Trung Quốc đang đối mặt với một trong những thách thức y tế nghiêm trọng nhất lịch sử hiện đại: sự gia tăng nhanh chóng của bệnh Alzheimer và các dạng sa sút trí tuệ. Tính đến nay, nước này có hơn 16 triệu bệnh nhân, chiếm gần 30% tổng số ca toàn cầu, theo tờ South China Morning Post ngày 27.4. Con số này được dự báo tiếp tục tăng mạnh trong những thập niên tới.
Các ước tính cho thấy số bệnh nhân Alzheimer tại Trung Quốc có thể đạt 19,1 triệu vào năm 2030 và 27,6 triệu vào 2050. Một nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học PLOS One gần đây thậm chí cho rằng con số này có thể vượt 60 triệu, thậm chí hơn 100 triệu người vào giữa thế kỷ 21.
Nguyên nhân cốt lõi nằm ở cấu trúc dân số tại Trung Quốc đang thay đổi nhanh chóng. Đến cuối năm 2023, Trung Quốc có gần 297 triệu người từ 60 tuổi trở lên, tương đương hơn 21% dân số. Con số này dự kiến vượt 400 triệu vào năm 2035 – xấp xỉ tổng dân số của Anh và Mỹ cộng lại, theo Reuters. Tuổi thọ tăng, trong khi tỷ lệ sinh giảm khiến số người phụ thuộc ngày càng lớn, kéo theo áp lực lên hệ thống y tế và an sinh.
Trong bối cảnh đó, Alzheimer không chỉ là vấn đề y tế mà còn là thách thức kinh tế – xã hội. Khoảng 70% bệnh nhân hiện được chăm sóc tại nhà, trong khi lực lượng chăm sóc chuyên nghiệp còn thiếu hụt, khiến gánh nặng dồn lên các gia đình.
Trước áp lực này, Trung Quốc đã phát động một “cuộc chiến” chống bệnh Alzheimer mang tính hệ thống. Về chính sách, Trung Quốc ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về giải quyết chứng mất trí nhớ ở người cao tuổi (giai đoạn 2024 – 2030), hướng tới xây dựng một hệ thống toàn diện từ phòng ngừa, sàng lọc đến điều trị và chăm sóc, theo Tân Hoa xã. Các địa phương được yêu cầu triển khai sàng lọc nhận thức cho người từ 65 tuổi trở lên nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.
Hệ thống chăm sóc cũng được mở rộng mạnh mẽ. Đến năm 2030, hơn 50% cơ sở dưỡng lão dự kiến có đơn vị chuyên biệt cho bệnh nhân sa sút trí tuệ, đồng thời khoảng 15 triệu nhân sự chăm sóc sẽ được đào tạo. Các mô hình chăm sóc tại nhà, cộng đồng và cơ sở y tế được kết hợp nhằm giảm tải cho gia đình, theo China Daily.
Ở lĩnh vực khoa học, Trung Quốc đang tăng tốc đáng kể. Số thử nghiệm lâm sàng về Alzheimer đã tăng từ 9 vào năm 2021 lên hơn 100 vào 2024. Nước này hiện đứng thứ 2 thế giới về số lượng công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này. Song song đó, các công ty công nghệ sinh học và viện khoa học hàng đầu Trung Quốc đang chạy đua phát triển 4 loại thuốc mới nhằm ngăn chặn khủng hoảng y tế công cộng và giảm phụ thuộc vào các liệu pháp đắt đỏ hiện có, theo South China Morning Post.
Ngoài ra, Trung Quốc cũng đầu tư vào công nghệ chẩn đoán sớm. Các xét nghiệm máu mới có thể phát hiện nguy cơ Alzheimer trước 10 – 15 năm khi triệu chứng xuất hiện, trong khi các ngân hàng dữ liệu sinh học giúp xác định các biến thể gien đặc thù của người châu Á, theo Reuters.
Dù vẫn tồn tại những thách thức về chất lượng nghiên cứu, chia sẻ dữ liệu và tiêu chuẩn khoa học, nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng Trung Quốc đang nổi lên như một trung tâm nghiên cứu Alzheimer mới. Tiến sĩ John Hardy từ Viện Nghiên cứu sa sút trí tuệ Anh nhận định: “Trong khi môi trường nghiên cứu của Mỹ có phần khép kín, Trung Quốc đang trở thành một trung tâm lớn cho nghiên cứu sa sút trí tuệ toàn cầu”.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thế Giới
Tuyên bố chung Việt Nam - Ấn Độ về quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường

Tuổi Trẻ Online giới thiệu toàn văn "Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Ấn Độ"
1. Nhận lời mời của Thủ tướng Ấn Độ Shri Narendra Modi, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ từ ngày 5 đến ngày 7-5-2026. Tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam. Đoàn doanh nghiệp hàng đầu của Việt Nam cũng tham gia.
2. Ngày 6-5-2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dự lễ đón chính thức tại Phủ Tổng thống; đặt vòng hoa tại Khu tưởng niệm Mahatma Gandhi; dự hội đàm, chiêu đãi của Thủ tướng Narendra Modi, cùng Thủ tướng Modi chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác; hội kiến và dự chiêu đãi của Tổng thống Ấn Độ Droupadi Murmu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã phát biểu tại Hội đồng các vấn đề thế giới của Ấn Độ; dự và phát biểu tại Diễn đàn Đổi mới sáng tạo Việt Nam - Ấn Độ. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng thăm thành phố Mumbai và có các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo bang, tiếp một số doanh nghiệp; dự và phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ.
3. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Modi đã có cuộc hội đàm toàn diện trong không khí thân tình, cởi mở. Hai lãnh đạo đã trao đổi về quan hệ song phương và vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm. Thủ tướng Modi chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm được Quốc hội khóa XVI tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam và bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam sẽ tiếp tục đạt những bước tiến vững chắc trong quá trình phát triển.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chúc mừng Thủ tướng Narendra Modi về những thành tựu phát triển đất nước, nổi bật là duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương và hợp tác phương Nam toàn cầu. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh, việc làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam - Ấn Độ sẽ tiếp tục mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời đóng góp quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi nước, với Ấn Độ là "tầm nhìn Ấn Độ phát triển vào năm 2047" và "mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao đến năm 2045".
4. Hai lãnh đạo chia sẻ quan điểm về những diễn biến mang tính bước ngoặt trong cục diện khu vực và toàn cầu, khẳng định nền tảng vững chắc của quan hệ hai nước dựa trên sự tin cậy, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, tầm nhìn chung và hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở đó, hai bên nhất trí tiếp tục nâng tầm quan hệ song phương Việt Nam - Ấn Độ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường trên tinh thần "chia sẻ tầm nhìn, hội tụ chiến lược, hợp tác thực chất", với mong muốn biến ý chí thành kết quả cụ thể.
5. Hai bên ghi nhận năm 2026 đánh dấu kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Ấn Độ và nhất trí tổ chức kỷ niệm dưới các hình thức phù hợp. Hai bên hoan nghênh những tiến triển trong quan hệ song phương trong thập kỷ qua và nhất trí triển khai hiệu quả các kết quả đạt được nhân các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao gần đây, bao gồm Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện tháng 8 năm 2024, Tầm nhìn chung Ấn Độ - Việt Nam vì Hòa bình, Thịnh vượng và Con người năm 2020, và kết quả của các cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước. Lãnh đạo hai nước nhất trí duy trì tiếp xúc thường xuyên ở tất cả các cấp, trong đó đặc biệt là tiếp xúc cấp cao.
6. Hai bên ghi nhận việc thành lập Nhóm Nghị sĩ hữu nghị Ấn Độ - Việt Nam tại Quốc hội Ấn Độ, và hoan nghênh việc tăng cường hợp tác giữa Quốc hội hai nước; tiếp tục phối hợp chặt chẽ giữa các đoàn nghị sĩ hai nước tại các diễn đàn đa phương, bao gồm Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) và Hội đồng Liên nghị viện ASEAN (AIPA).
7. Hai bên đánh giá cao việc đối thoại và hợp tác thường xuyên trong khuôn khổ các cơ chế hợp tác hiện có trong nhiều lĩnh vực; góp phần củng cố lòng tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Trên tinh thần đó, hai bên nhấn mạnh Tham vấn Chính trị và Đối thoại Chiến lược, Ủy ban Hỗn hợp về Hợp tác Kinh tế, Thương mại và Khoa học là trụ cột quan trọng thúc đẩy quan hệ song phương; tổ chức thường xuyên các cơ chế về quốc phòng, an ninh, hàng hải, thương mại, đầu tư, nông nghiệp, y tế, công nghệ thông tin và truyền thông, hợp tác mạng, khoa học, công nghệ, vũ trụ, năng lượng nguyên tử; đồng thời hướng tới thiết lập Đối thoại Chiến lược Ngoại giao - Quốc phòng (2+2).
8. Lãnh đạo hai nước nhất trí xúc tiến triển khai hiệu quả Chương trình hành động Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 2024 - 2028 và Tuyên bố chung này.
9. Lãnh đạo hai nước nhất trí tăng cường hợp tác giữa hai nền kinh tế đang phát triển nhanh; trong đó phối hợp chặt chẽ hơn giữa chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp để thúc đẩy thương mại, đầu tư và hợp tác công nghệ. Trên nền tảng gia tăng thương mại song phương 10 năm qua, hai bên nhấn mạnh cần tiếp tục nâng cao hơn nữa thương mại hai chiều theo hướng cân bằng và cùng có lợi, nhất trí đặt mục tiêu đạt 25 tỉ USD vào năm 2030.
10. Hai bên nhất trí sẽ tạo thuận lợi hơn cho hàng hóa nước này tiếp cận thị trường nước kia, bao gồm nông sản. Hai bên hoan nghênh quyết định mở cửa thị trường cho sầu riêng Việt Nam và nho Ấn Độ, và nhất trí thúc đẩy việc mở cửa thị trưởng cho bưởi Việt Nam và lựu Ấn Độ thông qua xúc tiến tham vấn song phương để xử lý các vấn đề kỹ thuật.
11. Hai bên nhất trí thúc đẩy chuỗi cung ứng trong các lĩnh vực có chung lợi ích. Việt Nam khẳng định cam kết đa dạng hóa nguồn cung và tăng nhập khẩu từ Ấn Độ phục vụ sản xuất và xuất khẩu. Hai bên nhất trí nghiên cứu các biện pháp thiết lập môi trường thể chế thuận lợi để tạo điều kiện hơn cho doanh nghiệp hai nước, bao gồm vấn đề giấy chứng nhận đáp ứng tiêu chuẩn. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát huy các cơ chế song phương để duy trì đối thoại mang tính xây dựng nhằm giải quyết các quan tâm chung.
12. Hai bên nhất trí thúc đẩy sớm hoàn tất việc rà soát Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIGA) trên tinh thần bảo đảm lợi ích chung, tạo thuận lợi thương mại và phù hợp với thông lệ thương mại toàn cầu hiện nay.
13. Hai bên nhất trí thúc đẩy đầu tư hai chiều, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, giao thông, sản xuất, logistics, năng lượng tái tạo, nông nghiệp thông minh, xe điện và công nghệ thông tin, y tế, nông nghiệp và chế biến nông sản, thủy sản, du lịch và dịch vụ, và một số lĩnh vực khác. Hai bên nhất trí tăng cường liên kết giữa các hệ sinh thái khởi nghiệp và thúc đẩy hợp tác giữa các trung tâm đổi mới sáng tạo.
14. Hai bên đánh giá cao hợp tác nhiều thập kỷ qua giữa Việt Nam và Ấn Độ trong lĩnh vực thăm dò dầu khí; trên cơ sở hợp tác cùng có lợi, hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa các hoạt động thăm dò và khai thác, bao gồm phát triển các giếng mới mà Ấn Độ quan tâm tham gia, trên cơ sở luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
15. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của thương mại điện tử và kinh tế số, nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực này thông qua chia sẻ kinh nghiệm xây dựng chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME), tham gia thương mại điện tử sâu và bền vững hơn vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
16. Hai bên tái khẳng định cam kết tăng cường hợp tác y tế. Trên cơ sở các thành tựu của ngành dược phẩm Ấn Độ, hai bên nhất trí nghiên cứu các biện pháp để thúc đẩy khả năng tham gia của các doanh nghiệp Ấn Độ trong việc đấu thầu mua sắm thuốc tại các cơ sở y tế công lập của Việt Nam từ năm 2027, trên cơ sở thỏa thuận của hai bên. Ghi nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của công nghệ, hai bên khuyến khích hợp tác chuyển đổi số trong ngành y, bao gồm ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong y tế.
17. Trên cơ sở lịch sử lâu đời và di sản phong phú của y học cổ truyền tại hai nước, hai bên nhất trí thúc đẩy trao đổi kiến thức, tăng cường hợp tác nghiên cứu và chia sẻ thực hành, khuyến khích liên kết giữa các cơ quan, tổ chức liên quan. Hai bên hoan nghênh tiến triển trong việc hoàn thiện Bản ghi nhớ về y học cổ truyền và đề xuất Bản ghi nhớ về việc thành lập Trưởng Bộ môn Ayurveda (y học cổ truyền Ấn Độ) tại Việt Nam.
18. Hai bên tái khẳng định hợp tác quốc phòng và an ninh là trụ cột quan trọng của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Ấn Độ; ghi nhận việc triển khai hiệu quả Tuyên bố Tầm nhìn chung về Quan hệ Đối tác Quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ đến năm 2030, cho đây là cơ sở định hướng hợp tác quốc phòng hai nước thời gian tới.
19. Hai bên nhất trí tiếp tục tăng cường hợp tác và mở rộng các hoạt động trong các lĩnh vực quốc phòng truyền thống và mới nổi, bao gồm đối thoại chính sách quốc phòng, diễn tập chung, tham vấn giữa các cơ quan tham mưu, nghiên cứu chung và đồng sản xuất các công nghệ quốc phòng mới, tăng cường các chuyến thăm của tàu hải quân và máy bay không quân, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình, chia sẻ thông tin, hợp tác thủy đạc, tổ chức triển lãm quốc phòng, xây dựng năng lực, thúc đẩy hợp tác công nghiệp quốc phòng, tăng cường an ninh và an toàn hàng hải, phối hợp trong các hoạt động tìm kiếm cứu nạn, trên cơ sở lợi ích và ưu tiên chung, đóng góp cho ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Hai bên nhất trí tăng cường mua sắm quốc phòng giữa hai nước.
20. Hai bên hoan nghênh việc triển khai ổn định các khoản tín dụng quốc phòng Ấn Độ dành cho Việt Nam, góp phần tăng cường năng lực quốc phòng của Việt Nam và thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương.
21. Hai bên tỏ hài lòng về việc triển khai các thỏa thuận quốc phòng song phương, bao gồm Thỏa thuận tương trợ hậu cần, Bản ghi nhớ về hỗ trợ và hợp tác tìm kiếm cứu nạn tàu ngầm, và Ý định thư về tăng cường hợp tác công nghiệp quốc phòng.
22. Hai bên hoan nghênh lực lượng hải quân hai nước tiến hành thành công khảo sát thủy đạc chung vào tháng 5 năm 2025 ngoài khơi bờ biển Việt Nam, nhất trí thường xuyên tiến hành các hoạt động tương tự thời gian tới.
23. Việt Nam đánh giá cao việc Ấn Độ đào tạo cán bộ, nhân viên quốc phòng Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Kỹ thuật và Kinh tế Ấn Độ (ITEC), nâng cao năng lực thông qua các đội huấn luyện lục quân, hải quân và không quân Ấn Độ tại Đại học Thông tin liên lạc (TCU), Học viện Hải quân, Trường Sĩ quan Không quân tại Nha Trang; hỗ trợ Việt Nam thành lập Công viên Phần mềm Lục quân tại Đại học Thông tin liên lạc, Nha Trang. Hai bên hoan nghênh đồng chủ trì Nhóm Công tác Chuyên gia về An ninh mạng trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng (ADMM-Plus EWG) giai đoạn 2027 - 2030.
24. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác pháp luật và tư pháp, triển khai hiệu quả Bản ghi nhớ giữa Bộ Tư pháp Việt Nam và Bộ Luật pháp và Tư pháp Ấn Độ.
25. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Hội đồng An ninh Quốc gia Ấn Độ nhằm thực hiện các mục tiêu chung. Hai bên nhất trí mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực chia sẻ thông tin, an ninh mạng, chống khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia, rửa tiền và lừa đảo trực tuyến. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có, bao gồm Đối thoại An ninh Việt Nam - Ấn Độ.
26. Hai bên hoan nghênh tổ chức thành công Đối thoại Chính sách Không gian mạng Việt Nam - Ấn Độ lần thứ nhất để trao đổi về những diễn biến gần đây trong chính sách không gian mạng, đánh giá tình hình rủi ro mạng, xác định lĩnh vực hợp tác song phương, thảo luận các hoạt động xây dựng năng lực chung và phối hợp tại các diễn đàn đa phương về công nghệ thông tin và truyền thông.
27. Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi kinh nghiệm và mở rộng hợp tác trong lĩnh vực an ninh, bao gồm thúc đẩy hợp tác đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ đào tạo chuyên môn, đào tạo ngoại ngữ, kỹ năng ứng phó sự cố an ninh mạng, các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và các hoạt động hợp tác khác trên cơ sở thống nhất chung.
28. Là các quốc gia ven biển có lịch sử giao lưu lâu đời, Việt Nam và Ấn Độ nhấn mạnh hợp tác hàng hải là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ song phương và nhất trí tăng cường hợp tác hàng hải. Hai bên ghi nhận Đối thoại An ninh Hàng hải đã góp phần củng cố lòng tin và nâng cao hiểu biết về các vấn đề cùng quan tâm và nhấn mạnh cần tổ chức thường xuyên. Việt Nam cảm ơn Ấn Độ mời Việt Nam cử Sĩ quan liên lạc quốc tế tại Trung tâm Hợp nhất Thông tin khu vực Ấn Độ Dương (IFC-IOR) tại Gurugram, Ấn Độ, nhằm tăng cường nhận thức tình hình trên biển.
Thủ tướng Narendra Modi hoan nghênh Việt Nam tham gia Sáng kiến Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (IPOI) và tỏ mong muốn Việt Nam tăng cường hợp tác trong khuôn khổ sáng kiến này. Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp với Ấn Độ và các đối tác khác trong khuôn khổ IPOI, đồng thời thúc đẩy sự bổ trợ giữa IPOI và Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (AOIP), và đẩy mạnh hợp tác thực chất trong Năm Hợp tác Hàng hải ASEAN - Ấn Độ 2026.
29. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác hải dương học, bao gồm xây dựng và vận hành các hệ thống quan trắc đại dương, quản lý dữ liệu, dự báo và cung cấp các dịch vụ biển, đào tạo, nâng cao năng lực và thúc đẩy nghiên cứu khoa học biển. Thủ tướng Narendra Modi hoan nghênh hợp tác với Việt Nam trong xây dựng các cơ sở sản xuất giống và nuôi cá tra, và tạo điều kiện cho hoạt động nhân giống và thu mua vẹm tại Ấn Độ.
30. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của công nghệ số và hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Trung ương Ấn Độ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về đổi mới tài chính và thanh toán số; nhất trí thúc đẩy kết nối các nền tảng thanh toán bán lẻ thông qua mã QR, qua đó tạo thuận lợi cho hoạt động du lịch và giao dịch kinh doanh giữa hai nước.
31. Hai bên nhất trí đẩy mạnh hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược và công nghệ mới nổi, bao gồm hạ tầng số, 6G, trí tuệ nhân tạo, ứng dụng công nghệ vũ trụ và công nghệ hạt nhân, khoa học biển, công nghệ sinh học, dược phẩm, vật liệu tiên tiến và khoáng sản thiết yếu; tập trung vào các sáng kiến mang tính thực tiễn như nghiên cứu chung, thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), phát triển sản phẩm trên cơ sở lợi ích chung.
32. Hai bên ghi nhận các mục tiêu của mỗi nước về khí hậu, phát triển bền vững, các ưu tiên về chuyển đổi năng lượng; nhất trí tăng cường hợp tác năng lượng sạch và năng lượng tái tạo, các công nghệ thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai. Hai bên ghi nhận vai trò của Sáng kiến Sứ mệnh Lối sống vì môi trường (Mission LiFE) và Liên minh Năng lượng mặt trời quốc tế (ISA).
Ấn Độ hoan nghênh quan tâm của Việt Nam về việc tham gia Liên minh Nhiên liệu Sinh học Toàn cầu (GBA); ghi nhận tầm quan trọng của Liên minh Cơ sở hạ tầng chống chịu thiên tai (CDRI) trong việc tăng cường hợp tác quốc tế về ứng phó và giảm nhẹ thiên tai; khuyến khích tăng cường hợp tác ứng dụng công nghệ số và công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp thông minh, quản lý nguồn nước bền vững và kiểm soát ô nhiễm không khí.
33. Hai bên hài lòng ghi nhận tiến triển trong hợp tác sử dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, nhất trí tăng cường triển khai các nội dung hợp tác được xác định tại Kỳ họp lần thứ 4 Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ về năng lượng nguyên tử. Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam mời Ấn Độ tham gia vào lĩnh vực điện hạt nhân tại Việt Nam. Việt Nam cảm ơn Ấn Độ cung cấp Cobalt-60. Hai bên nhất trí xem xét mô hình phù hợp để Ấn Độ tiếp tục cung cấp cho Việt Nam.
34. Hai bên ghi nhận tiến triển trong việc thiết lập Trạm dò tìm, thu nhận và xử lý dữ liệu ASEAN - Ấn Độ tại Việt Nam. Việt Nam nhất trí đẩy nhanh các thủ tục cần thiết để sớm hoàn thiện dự án này.
35. Hai bên hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Công ty Đất hiếm Ấn Độ (IREL) và Viện Công nghệ xạ hiếm thuộc Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (VINATOM) về hợp tác trong lĩnh vực đất hiếm, và nhất trí triển khai sớm và đầy đủ thỏa thuận này.
36. Hai bên đánh giá cao quan hệ đối tác phát triển sâu rộng và có tác động thiết thực giữa hai nước, thông qua các Dự án Tác động Nhanh (QIP) trong khuôn khổ hợp tác Mekong - Sông Hằng, các chương trình học bổng Hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật Ấn Độ (ITEC) và học bổng giáo dục. Hai bên hài lòng ghi nhận việc triển khai 66 dự án QIP do Ấn Độ tài trợ cho 32 trong tổng số 34 tỉnh thành của Việt Nam, mang lại tác động kinh tế-xã hội thiết thực cho địa phương và cộng đồng.
37. Hai bên nhấn mạnh chương trình ITEC là trụ cột quan trọng trong hợp tác phát triển. Việt Nam đánh giá cao Ấn Độ đã hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ Việt Nam thông qua chương trình ITEC, bao gồm các khóa đào tạo chuyên sâu, cũng như các học bổng của Hội đồng Giao lưu văn hóa Ấn Độ (ICCR).
38. Hai bên khuyến khích tăng cường trao đổi sinh viên, giảng viên và nghiên cứu giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức của hai nước; hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ giữa Đại học Nalanda và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
39. Việt Nam đánh giá cao việc Ấn Độ rước Xá lợi Đức Phật sang Việt Nam tôn trí từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2025. Hai Lãnh đạo ghi nhận sự hưởng ứng sâu rộng của người dân Việt Nam đối với Xá lợi Đức Phật, phản ánh liên kết văn minh sâu sắc, di sản tinh thần chung và tình hữu nghị bền chặt giữa hai nước.
40. Hai bên ghi nhận du lịch là động lực quan trọng thúc đẩy giao lưu nhân dân và tăng trưởng kinh tế; hoan nghênh việc ký kết Bản ghi nhớ hợp tác du lịch và nhất trí khuyến khích phát triển du lịch hai chiều bền vững, bao trùm, bao gồm du lịch văn hóa và di sản, du lịch y tế và chăm sóc sức khỏe và các loại hình khác.
Thủ tướng Modi mời du khách Việt Nam tới thăm Con đường Phật giáo tại Ấn Độ. Hoan nghênh việc tăng cường các chuyến bay thẳng giữa hai nước, hai bên khuyến khích cơ quan hàng không dân dụng của hai nước trao đổi nhằm tăng cường hơn nữa kết nối hàng không.
41. Hai bên hoan nghênh việc ký Chương trình Hợp tác Văn hóa giai đoạn 2026 - 2030; nhất trí tiếp tục thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường kết nối nhân dân.
42. Nhấn mạnh mối liên kết văn minh giữa hai nước, Lãnh đạo hai nước khuyến khích tăng cường trao đổi giữa các học giả Phật học, tăng ni, người hành hương và sinh viên hai nước. Việt Nam đánh giá cao cam kết của Ấn Độ trong việc bảo tồn Di sản Thế giới UNESCO Mỹ Sơn, cũng như các hoạt động trùng tu, bảo tồn do Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ triển khai tại các khu A, H và K, dự án đang thực hiện tại các khu E và F, và tại Tháp Nhạn, tỉnh Đắk Lắk.
43. Ấn Độ đánh giá cao Việt Nam ủng hộ tổ chức Ngày Quốc tế Yoga hằng năm tại nhiều tỉnh, thành phố của Việt Nam. Hai bên ủng hộ tăng cường hợp tác hơn nữa giữa các cơ sở yoga hai nước, và thúc đẩy giao lưu văn hóa; nhất trí tăng cường trao đổi văn hóa giữa hai nước và thiết lập vị trí Giáo sư chuyên ngành Ấn Độ học tại Đại học Đà Nẵng và Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội.
44. Hai bên hoan nghênh việc ký Bản ghi nhớ hợp tác giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Mumbai và khuyến khích tăng cường hơn nữa hợp tác và kết nối tương tự.
45. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác về nguồn nhân lực. Hai bên hoan nghênh thiết lập Tham vấn Lãnh sự nhằm xử lý các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có việc tạo thuận lợi di chuyển thị trường lao động.
46. Ghi nhận bối cảnh địa chính trị và kinh tế thế giới nhiều biến động, hai bên nhấn mạnh sự hội tụ chiến lược ngày càng gia tăng giữa Việt Nam và Ấn Độ nhằm thúc đẩy một trật tự quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế, trên cơ sở hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng ở khu vực và thế giới. Hai bên kêu gọi tăng cường tiếng nói và vai trò của các nước phương Nam trong quản trị toàn cầu.
47. Hai bên nhất trí tăng cường phối hợp tại các diễn đàn đa phương, trong đó có Liên hợp quốc. Tái khẳng định cam kết củng cố chủ nghĩa đa phương, hai bên ủng hộ mạnh mẽ cải cách các tổ chức quốc tế, bao gồm Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, nhằm bảo đảm tính đại diện và phản ánh đầy đủ hơn thực tiễn hiện nay. Thủ tướng Modi đánh giá cao Việt Nam tiếp tục ủng hộ Ấn Độ trở thành Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc khi cơ quan này được mở rộng.
48. Việt Nam hoan nghênh Ấn Độ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch BRICS năm 2026, Ấn Độ tái khẳng định cam kết ủng hộ Việt Nam trong vai trò đối tác BRICS.
49. Hai bên ghi nhận Việt Nam là một trụ cột quan trọng trong Chính sách Hành động Hướng Đông, Tầm nhìn MAHASAGAR và Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Ấn Độ, góp phần thúc đẩy sự tham gia của Ấn Độ với Tiểu vùng Mekong, ASEAN và khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Hai bên tái khẳng định tầm nhìn chung về một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do, rộng mở và dựa trên luật pháp quốc tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự ủng hộ nhất quán của Ấn Độ đối với đoàn kết ASEAN và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng khu vực. Hai bên ủng hộ việc tiếp tục củng cố Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện ASEAN - Ấn Độ, bổ trợ cho quan hệ song phương của Ấn Độ với các nước thành viên.
50. Nhấn mạnh liên hệ giữa an ninh và thịnh vượng, hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc không quân sự hóa và thực hiện tự kiềm chế, không có các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình hoặc gia tăng căng thẳng, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Hai bên khẳng định UNCLOS là khuôn khổ pháp lý toàn diện điều chỉnh mọi hoạt động trên các vùng biển và đại dương; tiếp tục kêu gọi thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm hoàn tất đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS, không làm phương hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các quốc gia, kể cả những quốc gia không phải là bên tham gia đàm phán.
51. Hai bên lên án mạnh mẽ chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện, trong đó có khủng bố xuyên biên giới. Hai bên kêu gọi chính sách không khoan nhượng với khủng bố, thúc đẩy các nỗ lực quốc tế phòng, chống khủng bố toàn diện và duy trì, bao gồm thông qua Liên hợp quốc và Lực lượng Đặc nhiệm Tài chính (FATF). Hai bên kêu gọi việc ngăn chặn các mạng lưới tài trợ và cung cấp nơi trú ẩn cho khủng bố, triệt phá cơ sở hạ tầng khủng bố và nhanh chóng đưa các đối tượng khủng bố ra trước công lý.
52. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trân trọng cảm ơn Thủ tướng Modi đã đón tiếp nồng hậu và chu đáo, và trân trọng mời Thủ tướng Modi thăm Việt Nam.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Hàng loạt sự kiện diễn ra vào 14/5 trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Donald Trump, từ lễ đón tại Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh, tới hội đàm song phương và tham quan công viên Thiên Đàn.
Tuy nhiên, một vài trục trặc nhỏ đã xảy ra. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent bị chặn ở cửa khi đang bước vào hội trường Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh để dự hội đàm giữa phái đoàn hai nước.
Video cho thấy nhân viên an ninh Trung Quốc chặn ông Bessent lại bên ngoài cửa hội trường, chỉ tay vào ve áo của ông và nói bằng tiếng Anh: "Ghim cài, ghim cài". Bộ trưởng Mỹ tỏ ra lúng túng, quay sang bên phải, nơi có một người đứng giải thích với nhân viên an ninh Trung Quốc.
Sau trao đổi, có người trong nhóm tùy tùng đưa cho ông Bessent một vật nhỏ, dường như là ghim cài áo dùng cho sự kiện hội đàm. Ông Bessent sau đó bước vào hội trường.
Sau hội đàm, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đến thăm di tích lịch sử Thiên Đàn, nơi các phóng viên Mỹ bị đưa vào một căn phòng và không được phép đi theo hai lãnh đạo trong gần 30 phút, vì lực lượng an ninh Trung Quốc từ chối cho một mật vụ Mỹ mang theo vũ khí vào bên trong.
Cuối cùng, sau một cuộc thảo luận dài và căng thẳng, hai bên đã đi tới thỏa hiệp và nhóm phóng viên Mỹ ra khỏi phòng, tiếp tục đưa tin về sự kiện.
Tin Gốc: Vnexpress
Thế Giới
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm Ấn Độ và Sri Lanka: Từ Biển Đông đến Ấn Độ Dương

Điểm nhấn của chuyến thăm là Việt Nam nâng cấp quan hệ với cả hai nước: "Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện tăng cường" với Ấn Độ, và "Quan hệ đối tác toàn diện" với Sri Lanka.
Xuyên suốt chuyến thăm Ấn Độ và Sri Lanka của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có thể thấy rõ tình cảm đặc biệt mà lãnh đạo cùng nhân dân hai nước này dành cho đất nước, con người Việt Nam.
Hình ảnh chiếc cầu vượt biển mang tính biểu tượng tại Mumbai, bang Maharashtra (Ấn Độ) được thắp sáng trong đêm 7-5 bằng hình ảnh Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi để lại ấn tượng không chỉ là sự tinh tế của Ấn Độ trong ngoại giao.
Cử chỉ đó còn hàm ý mong muốn củng cố hơn nữa các cầu nối vững chắc cho quan hệ giữa hai đất nước bằng hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ, du lịch...
Tại Sri Lanka, dù trời đã về khuya đêm 7-5, lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại sân bay vẫn ấm áp và trọng thị. Đích thân Thủ tướng Sri Lanka Harini Amarasuriya đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại chân cầu thang máy bay.
Trên các tuyến đường chính của thủ đô Colombo, quốc kỳ hai nước cùng chân dung nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam và khẩu hiệu chào mừng bằng 4 thứ tiếng được treo trang trọng.
Theo giới quan sát, sự tiếp đón trọng thị và có nhiều biệt lệ của Ấn Độ và Sri Lanka với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ xuất phát từ nền tảng tin cậy chính trị vững chắc hay tình hữu nghị bền chặt. Những cử chỉ ngoại giao đó còn phản ánh kỳ vọng của New Delhi và Colombo vào tương lai phát triển quan hệ với Hà Nội và đặc biệt đánh giá cao vị thế và vai trò của Việt Nam trên thế giới.
Trong bối cảnh các tuyến thương mại, chuỗi cung ứng và cạnh tranh chiến lược dịch chuyển về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, Ấn Độ cùng với Sri Lanka có vị trí án ngữ các tuyến hàng hải quốc tế huyết mạch của thế giới. Việt Nam, một nền kinh tế mở, đang đa dạng hóa thị trường, mong có thêm những "cửa" kết nối Nam Á và Ấn Độ Dương. Ở chiều ngược lại, Ấn Độ và Sri Lanka thì cần những đối tác có năng lực sản xuất, thương mại để hội nhập sâu với ASEAN.
Gặp nhau ở nhu cầu bổ trợ như vậy, nên hai bên có lý do để đi nhanh hơn, thực chất hơn.
Bộ trưởng Ngoại giao, Lao động nước ngoài và Du lịch Sri Lanka Vijitha Herath chia sẻ, nước này đặt chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong bối cảnh Colombo đang tìm kiếm việc sớm trở thành Đối tác Đối thoại theo lĩnh vực của ASEAN và tư cách thành viên của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) - những tổ chức, hiệp định mà Việt Nam là thành viên ngày càng quan trọng.
Nếu phải chọn một từ khóa cho chuyến thăm vừa qua, "định hình" có lẽ là từ thích hợp. Trên nền những ký ức tốt đẹp giữa Việt Nam với Ấn Độ và Sri Lanka, những cam kết chính trị từ cấp cao nhất đã được công bố: nâng tầm quan hệ Việt Nam - Ấn Độ lên Đối tác chiến lược toàn diện tăng cường và thiết lập Đối tác toàn diện Việt Nam - Sri Lanka.
Khuôn khổ quan hệ mới hay "chiếc khung" của hợp tác trong giai đoạn mới đang được xây dựng bằng những trụ cột kinh tế, thương mại, đầu tư, an ninh - quốc phòng, khoa học - công nghệ, giao lưu nhân dân.
Tại Ấn Độ, lãnh đạo hai nước đặt ra mục tiêu mới cho hợp tác thương mại bằng con số 25 tỉ USD theo hướng cân bằng và bền vững hơn vào năm 2030. Còn tại Sri Lanka ngày 8-5, lãnh đạo hai bên nhất trí triển khai các biện pháp đột phá nhằm sớm đạt mục tiêu kim ngạch thương mại 1 tỉ USD trong tương lai gần - tức gần gấp 5 lần con số hiện nay.
Mức độ thực chất được thể hiện ở các hoạt động kết nối doanh nghiệp Việt Nam với Ấn Độ và Sri Lanka.
27 thỏa thuận hợp tác liên quan xúc tiến thương mại, hàng không, văn hóa - du lịch, khách sạn, logistics, hạ tầng trạm sạc xe điện, trí tuệ nhân tạo, dịch vụ hạ tầng sân bay... được trao tại Mumbai vào ngày 7-5 giữa doanh nghiệp hai bên trước sự chứng kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Còn tại Sri Lanka, dù lịch trình bận rộn, ông vẫn đến dự và phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn doanh nghiệp hai nước vào ngày 8-5 và chứng kiến nhiều thỏa thuận được trao.
Số lượng thỏa thuận, sự quan tâm của doanh nghiệp trải rộng trên nhiều ngành, lĩnh vực phản ánh sự ủng hộ và đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp với Chính phủ mỗi nước trong việc đưa quan hệ ngày càng thực chất, đi vào chiều sâu.
Nhìn lại chuyến thăm và từ phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước Quốc hội Sri Lanka ngày 8-5, chuyến công tác lần này đã gợi hình ảnh đẹp về những chiếc cầu hữu nghị từ Biển Đông sang Ấn Độ Dương đang được gia cố bằng những nhịp hợp tác mới thực chất hơn nữa, đo đếm được và hướng đến người dân.
Chuyến thăm còn chuyển tải một thông điệp ngoại giao nhất quán của các nước đang phát triển, rằng trong bối cảnh thế giới biến động, họ tìm kiếm đối thoại và hợp tác thay cho đối đầu và chia rẽ; chọn đi cùng nhau để tiến xa hơn và củng cố năng lực tự cường, tự chủ chiến lược.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

