Bố tôi là con trai trong gia đình có bảy anh em, sáu chị em gái và một mình bố là con trai. Từ nhỏ, tôi đã nghe ông bà nội nói với bố mẹ rằng: “Sau này nhà đất để cho con, nên giờ phải lo cho các chị em”.
Các cô đi lấy chồng, bố mẹ tôi phải chuẩn bị của hồi môn. Hồi tôi học lớp 2, mẹ mới dành dụm mua được chiếc xe đạp cho tôi đi học. Tôi chạy được vài hôm thì chiếc xe được mang cho cô út làm của hồi môn khi lấy chồng.
Sau này các cô cần tiền mua nhà đất, bố mẹ tôi tiếp tục cho mượn. Gia đình tôi chăm sóc ông bà, sống cạnh ông bà, gánh vác việc lớn nhỏ trong nhà như một điều mặc nhiên.
Rồi bố mẹ tôi mua thêm 500 m2 đất sát bên nhà ông bà nội năm 1998. Sau đó đi làm ăn xa, phần đất này nhập chung vào sổ của ông bà cho tiện quản lý. Khi đó chẳng ai nghĩ phải giấy tờ rõ ràng với người thân trong gia đình. Đó là sai lầm lớn nhất.
Năm 2015, ông nội mất, có để lại di chúc với người làm chứng. Nhưng việc sang tên không thực hiện được vì bà nội đã mất năng lực nhận thức. Từ đó đến nay, gia đình tôi vẫn nuôi bà, lo toàn bộ chi phí, nhưng muốn làm bất cứ thủ tục gì cũng phải đi xin chữ ký từng người.
Chỉ cần một người sai giấy tờ hoặc không hợp tác là mọi thứ đình trệ. Gần đây, người cô thứ 5 của tôi mất đột ngột, để lại khối tài sản lớn mà không có di chúc. Theo luật, bà nội tôi thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng hai người con của cô.
Từ đây, mọi thứ bắt đầu thay đổi. Một người anh họ (con của cô Hai) làm đơn kiện vì cho rằng gia đình anh ta có quyền hưởng một phần di sản mà bà ngoại (của anh ấy, tức bà nội tôi) nhận được.
Hành động này giống như một tín hiệu cho cả dòng họ: Hóa ra chỉ cần nghiên cứu luật thừa kế cho kỹ, là có thể nhận tiền rất lớn, bất kể trước đó có chăm sóc, giúp đỡ hay gắn bó gì hay không.
Những người từng ký giấy từ chối tài sản bắt đầu thay đổi ý định. Người ta quay sang yêu cầu chia lại mảnh đất hơn 1.000 m2 của ông bà nội, dù một nửa trong đó là đất bố mẹ tôi bỏ tiền mua từ nhiều năm trước.Tất cả những chuyện “ai nuôi ông bà”, “ai hy sinh nhiều hơn”, “ai từng được hỗ trợ khi ra riêng” bỗng trở nên vô nghĩa.
Tôi băn khoăn rằng vấn đề thừa kế, theo quy định hiện nay gần như không phản ánh được công sức và trách nhiệm thực tế trong gia đình Việt Nam.
Người chăm sóc cha mẹ nhiều nhất chưa chắc được bảo vệ nhiều hơn. Người từng nhận hỗ trợ lớn trước đây cũng không bị tính đến khi chia di sản. Mọi thứ cuối cùng chỉ còn phụ thuộc vào tên trên giấy tờ và thứ tự hàng thừa kế.
Nghịch lý là để tránh tranh chấp, các gia đình giờ buộc phải sống với nhau như những đối tác pháp lý:
– Cho mượn tiền phải ký giấy.
– Mua đất phải tách riêng.
– Chăm sóc cha mẹ cũng nên ghi nhận chi phí, và mọi tài sản đều cần rạch ròi từ đầu.
Nếu không, đến khi đất đai tăng giá lên vài chục tỷ đồng, tình thân rất khó chống lại lòng tham và cảm giác “mình bị thiệt”.
– Hoặc luật thừa kế cần thay đổi để ghi nhận rõ hơn yếu tố đóng góp và trách nhiệm gia đình.
– Hoặc anh em ruột phải chấp nhận sống lạnh lùng, sòng phẳng với nhau ngay từ đầu.
Bởi trong thời buổi này, chỉ cần một chữ “tin nhau” thôi là không còn đủ nữa.
Tôi đọc được một bài viết trên mạng xã hội, một người chia sẻ cho người khác mượn 4 chỉ vàng ở thời điểm giá 16,5 triệu đồng một chỉ. Người mượn hứa khi giá lên sẽ trả vàng, giá xuống sẽ trả tiền.
Oái ăm là sau vài tháng, giá vàng tuột xuống còn 15,1 triệu đồng một chỉ, "họ đem đến 4 chỉ để trả thì nên nói gì cho hợp lý".
Tôi thấy rất nhiều người bàn tán và cho rằng: "Có trả là may". Với kinh nghiệm đau thương của một người từng mượn tiền, nhận tiền mặt nhưng phải trả vàng tương đương vì người cho mượn nói: "Thay vì ra tiệm vàng bán lấy tiền đưa cho, có tiền sẵn đây nên đưa luôn", tôi có vài ý kiến như sau:
Thứ nhất, thông thường vay thì có lãi, còn mượn thì không. Cho mượn thường là người thân quen giúp đỡ nhau. Nếu số tiền lớn và trong thời gian dài từ một năm trở nên, để bảo toàn tài sản, người cho mượn thường sẽ đưa vàng hoặc quy ra vàng.
Thứ hai, phải tôn trọng thỏa thuận. Nếu lúc mượn đã hứa "giá lên trả vàng, giá xuống trả tiền" thì phải thực hiện. Tôi nghĩ lúc gặp khó khăn, phải đi vay mượn, hỏi 10 người thì chừng hai người sẵn lòng giúp đỡ. Vì thế, đây có thể xem như là một cái ơn nghĩa nên đừng thắc mắc và bội tín, dù giá có lên cỡ nào cũng phải mua để trả lại.
"Câu chuyện 'tăng hay giảm tuổi nghỉ hưu?' đang được nhắc đến nhiều trong thời gian qua. Nhưng theo tôi, đó chưa phải là gốc rễ của vấn đề hưu trí hiện nay. Điều quan trọng hơn cả là cách doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động như thế nào?
Tôi làm việc trong doanh nghiệp và chứng kiến một thực tế khá phổ biến: mức lương thực nhận (NET) của người lao động đã tăng lên đáng kể, nhưng tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội lại thấp hơn rất nhiều. Có nơi chỉ kê khai bằng một phần ba thu nhập thực tế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi lâu dài của người lao động, đặc biệt là khi về hưu.
Vì vậy, với tôi, nghỉ hưu ở tuổi nào không phải là vấn đề lớn. Sớm hay muộn đều có thể chấp nhận được, miễn là doanh nghiệp đóng bảo hiểm đúng và đủ theo thu nhập thực tế. Khi đó, dù có nghỉ hưu sớm và bị giảm tỷ lệ phần trăm lương hưu, người lao động vẫn có thể đảm bảo cuộc sống.
Một ví dụ rất cụ thể: hiện nay có người lao động nhận lương 10 triệu đồng mỗi tháng, nhưng doanh nghiệp chỉ đóng bảo hiểm trên mức 5 triệu. Có những người đã 50 tuổi vẫn đóng ở mức này. Nếu họ nghỉ hưu trong vài năm tới, lương hưu sẽ rất thấp, khó đủ sống. Vì vậy, dù sức khỏe giảm sút, họ vẫn phải cố gắng đi làm.
>> 'Tuổi già dễ thở hơn khi lương hưu không phải gánh thuế'
Ngược lại, nếu doanh nghiệp đóng bảo hiểm đúng mức 10 triệu đồng, thì dù nghỉ hưu ngay, họ cũng có thể nhận khoảng 6,5-7,5 triệu đồng mỗi tháng. Khi đó, việc lựa chọn nghỉ sớm hay tiếp tục làm việc sẽ trở nên chủ động và nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
Bản thân tôi có mức lương NET khoảng 30 triệu đồng mỗi tháng, nhưng công ty chỉ kê khai đóng bảo hiểm ở mức 12,5 triệu, phần còn lại được tính là tiền thưởng để không phải đóng bảo hiểm. Với cách tính như vậy, kể cả khi tôi làm việc đến 70 tuổi, lương hưu dự kiến cũng chỉ hơn 7 triệu đồng. Rõ ràng, điều này khiến tôi không muốn nghỉ hưu sớm, dù có thể đã đủ tuổi".
Đó là quan điểm của độc giả Macvanlong xung quanh đề xuất giảm tuổi hưu ngành sản xuất, tăng lương tối thiểu vùng, mới được Công đoàn cơ sở các doanh nghiệp tại Bắc Ninh kiến nghị. Đây không phải lần đầu xuất hiện đề xuất phân loại nhóm lao động để nghỉ hưu sớm. Trước đó, khi góp ý dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024, Liên đoàn Lao động TP Hà Nội cũng kiến nghị áp dụng cơ chế này với công nhân trực tiếp sản xuất.
Thực tế, dù tuổi hưu đang tăng theo lộ trình lên 62 với nam vào năm 2028 và 60 với nữ vào năm 2035, doanh nghiệp tư nhân hầu như không bố trí việc làm cho lao động ở độ tuổi này, nhất là vị trí trực tiếp sản xuất do yêu cầu về sức khỏe và năng suất. Nhiều người buộc phải nghỉ việc sớm, dẫn đến thiệt thòi về thu nhập và quyền lợi bảo hiểm xã hội khi chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo mức đóng BHXH cho người lao động, bạn đọc Macvanlong kết lại: "Từ những thực tế đó, tôi cho rằng điều cần làm không phải chỉ là bàn chuyện có nên giảm tuổi nghỉ hưu hay không, mà quan trọng hơn là kiểm soát chặt chẽ việc doanh nghiệp đóng bảo hiểm xã hội đúng và đủ theo thu nhập thực tế của người lao động.
Khi quyền lợi được đảm bảo, người lao động hoàn toàn có thể tự quyết định thời điểm nghỉ hưu của mình, chẳng hạn từ sau tuổi 50 trở đi. Lúc đó, câu chuyện nghỉ sớm hay muộn sẽ không còn là áp lực, mà trở thành một lựa chọn cá nhân dựa trên sức khỏe và nhu cầu cuộc sống của mỗi người".
Năm 2021, công ty tôi làm thủ tục giải thể sau thời gian kinh doanh không hiệu quả. Tôi nghĩ quy trình có thể mất vài tháng vì còn phải rà soát nghĩa vụ thuế, đối chiếu hồ sơ.
Nhưng đến nay đã là tháng 5/2026, tức gần 5 năm trôi qua, doanh nghiệp vẫn ở tình trạng "03 - ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục đóng mã số thuế".
Điều khiến tôi mệt mỏi nhất không phải là phải bổ sung giấy tờ hay thực hiện nghĩa vụ tài chính, mà là cảm giác không có một mốc thời gian cụ thể nào để biết hồ sơ của mình đang ở đâu và bao giờ mới được xử lý xong.
Thời điểm nộp hồ sơ ban đầu, phía thuế cho biết cần chờ cán bộ xem xét. Sau nhiều năm, hồ sơ vẫn chưa có tiến triển rõ ràng và doanh nghiệp tiếp tục ở trạng thái treo.
Gần đây tôi trực tiếp lên cơ quan thuế để hỏi hồ sơ đang vướng ở đâu. Tôi được hướng dẫn sang tổ kiểm tra để hoàn tất bước kiểm tra thuế vì công ty từng có phát sinh doanh thu. Tại đây, cán bộ cho điền một mẫu thông tin rồi nói về chờ liên hệ tiếp để được hướng dẫn.
Tôi hỏi: "Dự kiến bao lâu nữa sẽ có cán bộ gọi hướng dẫn?". Câu trả lời là: "Chưa biết".
Có lẽ nhiều người sẽ nghĩ doanh nghiệp có phát sinh doanh thu thì việc kiểm tra kỹ là cần thiết. Tôi đồng ý. Nhưng điều doanh nghiệp cần không chỉ là một quy trình đúng, mà còn là một lộ trình rõ ràng.
Nếu cần kiểm tra trong ba tháng, sáu tháng hay một năm, cơ quan quản lý hoàn toàn có thể thông báo để doanh nghiệp chủ động chuẩn bị. Đằng này, điều khiến người làm thủ tục kiệt sức là trạng thái chờ đợi không thời hạn.
Doanh nghiệp dù đã ngừng hoạt động thực tế vẫn bị kẹt trên hệ thống nhiều năm. Người đại diện pháp luật cũng luôn trong trạng thái thấp thỏm vì chưa hoàn tất nghĩa vụ pháp lý. Trong khi đó, nhiều kế hoạch cá nhân và công việc liên quan đều bị ảnh hưởng vì không ai biết hồ sơ sẽ kết thúc lúc nào.
Tôi tình cờ đọc một bài viết với nội dung nói rằng nhiều hồ sơ giải thể hiện nay bị ách tắc ở khâu thuế, có trường hợp kéo dài nhiều tháng hoặc nhiều năm chỉ để chờ xác nhận hoàn tất nghĩa vụ. Điều đó khiến tôi nhận ra trường hợp của mình không phải cá biệt.
Bài viết này cũng đề cập thực tế nhiều quy định đã có nhưng thiếu mốc thời gian xử lý rõ ràng trong quá trình thực thi. Đây có lẽ là vấn đề lớn nhất.
Trong thủ tục hành chính, người dân và doanh nghiệp thường chấp nhận việc phải chờ. Nhưng điều khó chấp nhận là chờ mà không biết mình đang chờ điều gì, ai xử lý và bao giờ mới có kết quả.
Tôi nghĩ nhiều doanh nghiệp nhỏ như chúng tôi không mong được ưu tiên hay linh động. Điều cần nhất chỉ là sự minh bạch về tiến độ.
Nếu hồ sơ đang nằm ở bộ phận nào, cần bổ sung gì, dự kiến bao lâu xử lý xong, hãy có cơ chế thông báo rõ ràng. Nếu tồn đọng do quá tải nhân sự hoặc quy trình phối hợp, cũng nên có cách cập nhật để người dân không phải liên tục đi hỏi trong vô vọng.
Một doanh nghiệp làm ăn thất bại đã là điều không ai mong muốn. Nhưng việc muốn đóng lại cho đúng quy định mà kéo dài hết năm này sang năm khác khiến cảm giác mệt mỏi còn lớn hơn.
Giải thể doanh nghiệp về bản chất cũng là một quyền hợp pháp, giống như quyền thành lập doanh nghiệp. Khi người dân muốn hoàn thành nghĩa vụ để khép lại hoạt động kinh doanh một cách minh bạch, họ cần một quy trình có thời hạn, có trách nhiệm và có người theo dõi rõ ràng.
Không nên để tình trạng "muốn đóng cũng không biết khi nào mới đóng được" trở thành nỗi ám ảnh chung của những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động.