định nội bộ và các quy định pháp luật liên quan.
Tại KienlongBank Chi nhánh Tây Ninh, kết luận thanh tra số 15/KL-TTRA ban hành ngày 29/4/2026 ghi nhận đơn vị đã thực hiện đúng định hướng tăng trưởng tín dụng do hội sở giao, đồng thời chấp hành quy định về phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro.
Dù vậy, cơ quan thanh tra cũng chỉ ra nhiều tồn tại, hạn chế và rủi ro trong công tác cho vay và kiểm tra, giám sát sau cho vay.
Theo NHNN Khu vực 13, nguyên nhân xuất phát từ việc đơn vị chưa nghiêm túc chấp hành các quy định nội bộ cũng như quy định pháp luật trong hoạt động cho vay và hậu kiểm tín dụng.
Kết luận thanh tra xác định trách nhiệm trực tiếp thuộc về các cá nhân, bộ phận thực hiện nghiệp vụ, đồng thời thuộc trách nhiệm chung của Giám đốc KienlongBank Tây Ninh trong công tác quản lý, điều hành và kiểm soát.
Theo Thông báo kết luận thanh tra số 19/TB-TTRA, Chánh Thanh tra NHNN Khu vực 13 đã ban hành Kết luận thanh tra số 12/KL-TTRA đối với KienlongBank Chi nhánh Tiền Giang.
Kết luận cho biết, trong thời kỳ thanh tra, KienlongBank Tiền Giang duy trì hoạt động ổn định, kinh doanh có lãi, nguồn vốn huy động tăng trưởng qua các năm. Đơn vị cơ bản chấp hành quy định liên quan đến phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và quan tâm đến công tác xử lý, thu hồi nợ xấu.
Tuy nhiên, cơ quan thanh tra xác định hoạt động cho vay của chi nhánh còn phát sinh một số tồn tại, hạn chế và rủi ro trong công tác thẩm định, xét duyệt cho vay; kiểm tra, giám sát vốn vay; xử lý các khoản nợ có vấn đề. Đồng thời, cơ quan thanh tra cũng lưu ý một số dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động của đơn vị.
Theo kết luận thanh tra, nguyên nhân xuất phát từ việc một số khách hàng chưa thực hiện đúng nguyên tắc vay vốn, đồng thời đơn vị còn chủ quan trong quá trình xét duyệt cho vay.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

