Bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, đã di căn nên hiệu quả điều trị còn hạn chế, tỉ lệ sống thấp, tỉ lệ tử vong cao dù những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong chẩn đoán và điều trị.
Có tiền sử xơ gan cộng thói quen hút thuốc lá và uống rượu bia thường xuyên kéo dài nhiều năm, ông H. vừa được chẩn đoán ung thư phổi giai đoạn 4, di căn não, có đột biến gene.
Ông H. được chỉ định xạ gamma não để kiểm soát tổn thương di căn não, đồng thời xét nghiệm nhằm đánh giá khả năng đáp ứng với liệu pháp miễn dịch. Trong trường hợp không phù hợp, gia đình đang cân nhắc sử dụng thuốc nhắm trúng đích.
Trong khi đó, bà T. không có tiền sử hút thuốc, nhập viện với các triệu chứng ho kéo dài và sụt cân không rõ nguyên nhân.
Dựa trên kết quả giải phẫu bệnh, hóa mô miễn dịch và xét nghiệm sinh học phân tử, bệnh nhân được chẩn đoán nghi ngờ ung thư phổi giai đoạn 3. Hiện bệnh nhân đang được điều trị bằng thuốc nhắm trúng đích với liều 3 viên/ngày, chi phí ước tính khoảng 25 triệu đồng mỗi tháng.
Trường hợp khác là mẹ của anh D.K. phát hiện ung thư phổi được khoảng 10 tháng thì bà qua đời. Trước đó mẹ anh K. truyền hóa chất sáu đợt, vì quá mệt, không chịu nổi nên bà chuyển sang uống thuốc nam.
Sau hơn một tháng, tình trạng bệnh nặng hơn, đau nhiều và khó thở tăng dần. Khi mẹ anh K. nhập viện trở lại, khối u đã phát triển nhanh, từ 7cm lên 15cm, bệnh viện không còn khả năng can thiệp điều trị.
Chỉ gần hai tháng kể từ khi được phát hiện ung thư phổi giai đoạn 3C có đột biến gene, cha của anh P. đã qua đời khiến gia đình bàng hoàng, chưa thể chấp nhận. Người nhà cho biết người bệnh đã được chỉ định phác đồ điều trị và dùng thuốc nhắm trúng đích, bệnh vẫn tiến triển nhanh, suy kiệt, ăn uống kém, không qua khỏi.
Ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn khu trú là thể bệnh tiến triển nhanh, dễ di căn và có tiên lượng xấu. Trong khi đó, ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 3 không thể phẫu thuật chiếm khoảng 15-20% tổng số ca và là nhóm bệnh phức tạp, khó điều trị, gây gánh nặng kinh tế lớn với tổng chi phí điều trị giai đoạn muộn tại Việt Nam năm 2020 ước tính hơn 684 tỉ đồng.
Nghĩa trang phường Trị An (TP Đồng Nai) ngày cuối tuần có nhiều bà mẹ dắt díu con, cháu đến thăm mộ của người đã khuất. Ở một khoảnh đất có gần chục ngôi mộ còn mới, nghi ngút khói nhang có đến 2/3 người đều ra đi ở tuổi ngoài 60 và cùng một căn bệnh là ung thư phổi giai đoạn cuối.
“Cha em to, khỏe, làm nghề khoan giếng. Không ai nghĩ cha em mất nhanh như vậy, chỉ hai tháng rưỡi sau khi phát hiện bệnh” – T. (37 tuổi) vừa lau mộ cho người cha xấu số vừa kể.
Theo BS Diệp Bảo Tuấn – Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM, tỉ lệ phát hiện bệnh ung thư phổi ở giai đoạn muộn còn rất cao. Theo thống kê, tỉ lệ ung thư phổi ở giai đoạn muộn đi tới bệnh viện chiếm tới 84%, chỉ có khoảng 16% giai đoạn sớm. Điều này khiến cho điều trị kém hiệu quả, tỉ lệ sống còn thấp.
Lý giải tình trạng này, bác sĩ Tuấn cho biết không chỉ ung thư phổi mà cả ung thư gan, ung thư vú cũng có tới 50-80% trường hợp được phát hiện ở giai đoạn muộn.
Nguyên nhân chủ yếu là người dân chưa thực sự quan tâm đúng mức đến sức khỏe, trong khi tỉ lệ khám tầm soát định kỳ hằng năm còn thấp. Khi không tầm soát, bệnh rất khó được phát hiện ở giai đoạn sớm khi chưa có triệu chứng rõ ràng.
BS Lê Tuấn Anh, Giám đốc Trung tâm ung bướu Bệnh viện Chợ Rẫy, cho hay ung thư phổi là một trong ba loại ung thư phổ biến nhất, thường gặp cả ở cả hai giới. Đa phần bệnh nhân tại Việt Nam được phát hiện ở giai đoạn muộn, với tỉ lệ bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn 4 lên tới 41%, trong khi giai đoạn 1A chỉ chiếm khoảng 14%.
Việc phát hiện sớm quyết định rất lớn đến kết quả điều trị. Tỉ lệ sống còn năm năm ở giai đoạn 1A có thể lên tới 92%, trong khi ở giai đoạn 4B chỉ còn rất thấp.
“Ung thư phổi nhận được sự quan tâm rất lớn từ cộng đồng khoa học, không chỉ trong lĩnh vực ung bướu mà còn từ các chuyên ngành liên quan như hô hấp, chẩn đoán hình ảnh, sinh học phân tử”, BS Tuấn Anh nói và cho rằng sự phối hợp giữa các bác sĩ phẫu thuật, nội khoa, xạ trị, dinh dưỡng và điều dưỡng là “chìa khóa” để nâng cao chất lượng điều trị, bên cạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ mới.
Bàn rõ hơn về phương pháp điều trị ung thư phổi, BS Tuấn cho hay đối với ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn 3 không mổ được, tiêu chuẩn điều trị hiện tại là hóa xạ trị đồng thời, sau đó có thể duy trì bằng liệu pháp miễn dịch.
Tuy nhiên ở nhóm bệnh nhân có đột biến EGFR (thuộc nhóm ung thư phổi không tế bào nhỏ), đáp ứng với liệu pháp miễn dịch còn hạn chế, tạo ra khoảng trống rõ rệt về chiến lược củng cố kiểm soát bệnh lâu dài. Bên cạnh đó, ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm khoảng 15% tỉ lệ ung thư phổi, đa phần được phát hiện ở giai đoạn lan tràn, chỉ rất ít bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn khu trú.
Ngày 26/5, nguồn tin của phóng viên Dân trí cho biết, Bệnh viện Nhi đồng 1 (TPHCM) những ngày qua tiếp nhận điều trị một trường hợp bị bỏng điện thương tâm.
Bệnh nhi là bé G.K. (15 tuổi, ngụ tỉnh Tây Ninh). Theo thông tin ban đầu, trước đó vì thấy con diều của em nhỏ chơi bị vướng đường dây điện, bé K. trèo lên mái nhà để tìm cách gỡ. Thấy có một thanh kim loại dài, bé cầm lấy để khều con diều thì bất ngờ xảy ra sự cố khiến đường dây điện phát nổ.
"Lúc đó, tôi đang ở ruộng phun thuốc thì nghe tiếng động lớn nên vội chạy về nhà. Nghe em gái nói con bị điện giật, tôi vào tắt cầu dao điện rồi nhờ người thân trèo lên cứu con.
Nhưng lúc này cháu đã nằm bất động, quần áo bị lửa cháy đen, bỏng khắp người. Gia đình đưa cháu vào bệnh viện tỉnh cấp cứu, nhưng họ chuyển bé đi ngay vì tình trạng nặng quá", chị T., mẹ bệnh nhi kể.
Tại khoa Phỏng và Phẫu thuật tạo hình, Bệnh viện Nhi đồng 1, bé được xác định bỏng điện hơn 50%, rải rác khắp nơi trên cơ thể như mặt, ngực, tứ chi...
Quá trình điều trị, các bác sĩ đã tiến hành thay băng, chăm sóc tích cực. Bệnh nhi đã trải qua 2 lần cắt lọc vết thương và một lần ghép da tự thân.
Dự kiến vài ngày tới, bé sẽ tiếp tục được mổ ghép da. Đến nay, quá trình điều trị đã kéo dài hơn 1 tháng, diện tích bỏng đã giảm còn hơn 20%, nhưng chưa biết khi nào sẽ được xuất viện.
Theo bác sĩ, tai nạn liên quan đến vật dụng điện, ổ điện hoặc đường dây điện không hiếm gặp với trẻ em và người dân nói chung. Trên thực tế, có hai cơ chế gây bỏng điện.
Một là bỏng do tia lửa điện, thường nhẹ và thời gian điều trị ngắn. Thứ 2 là bỏng do luồng điện đi qua cơ thể, tỏa nhiệt và cháy từ bên trong nên gây vết thương nặng và rất sâu.
Khi luồng điện tiếp xúc cơ thể trên đường truyền trực tiếp, chỗ nào điện trở cao (như cổ tay, khuỷu tay, nách, vùng gân cơ nhiều) thì tỏa nhiệt nhiều. Tổn thương tại những vị trí này thường rất nặng, nhiều trường hợp phải cắt cụt chi. Đó là chưa kể các biến chứng như rung tim, rung thất do điện gây ra, làm bệnh nhân ngưng tim tử vong tại chỗ...
Để phòng tránh những tai nạn đáng tiếc xảy ra với trẻ nhỏ liên quan đến điện, các bác sĩ khuyên cha mẹ cần chú ý che chắn, bảo vệ ổ cắm trong nhà; các thiết bị điện cần tìm cách để xa tầm tay trẻ. Ngoài ra, phụ huynh cần trông coi, theo dõi thật cẩn thận con em, nhất là trong thời điểm mùa hè trẻ được nghỉ học.
Bên cạnh đó, người xây dựng, quản lý đường điện cần tuân thủ khoảng cách an toàn, trang bị bảo hộ đầy đủ cho người lao động. Người dân - nhất là công nhân - hãy chú ý bảo đảm an toàn cho bản thân khi làm việc gần đường điện.
Nhiều người thích ăn chuối như một món ăn nhẹ trong ngày. Bên cạnh đó, chuối cũng thường được kết hợp với các loại trái cây như quả mọng, táo, lê hay nho để làm sinh tố, vừa ngon miệng vừa bổ dưỡng.
Các nhà khoa học tại Đại học California, Davis (Mỹ) đã thực hiện nghiên cứu nhằm tìm hiểu liệu việc thêm chuối vào sinh tố làm từ các loại trái cây giàu flavanol có ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ dưỡng chất này của cơ thể hay không.
Những người tham gia được uống 2 loại sinh tố khác nhau:
Sau đó, họ được xét nghiệm máu và nước tiểu để xác định lượng flavanol cơ thể hấp thụ.
Kết quả đã phát hiện ra rằng cho chuối vào sinh tố quả mọng làm giảm mạnh khả năng hấp thụ flavanol vào cơ thể.
Cụ thể, thêm chuối vào xay cùng với sinh tố quả mọng làm giảm đến 84% lượng flavanol cơ thể hấp thụ so với đối chứng, theo trang tin khoa học Science Daily.
Trong khi đó, sinh tố quả mọng không làm giảm lượng flavanol cơ thể hấp thụ so với nhóm đối chứng.
Các tác giả cho biết họ rất bất ngờ vì chỉ 1 quả chuối cũng làm giảm nhanh mức flavanol trong sinh tố và lượng flavanol được hấp thụ trong cơ thể.
Các nhà nghiên cứu giải thích rằng sở dĩ chuối làm giảm lượng flavanol cơ thể hấp thụ là do hoạt động của enzyme PPO vốn có hoạt tính rất mạnh trong chuối, không chỉ làm giảm lượng flavanol khi xay chung chuối với quả mọng, mà ngay cả khi đã vào đến dạ dày, PPO vẫn hoạt động, khiến lượng flavanol hấp thụ bị giảm đi.
Flavanol là dưỡng chất thực vật hỗ trợ sức khỏe tim mạch và nhận thức, có nhiều trong dâu tây, táo, lê, việt quất, mâm xôi, nho, ca cao và các thành phần sinh tố phổ biến khác. Các hợp chất này đang được nghiên cứu về những lợi ích tiềm năng liên quan đến lưu lượng máu, huyết áp, cholesterol, điều hòa glucose và sức khỏe não bộ.
Nhóm nghiên cứu kết luận rằng chuối vốn rất tốt cho sức khỏe nhờ chứa chất xơ, kali và nhiều dưỡng chất khác. Tuy nhiên, hãy tránh thêm chuối vào sinh tố quả mọng, táo, lê, nho hoặc ca cao vì sẽ làm giảm lượng flavanol có lợi từ những thực phẩm này.
Cách tốt nhất để ăn chuối là kết hợp chuối với chất béo lành mạnh hoặc đạm như bơ đậu phộng, sữa chua hoặc các loại hạt. Điều này giúp ngăn ngừa lượng đường trong máu tăng đột biến và giúp no lâu hơn.
Chuối xanh, khi chưa chín hoàn toàn, chứa nhiều tinh bột kháng nên đặc biệt có lợi cho sức khỏe đường ruột. Trong khi đó, chuối chín với vị ngọt hơn lại cung cấp nguồn năng lượng nhanh và dễ hấp thu hơn, phù hợp để bổ sung năng lượng cho cơ thể, theo Healthline.
Gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) là tình trạng tích tụ mỡ trong gan, liên quan chặt chẽ đến béo phì, tiểu đường và rối loạn mỡ máu. Thực hành một vài thay đổi lối sống có thể giúp cải thiện giúp chức năng gan và giảm nguy cơ biến chứng.
Giảm cân hợp lý
Giảm cân là yếu tố quan trọng nhất trong kiểm soát gan nhiễm mỡ, đặc biệt ở người béo phì, thừa cân. Tuy nhiên, nên giảm cân từ từ, tránh ăn kiêng quá khắt khe vì có thể gây tác dụng ngược. Duy trì chế độ ăn cân bằng và bền vững là cách lâu dài.
Ưu tiên chế độ ăn lành mạnh
Chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải có thể góp phần giảm mỡ gan. Theo chế độ ăn này, người bệnh nên tăng cường rau (bông cải xanh, rau lá xanh) trái cây (táo, cam, chuối), ngũ cốc nguyên hạt và chất béo tốt như dầu ô liu.
Ăn cá (ít nhất 2 lần/tuần), gia cầm không da và trứng tiêu thụ với lượng vừa phải. Hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và tinh bột tinh chế. Cách ăn này không chỉ tốt cho gan mà còn hỗ trợ kiểm soát huyết áp cao và tiểu đường.
Ngoài áp dụng chế độ ăn Địa Trung Hải, một số gia vị và thảo mộc quen thuộc như nghệ, gừng, tỏi, trà xanh và cây kế sữa cũng có lợi cho sức khỏe gan.
Uống cà phê đúng cách
Cà phê có thể giúp giảm viêm và bảo vệ gan nhờ kích thích enzyme có lợi. Người bị gan nhiễm mỡ có thể uống khoảng 2-3 tách mỗi ngày. Ưu tiên uống cà phê đen, hạn chế đường và kem béo để tránh làm tăng năng lượng dư thừa.
Duy trì vận động
Ít vận động là yếu tố làm trầm trọng thêm tình trạng gan nhiễm mỡ. Mỗi người nên đặt mục tiêu ít nhất 150 phút vận động mỗi tuần. Các hoạt động đơn giản như đi bộ nhanh, đạp xe hoặc leo cầu thang cũng mang lại lợi ích rõ rệt nếu duy trì đều đặn.
Hạn chế tối đa đường
Đường bổ sung, đặc biệt fructose, thúc đẩy tích tụ mỡ trong gan. Chúng có nhiều trong nước ngọt, bánh kẹo, đồ uống đóng chai và thực phẩm chế biến sẵn. Đọc nhãn thực phẩm trước khi dùng cũng giúp bạn kiểm soát lượng đường nạp vào mỗi ngày.
Kiểm soát cholesterol
Cholesterol cao làm tình trạng gan nhiễm mỡ nghiêm trọng hơn. Người bệnh nên hạn chế chất béo bão hòa (thịt đỏ, sữa béo) và chất béo chuyển hóa. Kết hợp ăn uống lành mạnh, tập luyện để cải thiện mỡ máu hiệu quả.
Tránh các tác nhân gây hại cho gan
Để gan có cơ hội phục hồi, bạn cần hạn chế các tác nhân gây hại trực tiếp. Rượu dù dùng ở mức vừa phải vẫn có thể làm gan nhiễm mỡ tiến triển nặng hơn. Ngoài ra, một số thuốc không kê đơn và thực phẩm chức năng có thể gây độc cho gan nếu sử dụng không đúng cách. Vì vậy, nên tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ trước khi dùng để tránh làm tổn thương gan thêm.