Trong công cuộc giành độc lập, tự do của dân tộc, mỗi chiến công oanh liệt đều được viết nên bằng máu, mồ hôi và trí tuệ của những con người Việt Nam bình dị mà vĩ đại.
Từ chiếc xe đạp thồ huyền thoại đến các sáng chế vũ khí, thiết bị và giải pháp hậu cần đầy sáng tạo, mang đậm tinh thần Việt Nam, tất cả đã góp phần làm nên thế trận nhân dân.
Dân trí trân trọng giới thiệu tới độc giả tuyến bài “Những sáng chế góp nên độc lập”, nhằm tôn vinh tinh thần sáng tạo không ngừng nghỉ của người Việt, tỏa sáng trong những điều kiện ngặt nghèo nhất.
Xin trân trọng cảm ơn Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam đã đồng hành cùng chương trình.
Thủy lôi từ tính và bom từ trường phong tỏa vùng biển miền Bắc
Theo Trung tá, Tiến sĩ Trần Hữu Huy, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, mùa Xuân năm 1972, quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực đối phương, mở rộng vùng giải phóng và gia tăng sức ép trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris.
Chính quyền Tổng thống Richard Nixon đã tăng cường hỗ trợ quân đội Sài Gòn, đồng thời, phát động trở lại chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân.
Đáng chú ý, Mỹ tiến hành rải thủy lôi phong tỏa cảng Hải Phòng cùng nhiều cửa sông, cửa biển trọng yếu bằng các loại vũ khí công nghệ cao thời bấy giờ như thủy lôi từ tính MK-52 và bom từ trường MK-36.
Những khí tài này được Mỹ ca ngợi là “thông minh” và “không thể rà phá” đã gây ra không ít khó khăn, thử thách cho quân và dân ta.
Sau ngày Mỹ phong tỏa cảng Hải Phòng và vùng biển miền bắc, Đảng và Nhà nước đã huy động các nhà khoa học tham gia nghiên cứu cách rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường. Đội đặc nhiệm GK1 ra đời trong bối cảnh đó.
Bộ trưởng Giao thông Vận tải Phan Trọng Tuệ phối hợp với Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu đã tập hợp lực lượng trí thức tham gia nghiên cứu, phân tích và đề xuất giải pháp xử lý các loại khí tài hiện đại do Mỹ triển khai.
Cuối tháng 5/1972, Tổ nghiên cứu đặc nhiệm GK1 được thành lập tại Đại học Bách khoa Hà Nội, do GS.TSKH Vũ Đình Cự làm tổ trưởng, quy tụ các chuyên gia đầu ngành về vật lý, vô tuyến điện tử và tự động hóa.
Trong thực tế, công tác rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường trên sông, biển và đất liền luôn là một nhiệm vụ đặc biệt phức tạp, đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa con người và phương tiện chuyên dụng.
Từ năm 1967, Mỹ bắt đầu triển khai các loại vũ khí có cơ chế kích nổ hiện đại nhằm đánh phá hệ thống giao thông đường thủy, gây ra những nguy cơ tiềm ẩn kéo dài đối với an toàn hàng hải và đời sống dân sinh.
Nhiệm vụ trọng tâm của GK1 là nghiên cứu cơ chế hoạt động và thiết kế các phương tiện kỹ thuật để vô hiệu hóa thủy lôi, bom từ trường.
Nhận nhiệm vụ, Vũ Đình Cự cùng các đồng nghiệp ở Đại học Bách khoa và Bộ Giao thông Vận tải khẩn trương bắt tay vào công việc trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn của thời chiến.
Giải mã cơ chế kích nổ: “Làm câm” vũ khí thông minh
Được sự hỗ trợ đắc lực của các đơn vị thuộc ngành giao thông, đặc biệt là sự hỗ trợ của Trung tâm máy tính điện tử (duy nhất lúc đó ở miền Bắc) của Ủy ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước và sử dụng cả các thiết bị nghiên cứu mới nhất vừa được Liên Xô (cũ) viện trợ cho Trường Bách khoa.
Trong một thời gian ngắn, tổ GK1 đã “mổ phanh” loại vũ khí “thông minh” được đưa từ Hải Phòng về Hà Nội để tìm ra cơ chế gây nổ tinh vi của nó, đồng thời, tổ chức nghiên cứu thực nghiệm tại Hải Phòng và sân bóng Đại học Bách khoa.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chúng sử dụng tổ hợp cảm biến đa kênh và mạch điện tử phức tạp để phân biệt mục tiêu thật – giả, từ đó lựa chọn thời điểm kích nổ tối ưu.
Từ kết quả trên GK1 đã thiết kế và chế tạo nhiều loại khí tài như thiết bị tạo xung từ trường để kích nổ bom mìn từ xa, máy gây nhiễu “làm câm” bom từ trường và ca nô không người lái phục vụ rà phá.
Thiết bị đó nhanh chóng được đưa vào sử dụng và phát huy hiệu quả lớn trong việc rà phá bom, thủy lôi từ trường, tránh được thương vong ở cảng Hải Phòng và nhiều nơi khác, góp phần quan trọng vào chiến thắng của quân và dân ta trong việc phá tan âm mưu phong tỏa miền Bắc của Mỹ những năm 1972-1973.
Việc đưa thiết bị GK1 vào thực tế đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống phong tỏa đường thủy. Nhiều bãi thủy lôi được xử lý an toàn, không gây tổn thất về người và phương tiện, góp phần bảo đảm huyết mạch giao thông chiến lược.
Năm 1996, công trình được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, khẳng định vai trò to lớn của tổ GK1 trong việc bảo đảm giao thông và góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến..
Do tính chất phục vụ chiến đấu trong thời chiến, việc thành lập tổ nghiên cứu cũng như các khí tài được triển khai đều được giữ bí mật.
Tổ GK đầu tiên làm việc từ tháng 5/1972 gồm 6 người do GS.TSKH Vũ Đình Cự làm Tổ trưởng.
Vũ Đình Cự (15/2/1936-7/9/2011), quê quán xã Đông Xuân, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (cũ). Ông tham gia cách mạng tháng 7/1956; vào Đảng tháng 4/1985; là nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, VIII; nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội khóa X; nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; đại biểu Quốc hội khóa VII, VII, IX, X.
Sang tháng 7/1972 bổ sung thêm 5 người do các thành viên đầu tiên giới thiệu. Sau đó tổ GK2 được thành lập (chủ chốt là Kỹ sư Nguyễn Hữu Bảo, kỹ sư Đoàn Nhân Lộ). Sau năm 1973 thành lập thêm các tổ GK3, GK4.
Mỗi ngày, hàng triệu mét khối nước thải từ khu dân cư, làng nghề, cơ sở chăn nuôi hay nhà máy được thải ra môi trường. Trong đó, lượng chất hữu cơ và các hợp chất chứa nitơ cao không chỉ gây ô nhiễm nguồn nước mà còn làm phát sinh mùi hôi, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân.
Dù nhu cầu xử lý nước thải ngày càng cấp thiết, nhiều địa phương vẫn gặp khó khăn vì thiếu hệ thống xử lý đồng bộ hoặc không đủ nguồn lực để đầu tư các công nghệ hiện đại nhập khẩu có chi phí cao.
Từ thực tế đó, nhóm nghiên cứu do TS Hoàng Lương, Viện Khoa học công nghệ Năng lượng và Môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), đã phát triển vật liệu mang vi sinh EBB (Eco-Bio-Block) - một dạng "viên gạch sinh học" có khả năng hỗ trợ xử lý nước thải giàu hữu cơ và nitơ theo quy trình khép kín.
Theo TS Hoàng Lương, xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học thực chất là tận dụng các vi sinh vật có lợi để phân hủy chất ô nhiễm. Tuy nhiên, để hoạt động hiệu quả, các vi sinh vật này cần có nơi cư trú ổn định thay vì trôi nổi trong dòng nước.
Đó cũng là lý do vật liệu EBB ra đời.
Nhìn bề ngoài, EBB giống như những viên gạch nhỏ có cấu trúc xốp. Bên trong vật liệu là hệ vi sinh vật có lợi được nuôi cấy và bám dính trên bề mặt.
Khi được đưa vào hệ thống xử lý, các vi sinh vật sẽ phân hủy chất hữu cơ, giảm hàm lượng amoni, tổng nitơ và các tác nhân gây mùi trong nước thải.
"EBB giống như một ngôi nhà cho vi sinh vật. Cấu trúc vật liệu tạo điều kiện để chúng sinh trưởng ổn định và phát huy tối đa khả năng xử lý ô nhiễm", TS Hoàng Lương cho biết.
Vật liệu được chế tạo từ các nguyên liệu sẵn có trong nước như zeolite, than hoạt tính, kazemzit và xi măng bền sunfat. Nhờ cấu trúc nhiều lỗ rỗng với diện tích bề mặt lớn, EBB giúp hình thành lớp màng sinh học bền vững - yếu tố quyết định hiệu quả xử lý nước.
Điểm đáng chú ý là EBB kết hợp đồng thời hai cơ chế xử lý. Trong khi lớp vật liệu khoáng hấp phụ các chất ô nhiễm, hệ vi sinh vật bên trong tiếp tục phân hủy chúng thành những hợp chất ít độc hại hơn.
Nhờ đó, vật liệu có khả năng xử lý hiệu quả COD, amoni và tổng nitơ - những chỉ số ô nhiễm phổ biến trong nước thải sinh hoạt, công nghiệp và chăn nuôi.
Giá thành chỉ bằng một nửa sản phẩm nhập khẩu
Theo nhóm nghiên cứu, công nghệ EBB được kế thừa từ các chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản, đồng thời được cải tiến để phù hợp với điều kiện trong nước.
Trên thế giới, các vật liệu tương tự đã được sử dụng tại Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Ấn Độ và Mỹ để xử lý ô nhiễm sông hồ, ao mương và nước thải sinh hoạt. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm hiện nay đều phải nhập khẩu với giá thành cao.
Khác với các giải pháp ngoại nhập, nhóm nghiên cứu hướng tới mục tiêu nội địa hóa toàn bộ quy trình, từ nguyên liệu, thiết bị đến công nghệ vận hành.
Từ quy mô phòng thí nghiệm, nhóm đã thiết kế thành công hệ thiết bị sản xuất EBB bán công nghiệp với công suất khoảng 2.000 viên mỗi ngày.
Vật liệu cũng được thử nghiệm trên hệ thống xử lý nước thải công suất 50m³/ngày và cho kết quả đáp ứng các quy chuẩn môi trường hiện hành đối với nước thải sinh hoạt và công nghiệp.
Kết quả đánh giá cho thấy EBB xử lý hiệu quả COD, amoni và tổng nitơ trong nhiều loại nước thải khác nhau, từ nước thải sinh hoạt, nước rỉ rác đến nước thải bệnh viện.
Một trong những ưu điểm lớn nhất của EBB là chi phí.
Nhờ sử dụng nguyên liệu nội địa như zeolite và các vật liệu tái chế từ nông nghiệp, giá thành sản phẩm được ước tính chỉ bằng khoảng 40-50% so với các loại giá thể nhập khẩu như MBBR hay biochip.
Ngoài ra, EBB có độ bền cao, ít bong tróc, không phải thay thế thường xuyên và duy trì hiệu quả xử lý trong thời gian dài.
Hướng tới thương mại hóa rộng rãi
Theo TS Hoàng Lương, EBB đặc biệt phù hợp với những khu vực chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc cần nâng cấp hệ thống cũ với chi phí thấp.
Công nghệ này có thể ứng dụng tại khu dân cư, làng nghề, bệnh viện quy mô nhỏ, cơ sở chế biến thực phẩm, trang trại chăn nuôi hay các trạm xử lý nước thải công suất vừa và nhỏ.
Một lợi thế khác là các viên EBB có thể tích hợp trực tiếp vào những công trình xử lý hiện hữu mà không cần cải tạo lớn về hạ tầng.
Trong bối cảnh nhiều địa phương đang đối mặt với tình trạng ô nhiễm do nước thải giàu hữu cơ và amoni, giải pháp này được đánh giá có ý nghĩa thực tiễn cao.
Theo hội đồng nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, dự án có tính ứng dụng lớn, bám sát nhu cầu thực tế và sở hữu tiềm năng thương mại hóa rõ rệt nhờ giá thành hợp lý, chủ động nguồn nguyên liệu trong nước và khả năng mở rộng quy mô linh hoạt.
Không chỉ góp phần giải quyết bài toán ô nhiễm nước, thành công của EBB còn cho thấy năng lực làm chủ công nghệ môi trường của các nhà khoa học Việt Nam, từ thiết kế vật liệu, chế tạo thiết bị đến xây dựng quy trình vận hành hoàn chỉnh.
Giữa lúc nhiều quốc gia châu Âu liên tiếp đối mặt với các đợt nắng nóng cực đoan, Paris đang theo đuổi một giải pháp làm mát đô thị đặc biệt. Đó là biến dòng sông Seine thành một phần trong hệ thống “điều hòa” của thành phố.
Ít ai biết rằng ngay bên dưới những đại lộ đông đúc của thủ đô nước Pháp là một mê cung đường ống dài khoảng 120 km đang vận hành liên tục để cung cấp nước lạnh tới nhiều công trình lớn.
Hệ thống này đưa nước đã được làm lạnh từ các nhà máy chuyên dụng đến văn phòng, trung tâm thương mại, khách sạn và các địa điểm nổi tiếng như bảo tàng Louvre.
Đơn vị vận hành hệ thống là Fraicheur de Paris, công ty trực thuộc tập đoàn năng lượng Engie SA.
Về nguyên lý hoạt động, hệ thống bao gồm các nhà máy làm lạnh giúp hạ nhiệt độ nước xuống khoảng 4 độ C. Nước được làm lạnh từ nhà máy sẽ được bơm qua mạng lưới đường ống ngầm tới các tòa nhà, tạo ra không khí mát mẻ thông qua hệ thống trao đổi nhiệt. Sau khi hấp thụ nhiệt từ các công trình, nước ấm sẽ quay trở lại nhà máy để tiếp tục chu trình làm lạnh.
Điểm đặc biệt là nước sông Seine được sử dụng như một nguồn tản nhiệt tự nhiên. Dòng nước từ sông và dòng nước ấm được ngăn cách bởi một lớp kim loại mỏng, thông qua một bộ trao đổi nhiệt cho phép truyền nhiệt từ nước ấm sang nước lạnh mà không cần hai chất lỏng chạm vào nhau.
Có thể hình dung quá trình này giống như đặt một cốc trà nóng vào chậu nước lạnh. Hai chất lỏng không hòa lẫn nhưng nhiệt vẫn được truyền từ nơi nóng sang nơi lạnh.
Sau khi được làm mát, nước sẽ tiếp tục tuần hoàn qua các tòa nhà tham gia hệ thống. Đồng thời, nước lấy từ sông Seine được trả lại dòng sông với nhiệt độ tăng nhẹ so với ban đầu.
Một trong những cơ sở vận hành lớn nhất của hệ thống nằm ở dưới bờ sông Seine gần quảng trường Place du Canada. Bên dưới lòng đất, hàng loạt máy bơm công suất lớn, hệ thống đường ống và các thiết bị làm lạnh hoạt động liên tục ngày đêm để đảm bảo duy trì nhiệt độ ổn định cho mạng lưới.
Theo ước tính, so với các hệ thống làm mát riêng lẻ, hệ thống làm mát của Paris tiêu thụ ít hơn 50% điện năng và thải ra ít hơn 50% khí thải carbon. Quan trọng hơn, một số chuyên gia nhận định nó không làm trầm trọng thêm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị.
Đáng chú ý là 66% điện năng cung cấp cho hệ thống đều đến từ các nguồn năng lượng tái tạo như mặt trời và gió.
Bà Pauline Lavaud, Giám đốc chuyển đổi khí hậu của chính quyền Paris nhận định hệ thống này mang lại hiệu quả năng lượng và môi trường vượt trội so với các giải pháp làm mát riêng lẻ.
Tầm nhìn từ quyết định đầu tư 2,4 tỷ euro
Đợt nắng nóng mới nhất tại châu Âu đến sớm hơn thường lệ, ngay trước thời điểm nhiệt độ mùa hè đạt đỉnh vào tháng 7.
Riêng tại Paris, nhiệt độ tăng cao buộc nhiều điểm du lịch nổi tiếng như tháp Eiffel và bảo tàng Louvre phải đóng cửa sớm hơn bình thường.
Thậm chí, số liệu tử vong sơ bộ do Cơ quan Y tế Công cộng Pháp công bố ngày 28/6 cho thấy quốc gia này đã ghi nhận thêm 1.000 ca tử vong so với các tháng trước kể từ đỉnh điểm của đợt nắng nóng hôm 24/6.
Bà Marie Carlo, Giám đốc điều hành Fraicheur de Paris, cho biết toàn bộ các nhà máy hiện phải vận hành 24/7 do nhu cầu tăng mạnh. Trong một số thời điểm, nhu cầu làm lạnh khổng lồ và các sự cố mất điện khiến hệ thống không thể làm lạnh nước xuống mức nhiệt lý tưởng.
Dẫu vậy, Carlo khẳng định hệ thống làm mát tập trung sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các hình thái thời tiết cực đoan gia tăng.
Ngoài hiệu quả làm mát diện rộng toàn thành phố, hệ thống này được chính quyền kỳ vọng giúp ít nhất một bộ phận trong 2,1 triệu dân tại Paris từ bỏ việc mua điều hòa không khí trong tương lai.
Công nghệ làm mát này thực tế đã xuất hiện tại Paris từ những năm 1970 nhưng chỉ phát triển mạnh từ thập niên 1990 do công ty Climespace đảm nhận.
Vào năm 2022, với sự hỗ trợ của chính quyền thành phố Paris, công ty Fraicheur de Paris đã tiếp quản dự án và tiến hành khởi động chương trình mở rộng mạng lưới.
Mục tiêu đề ra là xây dựng thêm 20 nhà máy mới, mở rộng 160 km đường ống nhằm tăng gấp ba số lượng công trình được kết nối vào năm 2042.
Tổng giá trị hợp đồng 20 năm dành cho công ty Fraicheur de Paris đã lên tới 2,4 tỷ euro.
Đến nay, Fraicheur de Paris đang vận hành 15 nhà máy làm lạnh cùng nhiều hồ chứa và hệ thống lưu trữ băng quy mô lớn. Mạng lưới hiện tại đang tích cực phục vụ cho hơn 900 khách hàng, bao gồm các tòa nhà văn phòng, bệnh viện, cửa hàng bách hóa và nhiều công trình biểu tượng của thành phố.
Công ty cho biết ngày càng có nhiều lời kêu gọi thúc đẩy nhanh hơn kế hoạch mở rộng này. Các yêu cầu kết nối với mạng lưới đang được gửi đến từ nhiều lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ công cộng.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là tìm quỹ đất cho các nhà máy. Để mở rộng mạng lưới đường ống, khoảng một nửa số tuyến sẽ phải đào phá vỉa hè, phần còn lại có thể tận dụng hệ thống cống ngầm sẵn có.
Theo ông Emmanuel Grégoire, Thị trưởng Paris, đây không còn đơn thuần là một dự án hạ tầng mà đã trở thành chiến lược sống còn đối với thành phố.
“Việc phát triển mạng lưới làm mát này mang ý nghĩa chiến lược bởi nó không sử dụng điều hòa riêng lẻ, vốn gây ra những bất lợi về tiêu thụ năng lượng quá mức cũng như phát thải nhiệt”, ông nói.
Một nghiên cứu do TS Frederick Ho, chuyên gia dịch tễ học tại Đại học Glasgow (Anh) vừa được công bố trên tạp chí PLOS Medicine cho biết: mỗi giờ ngồi liên tục không vận động làm tăng nguy cơ tử vong vì ung thư khoảng 9%.
Trong khi đó, cùng một thời gian ngồi nhưng được chia thành nhiều khoảng ngắn hoặc xen kẽ bằng những hoạt động nhẹ nhàng lại giúp giảm nguy cơ ung thư.
Vận động nhẹ thay vì ngồi liên tục giảm 12% nguy cơ tử vong do ung thư
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ UK Biobank - một trong những dự án theo dõi sức khỏe lớn nhất tại Anh.
Bằng cách phân tích dữ liệu từ thiết bị theo dõi hoạt động ở cổ tay liên tục trong một tuần của hơn 91.000 người trưởng thành, nhóm nghiên cứu đã chia thời gian ngồi thành hai nhóm: nhóm ngồi liên tục kéo dài, mỗi lần ngồi từ 30 phút trở lên và gần như không có bất kỳ vận động nào và nhóm ngồi ngắt quãng với các khoảng ngồi ngắn hơn hoặc thời gian ngồi dài nhưng được xen kẽ bởi những cử động nhỏ.
Sau khoảng 12 năm theo dõi, hai kiểu ngồi cho kết quả như sau: những người dành nhiều thời gian ngồi liên tục có tỷ lệ mắc ung thư và tử vong do ung thư cao hơn; trong khi đó những người ngồi ngắt quãng có nguy cơ tử vong vì ung thư thấp hơn khoảng 20%.
Các nhà nghiên cứu tiếp tục xây dựng mô hình để ước tính điều gì sẽ xảy ra nếu một người thay thế một giờ ngồi liên tục bằng một giờ dành cho hoạt động thể chất. Kết quả cho thấy, ngay cả những thay đổi rất nhỏ cũng mang lại lợi ích.
Nếu thay một giờ ngồi liên tục bằng các hoạt động nhẹ nhàng như đi bộ chậm, dọn dẹp nhà cửa hoặc đi lại trong phòng, nguy cơ tử vong do ung thư giảm khoảng 12%. Đặc biệt, nếu thay bằng 30 phút vận động cường độ vừa, nguy cơ giảm khoảng 8%.
Đáng chú ý nhất, chỉ cần thay 5 phút ngồi bằng hoạt động thể chất cường độ mạnh đã giúp giảm nguy cơ mắc ung thư nhiều nhất trong tất cả các kịch bản được các nhà khoa học phân tích.
Trước đó, một nghiên cứu khác cũng sử dụng dữ liệu từ UK Biobank cho thấy ngay cả ở những người không tập thể dục thường xuyên, chỉ cần vài khoảng thời gian vận động mạnh ngắn khoảng 3-4 phút mỗi ngày cũng giúp giảm đáng kể nguy cơ ung thư.
Theo nhóm nghiên cứu, không chỉ số giờ ngồi mà cách ngồi cũng có thể ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư.
"Kết quả của chúng tôi cho thấy tác động của việc ít vận động đối với sức khỏe không chỉ phụ thuộc vào tổng thời gian ngồi mà còn phụ thuộc vào việc thời gian đó được tích lũy thành các khoảng ngồi kéo dài hay được ngắt quãng bằng hoạt động thể chất", nhóm tác giả viết.
Vì sao ngồi lâu có thể làm tăng nguy cơ ung thư?
Các nhà khoa học vẫn chưa xác định chính xác cơ chế khiến ngồi liên tục làm tăng nguy cơ ung thư, nhưng nghiên cứu đưa ra một số giả thuyết hợp lý.
Việc ngồi yên nhiều giờ có thể khiến cơ thể duy trì tình trạng viêm mạn tính mức độ thấp; đồng thời hệ miễn dịch cũng có thể hoạt động kém hiệu quả hơn, làm giảm khả năng phát hiện và loại bỏ các tế bào bất thường.
Thói quen ngồi lâu còn làm thay đổi vị trí tích tụ mỡ trong cơ thể. Thay vì chỉ nằm dưới da, chất béo bắt đầu tích tụ nhiều hơn ở gan, cơ và tuyến tụy. Đây là những thay đổi được xem như có liên quan đến sự hình thành ung thư.
Ngoài ra, ngồi liên tục còn ảnh hưởng đến khả năng điều hòa đường huyết, khiến nồng độ insulin tăng cao.
Insulin cùng các yếu tố tăng trưởng liên quan kích thích tế bào phát triển và phân chia. Khi các tín hiệu này hoạt động kéo dài, nhiều nghiên cứu đã liên hệ chúng với nguy cơ ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư đại trực tràng.
Tuy nhiên, nghiên cứu lần này không trực tiếp kiểm chứng các cơ chế trên nên mối liên hệ từ việc ngồi lâu đến hình thành khối u vẫn cần được làm rõ thêm.
Một nghiên cứu khác công bố năm 2020 thực hiện khảo sát khoảng 8.000 người cao tuổi tại Mỹ từng phát hiện ngồi liên tục làm tăng nguy cơ tử vong do ung thư.
Nhóm nghiên cứu của TS Frederick Ho đã mở rộng kết quả này khi cho thấy chỉ cần chia nhỏ các khoảng thời gian ngồi cũng có thể giúp giảm nguy cơ. Theo các nhà khoa học, vận động nhẹ có ưu điểm rất lớn vì phù hợp với gần như mọi đối tượng.
Những người ngồi nhiều nhất thường là người cao tuổi hoặc mắc nhiều bệnh mạn tính, khiến việc tập luyện cường độ cao trở nên khó khăn. Trong khi đó, các hoạt động nhẹ nhàng có thể dễ dàng áp dụng với nhiều nhóm người khác nhau.
Theo TS Ho, hiện chưa có một "tiêu chuẩn vàng" về tần suất nghỉ giữa các lần ngồi. Tuy nhiên, ông cho rằng khoảng 6 phút vận động sau mỗi giờ ngồi có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.
"Có thể chỉ đơn giản là đi lấy một cốc cà phê hoặc chọn đi cầu thang bộ thay vì thang máy", ông gợi ý.
Nhóm nghiên cứu kỳ vọng các thử nghiệm lâm sàng trong tương lai sẽ giúp xây dựng những khuyến cáo cá nhân hóa về thời điểm và tần suất nên đứng dậy vận động, thay vì chỉ đưa ra lời khuyên chung là "ngồi ít hơn".