Nội dung trên nằm trong nghị định 88 của Chính phủ về quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo, có hiệu lực từ ngày 15/5.
Cụ thể, mỗi người học sẽ được cấp một mã số hồ sơ học tập suốt đời, xác lập theo số định danh cá nhân. Nó được dùng làm mã khóa để truy cập, khai thác thông tin được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo.
Hồ sơ học tập suốt đời bao gồm toàn bộ dữ liệu số được ghi nhận trong quá trình học như học bạ, văn bằng, chứng chỉ, kết quả học tập, đánh giá năng lực, các thành tích học tập khác.
Các dữ liệu này do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tạo lập, ký số và cũng được tích hợp trên ứng dụng VNeID. Thời hạn lưu trữ là vĩnh viễn.
Người dân có thể sử dụng các dữ liệu này thay thế những giấy tờ truyền thống. Hiện, học bạ và và các loại văn bằng được sử dụng phổ biến trong các thủ tục như chuyển trường, nhập học, ứng tuyển việc làm…
Cơ quan quản lý, các trường học cũng có thể tra cứu, sử dụng thông tin nhưng phải theo thẩm quyền, mục đích và phải tuân thu các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn thành việc cấp mã hồ sơ học tập suốt đời cho toàn bộ người học trước ngày 1/1/2027.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu học bạ, văn bằng số cho người học theo mã định danh cá nhân đã được nêu trong chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Tháng 9/2025, Thủ tướng giao các bộ ngành, địa phương sớm cắt giảm hồ sơ với hơn 320 thủ tục hành chính đã được tích hợp trên VNeID thay thế giấy tờ vật lý. Lãnh đạo Chính phủ đề nghị cán bộ, công chức, viên chức khi làm thủ tục hành chính không được yêu cầu công dân nộp, xuất trình giấy tờ đã có thông tin tích hợp trên ứng dụng này.
Dương Tâm
Nguồn: https://vnexpress.net/cap-ma-ho-so-hoc-tap-suot-doi-theo-dinh-danh-ca-nhan-5056888.html

Thực tế trên chỉ ra dù vẫn là điểm đến quen thuộc, sức hút của Úc trong mắt phụ huynh và người học lại đang có dấu hiệu suy giảm, nhất là khi nước này liên tục phát đi tín hiệu thắt chặt chính sách visa và quyền làm việc trong vài năm trở lại đây.
Theo thống kê công bố hồi tháng 4 của Bộ Giáo dục Úc, tổng số sinh viên quốc tế đến nước này học tập đến hết năm 2025 là 845.933 người, giảm 1% so với 2024. Số du học sinh Việt là 36.595, giảm 2,7% so với năm trước và xếp thứ 4 về số lượng. Trong đó, 30.619 người là người học cũ, tăng 8,8%. Còn lại (5.976) là những người mới tới Úc lần đầu để học tập, giảm 36,8% so với năm 2024.
Đây cũng là năm thứ hai liên tiếp số lượng tân sinh người Việt đến Úc giảm mạnh, khi năm 2024 ghi nhận tỷ lệ giảm ở mức 32,9% - ít hơn 4.632 người so với 2023. Trong khi đó, số lượng tân sinh từ năm 2021 tăng đều đến 2023, từ gần 1.800 tới hơn 6.200, và cuối cùng là hơn 14.000. Điều này góp phần khiến 2023 bùng nổ về số lượng khi đông hơn năm trước tới 46,2% - mức tăng cao nhất từ 2009 tới nay và lần đầu vượt hơn 30.000 người.
Việc gia tăng số lượng tân sinh cũng giúp năm 2024 sau đó lập kỷ lục cao nhất mọi thời về số người Việt du học Úc, ở mức 37.598 và vào top 5 nhóm đông nhất ở xứ sở chuột túi. Số lượng người Việt cũng tăng trưởng đều đặn từ 2021-2024 trước khi giảm nhẹ vào 2025. Trước đó, số lượng người Việt du học Úc cũng tăng đều trong giai đoạn 2015-2019, rồi giảm đáng kể trong thời điểm Covid-19 bùng nổ là 2020 và 2021.
Đà giảm vẫn đang diễn ra vào năm 2026. Theo dữ liệu cập nhật nhất tính tới tháng 1, có 24.789 người Việt hiện du học Úc, ít hơn 10,4% so với cùng kỳ năm ngoái.
Dù giảm nhẹ số lượng vào năm 2025, song nhóm du học sinh Việt lại tăng hạng, vào top 4 cộng đồng sinh viên quốc tế đông nhất tại Úc - lập lại thành tích cách đây 4 năm. Song thứ hạng này chưa phải cao nhất, khi 3 năm liên tiếp từ 2013-2015 số du học sinh Việt tại Úc luôn nằm trong top 3.
Về phân bổ khóa học, bởi một sinh viên quốc tế có thể ghi danh vào nhiều khóa khác nhau nên tổng số lượt ghi danh cao hơn tổng số du học sinh. Theo thống kê tháng 1, người Việt ghi danh nhiều nhất ở bậc giáo dục ĐH với 15.584 lượt, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái. Xếp sau đó là đào tạo nghề (hơn 2.600) và giáo dục phổ thông (hơn 2.400).
Trong khi đó, lượt ghi danh sụt mạnh nhất ở các khóa tiếng Anh (ELICOS), giảm tới 56,5%.
Nhìn chung, người Việt chuộng nhất nhóm ngành quản trị và thương mại; xếp sau đó là các chương trình liên ngành và công nghệ thông tin. Trong khi đó, lĩnh vực ít thu hút nhất với sinh viên Việt luôn là nông nghiệp, môi trường và các ngành học liên quan.
Đằng sau số lượng sinh viên quốc tế là một bức tranh phức tạp hơn về tỷ lệ chấp thuận cấp visa du học cho các đương đơn nộp hồ sơ từ ngoài lãnh thổ Úc. Theo thống kê của Bộ Nội vụ Úc, 40,8% hồ sơ xin học ĐH bị từ chối cấp visa du học trong tháng 3, mức cao nhất trong 21 năm qua kể từ khi công bố dữ liệu. Tỷ lệ này cao hơn 8,4% so với tháng trước, và hai tháng qua cũng lần lượt lập kỷ lục mới về tỷ lệ từ chối cấp visa trên toàn cầu.
Tại Việt Nam, bức tranh có phần sáng sủa hơn khi chỉ 9% đương đơn xin học ĐH tại Úc bị từ chối cấp visa trong tháng 3 vừa qua và con số vào tháng 2 là 16,6%. Đây đều là tỷ lệ gần như tương tự mọi năm, không có chênh lệch đáng kể.
Nhìn rộng hơn ở bức tranh chấp thuận cấp visa du học cho đương đơn Việt Nam nằm ngoài lãnh thổ Úc, năm tài chính 2024-2025 (bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc vào tháng 6 năm sau-PV) ghi nhận tỷ lệ 81,1%, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm ngoái và cũng là lần tăng đầu tiên sau 4 năm. Điều này đồng nghĩa, cứ 5 người học Việt Nam xin visa Úc thì có tới 4 người thành công.
Tuy nhiên, bức tranh lại khá phân mảnh nếu xét riêng từng mục đích. Với những trường hợp muốn theo học các khóa đào tạo nghề, tỷ lệ cấp visa du học chỉ là 7%, giảm đến 35,7% so với năm trước. Tương tự, nhóm ứng tuyển bậc giáo dục phổ thông giảm từ 81,5% xuống còn 65,5%, trong khi những đương đơn muốn học các khóa tiếng Anh chỉ có 45,8% cơ hội được cấp visa - dù tỷ lệ đã tăng thêm 12,8% so với năm ngoái.
Nhóm muốn học các trường ĐH cũng đang chứng kiến tỷ lệ đậu visa giảm dần trong 4 năm qua dù vẫn duy trì ở mức cao, từ 99,7% vào 2020-2021 xuống còn 87,1% ở năm xét duyệt mới nhất. Tương tự, nhóm không cấp bằng và nhóm nghiên cứu sau ĐH vốn có tỷ lệ chấp thuận cấp visa 100% trong 2022-2023, đến 2024-2025 giảm nhẹ xuống chỉ còn 96,9% và 99,5%.
Riêng lĩnh vực đối ngoại hoặc quốc phòng luôn duy trì tỷ lệ đậu visa 100% từ năm tài chính 2015-2016 tới nay.
Từ 2024 đến nay, Úc công bố nhiều điều chỉnh về chính sách visa và quyền làm việc, được cho là để quản lý, kiểm soát tốt hơn ngành giáo dục quốc tế cũng như số lượng người nhập cư. Để chọn lọc những đương đơn chân chính muốn du học nước này, Úc ra mắt bài thi GS thay thế cho GTE và nhiều lần thay đổi cơ chế xét duyệt visa du học, từ Chỉ thị 107 tới Chỉ thị 111 và nay là Chỉ thị 115.
Ngoài ra, Úc cũng ban hành nhiều điều chỉnh với hai loại visa phổ biến với sinh viên quốc tế.
Với visa du học, nước này tăng yêu cầu chứng minh tài chính, năng lực tiếng Anh và lệ phí ứng tuyển - lên mức 2.000 AUD (khoảng 38 triệu đồng) và không hoàn lại nếu đương đơn bị từ chối. Với visa làm việc sau tốt nghiệp, Úc rút thời gian hiệu lực từ 4-6 năm xuống còn 2-3 năm, bổ sung tiêu chí ứng tuyển và mới đây tăng gấp đôi lệ phí lên 4.600 AUD (khoảng 87 triệu đồng) - cũng không hoàn lại nếu đương đơn trượt visa.
Tuy nhiên, nước này thời gian qua cũng khuyến khích các trường tăng cường hợp tác với khu vực Đông Nam Á để hỗ trợ chiến lược kinh tế Đông Nam Á của Úc đến năm 2040, thông qua các chương trình đào tạo, quan hệ đối tác, học bổng...
Song song đó, các ĐH Úc cũng ngày càng ưu ái tuyển sinh du học sinh Việt, thể hiện rõ nét qua chính sách tuyển thẳng học sinh Việt Nam vào năm nhất ĐH chứ không bắt buộc phải học khóa dự bị như trước, cũng như ra mắt các chương trình học bổng dành riêng cho Việt Nam. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều trường Úc trực tiếp đến Việt Nam để tư vấn tuyển sinh và kết nối với chính quyền, cựu sinh viên và công ty du học.
Tin Gốc: Thanh Niên

Phát biểu tại hội thảo "Đào tạo, trọng dụng tài năng trong bối cảnh mới" hôm qua 8.4, GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục cho rằng đào tạo và sử dụng nhân tài là giải pháp then chốt để đạt mục tiêu tăng trưởng "hai con số". Mặc dù các trường đại học đang được tạo điều kiện tối đa để trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và hạt nhân của hệ sinh thái khoa học công nghệ nhưng "chương trình tài năng vẫn còn là thuật ngữ xa xỉ" và "nhân tài ở đâu đó chứ không hiện hữu quanh ta".
"Chính sách phát hiện và bồi dưỡng nhân tài còn thiếu hệ thống và chưa liên tục. Liên kết giữa đào tạo - nghiên cứu - sử dụng còn lỏng lẻo. Chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển chưa đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa nhân lực chất lượng cao. Hiện tượng "chảy máu chất xám" và lãng phí nhân tài vẫn còn hiện hữu", GS Nguyễn Tiến Thảo nói.
GS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ, ĐH Quốc gia Hà Nội cho biết, dù điều kiện thực hành ở bậc đại học đã có những bước tiến dài, nhưng nếu nhìn vào các phòng thí nghiệm dành cho hệ sau đại học (thạc sĩ và tiến sĩ), Việt Nam vẫn còn ở khoảng cách "rất xa so với thế giới". Mặt khác, chúng ta chưa tạo ra được môi trường để những người có tài năng thiên bẩm mang kiến thức vào thực tế cuộc sống và dẫn dắt xã hội.
TS Đặng Văn Huấn, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học cũng chia sẻ diễn biến triển khai Đề án đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghệ cao giai đoạn 2025 - 2035 và định hướng tới 2045 mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt hồi tháng 5.2025.
Theo đó, Bộ GD-ĐT đã có một lộ trình khắt khe để đưa thuật ngữ "tài năng" thoát khỏi sự xa xỉ và trở nên thực chất hơn. Chuẩn chương trình đào tạo tài năng sẽ không dành cho số đông. Để được gọi là "tài năng", sinh viên phải vượt qua những rào cản đầu vào gắt gao: hoặc là những người đoạt giải quốc gia, quốc tế; hoặc phải nằm trong nhóm 20% có điểm số cao nhất toàn quốc.
TS Đặng Văn Huấn đưa ra một bảng tiêu chí lựa chọn cơ sở đào tạo tài năng với thang điểm 100 đầy thách thức. Chẳng hạn, một trường đại học muốn đào tạo tài năng phải có uy tín trong đào tạo tiến sĩ (20 điểm), có hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại (10 điểm) và các nhóm nghiên cứu mạnh với nhiều công bố quốc tế (15 điểm). Trong đợt xét chọn đầu tiên, chỉ có 92 ngành đào tạo đáp ứng được các tiêu chuẩn này, phần lớn tập trung vào lĩnh vực kỹ thuật và máy tính.
Nguồn: https://thanhnien.vn/chuong-trinh-dao-tao-tai-nang-van-con-la-thuat-ngu-xa-xi-185260408211335956.htm
Giáo Dục
30 nhân viên y tế trường học thấp thỏm vì "vắng tên" tuyển dụng viên chức

Ngày 13/5, thông tin từ UBND tỉnh Đắk Lắk, Chủ tịch UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo UBND phường Buôn Ma Thuột kiểm tra, rà soát và giải quyết theo quy định đối với đơn kiến nghị tập thể của nhân viên y tế học đường trên địa bàn, liên quan đến đề nghị được xem xét đưa vào danh sách tiếp nhận viên chức.
UBND phường Buôn Ma Thuột được giao trả lời đơn cho tập thể nhân viên y tế học đường và báo cáo về UBND tỉnh Đắk Lắk trong tháng 5.
Trước đó, ngày 11/2, Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Đắk Lắk có công văn gửi các xã, phường trên địa bàn về việc rà soát và đăng ký nhu cầu tiếp nhận vào làm viên chức, tuyển dụng nhà giáo, nhân viên công tác tại các cơ sở giáo dục công lập. Các địa phương được yêu cầu rà soát lao động hợp đồng đủ tiêu chuẩn, điều kiện, tổng hợp danh sách gửi về sở trước ngày 30/3.
Đến ngày 17/4, Sở GD&ĐT Đắk Lắk tiếp tục có văn bản đề nghị các địa phương gửi danh sách đăng ký tiếp nhận vào viên chức, hạn gửi hồ sơ trước ngày 25/4. UBND các xã, phường khẩn trương triển khai thực hiện và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin báo cáo.
"Quá thời hạn nêu trên, nếu UBND các xã, phường chưa gửi báo cáo được hiểu là không có nhu cầu đăng ký tiếp nhận, tuyển dụng viên chức công tác tại địa phương", văn bản của Sở GD&ĐT Đắk Lắk nêu rõ.
"Trao đổi với phóng viên Dân trí, lãnh đạo Phòng Tổ chức cán bộ, Sở GD&ĐT Đắk Lắk xác nhận đã quá thời gian nhận báo cáo đăng ký tiếp nhận viên chức từ các xã, phường nhưng trong danh sách của phường Buôn Ma Thuột gửi đến sở không có nhân viên y tế học đường.
"Nếu phía phường Buôn Ma Thuột bổ sung danh sách đăng ký tiếp nhận viên chức đối với nhân viên y tế trường học, Sở vẫn tiếp nhận để tổng hợp xây dựng kế hoạch triển khai các bước tuyển dụng tiếp theo", vị lãnh đạo thông tin.
Một nữ nhân viên y tế trường học tại phường Buôn Ma Thuột cho biết chị đã gắn bó với công việc hơn 13 năm, được ký hợp đồng không xác định thời hạn, thu nhập hằng tháng chỉ khoảng 6 triệu đồng. Theo chị, việc được tiếp nhận vào viên chức là mong mỏi suốt nhiều năm qua của đội ngũ y tế học đường.
"Nhiều đồng nghiệp ở các địa phương khác đều được đưa vào danh sách gửi sở để xem xét tiếp nhận viên chức, trong khi 30 nhân viên y tế trường học tại phường Buôn Ma Thuột lại không có tên, dù điều kiện, tiêu chuẩn tương tự nhau", nữ nhân viên bày tỏ băn khoăn.
Lo ngại quyền lợi bị ảnh hưởng khi đã quá hạn gửi danh sách về Sở GD&ĐT, tập thể nhân viên y tế trường học tại phường Buôn Ma Thuột đã làm đơn kiến nghị gửi các cơ quan chức năng mong được xem xét, giải quyết.
Một nữ nhân viên khác cho rằng, chị đã có 12 năm công tác, vừa làm y tế học đường, vừa kiêm nhiệm thủ quỹ của trường với mức lương khoảng 5,8 triệu đồng/tháng. "Tuổi chúng tôi giờ cũng không còn trẻ, chỉ mong được nhận vào viên chức để ổn định cuộc sống và yên tâm gắn bó với nghề", người này tâm sự.
Tin Gốc: Dân Trí

