Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có tờ trình Chính phủ đề xuất bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai vào chương trình lập pháp của Quốc hội năm 2026.
Theo tờ trình, việc sửa đổi Luật Đất đai nhằm tiếp tục khơi thông nguồn lực từ đất đai phục vụ yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, đáp ứng yêu cầu về tăng trưởng kinh tế hai con số.
Cùng với đó, tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.
Tiếp tục phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp.
Bộ cho biết việc sửa đổi Luật Đất đai dự kiến tập trung vào hai nhóm nội dung lớn.
Thứ nhất, nhóm các nội dung đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và yêu cầu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Bộ đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai để bổ sung quy định về một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai thông qua việc luật hóa các quy định tại Nghị quyết của Quốc hội và Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ như giá đất, bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất; tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;
Đăng ký, cấp giấy chứng nhận; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, lựa chọn hình thức thuê đất, tách thửa đất, hợp thửa đất; chế độ sử dụng một số loại đất; hệ thống thông tin về đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai.
Đồng thời sửa đổi, bổ sung quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trồng lúa; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 1-7-2014; bồi thường trong trường hợp đặc thù; chế độ sử dụng đất của một số loại đất.
Thứ hai, nhóm các nội dung quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Bộ đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về thẩm quyền thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai cho phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Trong đó, sửa đổi, bổ sung các quy định về thẩm quyền thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai cho phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Sửa đổi, bổ sung các quy định về thẩm quyền thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai theo phân cấp, ủy quyền.
Quy định bổ sung một điều mới về thẩm quyền thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai…
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất Chính phủ báo cáo, đề xuất Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung vào chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội sửa đổi Luật Đất đai, dự kiến thời gian trình Quốc hội cho ý kiến và thông qua dự án luật này tại kỳ họp tháng 10-2026 của Quốc hội theo trình tự, thủ tục rút gọn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Không chỉ khiến chủ tàu trắng tay, những "xác tàu" bạc tỉ "neo cứng" trong vũng neo đậu tàu thuyền Lý Sơn còn gây mất mỹ quan, cản trở luồng lạch và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Tại vũng neo đậu tàu thuyền Lý Sơn, giữa hàng trăm tàu cá ra vào mỗi ngày, nhiều con tàu khách từng một thời nhộn nhịp chở khách trên tuyến Sa Kỳ - Lý Sơn nay nằm im lìm, phủ đầy rong rêu.
Nhìn từ xa, khó ai nghĩ những con tàu hoen gỉ ấy từng là niềm tự hào của vận tải biển đảo. Có chiếc cửa kính vỡ nát, thân tàu xuống cấp nghiêm trọng sau nhiều năm phơi mình dưới nắng gió.
Có chiếc chìm một phần dưới mặt nước, chỉ còn phần thân nổi lên như một "xác tàu" bị bỏ quên.
Nổi bật trong số đó là tàu Hoàng Sa 03. Con tàu từng trị giá khoảng 10 tỉ đồng nay nằm mắc cạn, phần thân chìm dưới nước biển. Toàn bộ tàu không còn khả năng khai thác, trở thành một khối sắt thép hoen gỉ bên góc vũng neo đậu.
Tàu khách Hoàng Sa 03 đi vào khai thác năm 2014, kỳ vọng thúc đẩy tuyến vận tải khách Sa Kỳ - Lý Sơn. Tuy nhiên tàu chỉ hoạt động được khoảng ba năm rồi phải dừng. Nhiều năm qua chủ tàu nhiều lần rao bán nhưng không ai mua. Con tàu vì thế thành gánh nặng.
Không riêng Hoàng Sa 03, tàu khách An Vĩnh 03 cũng chung số phận. Từng là tàu khách hiện đại nhất nhì tuyến Sa Kỳ - Lý Sơn, con tàu trị giá gần 20 tỉ đồng giờ neo bất động bên cạnh nhiều tàu bỏ hoang khác.
Trong khi đó tàu khách Biển Đông từng được một người dân Lý Sơn đầu tư khoảng 15 tỉ đồng vào năm 2016, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng vận tải hành khách ra đảo. Thế nhưng chỉ sau khoảng hai năm khai thác, con tàu phải ngừng hoạt động vì không thể cạnh tranh với các tàu siêu tốc thế hệ mới.
Sự xuất hiện của đội tàu siêu tốc có thời gian di chuyển chỉ từ 30 - 45 phút đã làm thay đổi hoàn toàn thị trường vận tải hành khách tuyến Sa Kỳ - Lý Sơn. Những tàu cao tốc đời cũ, dù từng được xem là hiện đại, dần mất lợi thế. Hành khách chuyển sang lựa chọn phương tiện nhanh hơn, tiện nghi hơn.
Từ đó hàng loạt tàu khách rơi vào cảnh ế ẩm, doanh thu sụt giảm rồi phải nằm bờ. Nhiều chủ tàu lâm cảnh nợ ngân hàng, trong khi tài sản trị giá hàng chục tỉ đồng ngày càng xuống cấp theo thời gian.
Điều đáng lo ngại là những con tàu bỏ hoang không chỉ là nỗi đau của chủ sở hữu mà còn trở thành bài toán khó đối với cơ quan quản lý.
Theo ghi nhận, nhiều tàu neo đậu lâu năm chiếm diện tích mặt nước đáng kể trong khu vực vũng neo đậu. Một số tàu xuống cấp nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ trôi dạt khi đứt neo trong mùa mưa bão, va đập vào tàu cá đang hoạt động hoặc các công trình hạ tầng lân cận.
Ngoài ra việc để tàu hư hỏng nằm lâu ngày dưới nước cũng làm dấy lên lo ngại về nguy cơ ô nhiễm môi trường biển do dầu mỡ, vật liệu và các chất thải tồn lưu trên tàu.
Ông Nguyễn Đình Trung - Giám đốc Ban Quản lý cảng cá tỉnh Quảng Ngãi - cho biết đơn vị đã nhiều lần phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra thực trạng các tàu khách neo đậu lâu năm tại vũng neo đậu tàu thuyền Lý Sơn để tìm phương án xử lý.
Tuy nhiên việc giải quyết gặp nhiều trở ngại. Một số chủ tàu không còn liên lạc được, trong khi những người còn liên hệ được cũng lúng túng vì không biết đưa tàu đi đâu hoặc xử lý thế nào đối với những phương tiện đã hết khả năng khai thác.
Theo ông Trung, thời gian tới đơn vị sẽ phối hợp với UBND đặc khu Lý Sơn rà soát, xử lý dứt điểm tình trạng này. Các tàu tiếp tục neo đậu sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính và được bố trí tập trung tại một khu vực riêng nhằm tránh ảnh hưởng đến hoạt động của tàu cá.
"Đối với những trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc tàu đã hư hỏng nghiêm trọng, cơ quan chức năng sẽ tính đến phương án trục vớt, giải phóng mặt nước", ông Trung nói.
Giữa vũng neo đậu, những con tàu khách bạc tỉ nằm bất động là hình ảnh tiếc nuối. Từ biểu tượng của một giai đoạn phát triển vận tải biển đảo, chúng đang dần trở thành những "xác tàu" chờ lời giải cho một bài toán tồn đọng nhiều năm ở Lý Sơn.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Từ thuốc giả, sữa giả đến chất cấm trong thực phẩm chức năng: Lỗ hổng ở đâu?

Thực hiện cao điểm 45 ngày tấn công, trấn áp các loại tội phạm, làm sạch địa bàn, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP.HCM đã tăng cường đấu tranh chống tội phạm về an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác quản lý chuyên môn đối với lĩnh vực này vẫn còn nhiều lỗ hổng, trong khi các đối tượng liên tục thay đổi thủ đoạn tinh vi để qua mặt cơ quan chức năng và người tiêu dùng.
Các chuyên gia cho rằng để ngăn chặn tận gốc tình trạng này không thể chỉ trông chờ vào việc phát hiện, xử lý của lực lượng công an mà cần sự vào cuộc quyết liệt hơn từ các cơ quan chuyên môn trong quản lý, kiểm soát nguyên liệu sản xuất, cơ chế hậu kiểm và hoạt động kinh doanh trên môi trường mạng.
Mới đây, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP.HCM đã phát hiện đường dây sản xuất, buôn bán thực phẩm chức năng giảm cân nhãn hiệu Emo's có chứa chất cấm do Trần Thị Như Hảo (27 tuổi) và Nguyễn Trọng Anh (31 tuổi, chồng Hảo, cùng ngụ tại phường Thới An) cầm đầu.
Cơ quan điều tra xác định Hảo và chồng tổ chức sản xuất thực phẩm giảm cân (sữa tách béo, bột trà cam, bột cà phê, bột trà chanh, bột trà dâu, bột trà đào hòa tan) nhãn hiệu Emo's từ năm 2018 đến nay, có đầu tư thiết bị máy móc và nhân công sản xuất bài bản.
"Thực tế các sản phẩm trên không có tác dụng giảm cân, nhưng để người tiêu dùng ưa chuộng, bán được ra thị trường, các đối tượng đã pha trộn chất sibutramine vào nguyên liệu để sản xuất. Đây là chất bị cấm sử dụng trong thực phẩm", cơ quan điều tra xác định.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, trung tá Nguyễn Tiền Giang - Phó đội trưởng Đội 5 (Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP.HCM) - cho biết quá trình điều tra xác định Hảo và Anh nhận thức rõ chất sibutramine bị cấm sử dụng trong thực phẩm chức năng; là chất có tác dụng làm giảm cảm giác thèm ăn, tuy nhiên tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khỏe.
Các tác động xấu đến sức khỏe không xảy ra ngay lập tức mà có thể tích tụ, gây hậu quả nghiêm trọng về lâu dài. Tuy nhiên, các đối tượng vẫn cố tình đưa chất này vào sản phẩm để bán ra thị trường nhằm thu lợi bất chính.
Sau khi sản xuất, vợ chồng Hảo sử dụng mạng xã hội làm kênh tiêu thụ chính, từ đó thiết lập hệ thống đại lý tại nhiều tỉnh thành và phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Bước đầu xác định từ năm 2018 đến nay, vợ chồng Hảo đã sản xuất, đưa ra thị trường tiêu thụ số thực phẩm chức năng có chứa chất cấm ước tính hàng chục tỉ đồng.
"Đối với những cá nhân tham gia hỗ trợ sản xuất hoặc mua bán thực phẩm chức năng Emo's dưới dạng đại lý cấp dưới, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.HCM đang tiếp tục xác minh, làm rõ. Trường hợp xác định cá nhân nào biết rõ sản phẩm không được phép lưu hành nhưng vẫn tiếp tay cho hành vi vi phạm thì sẽ có hướng xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật", trung tá Giang cho hay.
Theo ghi nhận của Tuổi Trẻ đến sáng 16-5, cà phê hòa tan Emo's vẫn được rao bán trên Shopee, TikTok với giá hơn 300.000 đồng/hộp (7 gói), dù trước đó đường dây sản xuất các loại thực phẩm chức năng đã bị cơ quan chức năng triệt phá vì chứa chất cấm sibutramine.
Sự thuận tiện khi mua sắm trực tuyến trên các sàn thương mại điện tử và livestream (phát trực tiếp) bán hàng đã trở thành "mảnh đất màu mỡ" để các sản phẩm giả, kém chất lượng tiếp cận người tiêu dùng nhanh. Nhiều sản phẩm dù đã bị cơ quan chức năng triệt phá do phát hiện pha trộn chất cấm xuất hiện trên các sàn thương mại điện tử.
Trong đó, sữa và thực phẩm chức năng đang trở thành mặt hàng "béo bở" để các đối tượng làm giả với quy mô lớn nhằm trục lợi. Mới đây, một đường dây sản xuất, tiêu thụ hơn 187.000 hộp sữa giả dành cho trẻ sơ sinh, phụ nữ mang thai và người bệnh đã bị triệt phá. Đáng chú ý, nhóm này còn che giấu hơn 1.000 tỉ đồng doanh thu để trốn thuế và chi hàng tỉ đồng cho một số cá nhân liên quan nhằm "chạy án".
Không chỉ thực phẩm và sản phẩm dinh dưỡng, thuốc chữa bệnh cũng bị làm giả với thủ đoạn ngày càng tinh vi. Công an TP.HCM vừa triệt phá một đường dây sản xuất, buôn bán thuốc đông y giả có pha trộn paracetamol hoạt động có tổ chức, thu giữ hơn 4.000 hộp thuốc thành phẩm, khoảng 790 kg viên nang và viên nén, cùng số lượng lớn vỏ hộp, tem nhãn, bao bì, màng co và máy móc phục vụ việc pha trộn, đóng gói sản phẩm.
Đáng lo ngại, thuốc giả còn mạo danh các bệnh viện uy tín để tạo lòng tin tuyệt đối với người bệnh. Vụ việc được phát hiện khi một bệnh nhân mang hai lọ thuốc "Viên thấp khớp" và "Bổ trung ích khí" đến Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM để mua thêm.
Qua kiểm tra, bệnh viện xác định đây là sản phẩm giả, không phải thuốc do bệnh viện sản xuất hoặc phân phối. Người bệnh cho biết đã mua các sản phẩm này tại một phòng khám tư vì tin vào bao bì có in tên bệnh viện.
Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM - nhận định tình hình sản xuất và kinh doanh hàng giả hiện nay diễn biến phức tạp với nhiều thủ đoạn tinh vi. Đây là hoạt động phi pháp nhưng mang lại lợi nhuận lớn.
"Các đối tượng thường bố trí sản xuất tại nhiều địa điểm khác nhau, sử dụng mạng xã hội hoặc ứng dụng giao hàng để mua bán nhằm che giấu nơi sản xuất. Cơ sở thường đặt tại khu vực nhà không số hoặc núp bóng doanh nghiệp bình phong.
Trước đây hàng giả chủ yếu làm nhái bao bì, tem nhãn của các thương hiệu lớn. Tuy nhiên hiện nay, nhiều cơ sở còn tự tạo sản phẩm không phép, giả số đăng ký, mã vạch, mã QR và tem chứng nhận để đánh lừa cả người bán lẫn người tiêu dùng", ông Nam nói.
Từ vụ thực phẩm chức năng Emo's chứa chất cấm tồn tại suốt gần 8 năm mới bị phát hiện, cơ quan chức năng và nhiều chuyên gia cho rằng công tác quản lý hiện nay vẫn tồn tại không ít lỗ hổng, trong khi các đối tượng ngày càng sử dụng thủ đoạn tinh vi để qua mặt cơ quan chức năng và người tiêu dùng.
Thượng tá Nguyễn Thành Danh - Phó trưởng Phòng Cảnh sát kinh tế Công an TP.HCM - đã phân tích một số nguyên nhân khiến việc phát hiện vi phạm gặp khó.
Theo đó, các đối tượng tận dụng các kênh bán lẻ trực tuyến, sử dụng nhiều tài khoản ẩn danh để quảng bá và phân phối sản phẩm. Trong khi đó, phần lớn khách hàng cũng mua hàng qua mạng nên gây nhiều khó khăn cho lực lượng chức năng trong công tác rà soát, truy xét.
Một nguyên nhân khác là với các sản phẩm thực phẩm chức năng, khi phát hiện dấu hiệu nghi vấn, cơ quan chức năng phải tiến hành thu mẫu để giám định. Quá trình này đòi hỏi kỹ thuật chuyên sâu, thời gian thực hiện kéo dài và chi phí giám định cao. Do đó việc kiểm tra, giám định và xử lý của các ngành chức năng đối với mặt hàng này vẫn còn gặp nhiều hạn chế, chưa thể triển khai đồng loạt trên diện rộng để rà soát, phát hiện vi phạm một cách toàn diện.
Thêm một vấn đề xuất phát từ việc người tiêu dùng tin vào những lời quảng cáo "hiệu quả bất ngờ", sẵn sàng chấp nhận những rủi ro.
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý đối với thực phẩm chức năng hiện nay chủ yếu theo hình thức tự công bố sản phẩm, không bắt buộc kiểm nghiệm trước khi lưu hành ra thị trường. Điều này dẫn đến nguy cơ một số sản phẩm bị pha trộn chất cấm nhưng khó bị phát hiện cho đến khi xảy ra sự cố, có đơn trình báo từ người dân hoặc qua quá trình kiểm tra của cơ quan công an.
Ngoài ra, công tác hậu kiểm của các cơ quan cấp phép đối với nhóm sản phẩm này vẫn chưa được thực hiện thường xuyên, chưa đủ sâu và sát với thực tế thị trường, trong khi quy mô tiêu thụ thực phẩm chức năng tại TP.HCM rất lớn.
Nói về công tác hậu kiểm, PGS Nguyễn Duy Thịnh - nguyên giảng viên Viện Công nghệ sinh học và thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội) - chia sẻ trước đây công tác quản lý chủ yếu tiền kiểm, tức là cơ quan nhà nước thẩm định và cấp phép trước khi sản phẩm được lưu hành.
Chỉ khi đáp ứng đầy đủ yêu cầu, doanh nghiệp mới được phép sản xuất và đưa hàng ra thị trường. Thế nhưng mô hình này bộc lộ nhiều hạn chế, bởi doanh nghiệp có thể chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, "đẹp" để vượt qua khâu kiểm tra ban đầu, trong khi chất lượng thực tế của sản phẩm lại không đúng như công bố.
Hiện nay, cơ chế quản lý đã chuyển sang hậu kiểm, doanh nghiệp được tự công bố sản phẩm và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng. Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này là nhiều sản phẩm chỉ bị phát hiện vi phạm sau khi đã được đưa ra lưu thông rộng rãi trên thị trường, khó kiểm soát rủi ro đối với người tiêu dùng.
"Tôi cho rằng không có mô hình quản lý nào có thể "xóa sạch" hoàn toàn tình trạng thuốc giả, thực phẩm giả, thuốc kém chất lượng lưu hành trên thị trường. Bên cạnh kiểm tra xử phạt, yếu tố quan trọng hơn là giáo dục nhận thức và nâng cao ý thức pháp luật. Cạnh đó, cần xây dựng hệ thống quản lý đồng bộ từ cấp xã, phường đến cấp tỉnh, tăng cường giám sát xã hội và phản ánh từ người dân để kịp thời phát hiện sai phạm", ông Thịnh nói.
Đồng tình, PGS Trần Hồng Côn - nguyên giảng viên khoa hóa Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) - cho rằng không thể tiếp tục trông chờ hoàn toàn vào ý thức tự giác của doanh nghiệp.
Để khắc phục, cần có giải pháp mang tính hệ thống, trong đó tăng cường kiểm tra định kỳ và đột xuất do các cơ quan kiểm định độc lập thực hiện, nhằm xác nhận sản phẩm thực sự đạt chất lượng như công bố trước khi được lưu hành rộng rãi trên thị trường, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào cơ chế tự kiểm của doanh nghiệp.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Cũng như nhiều vườn khác, chủ vườn cam sành này đành bỏ mặc vườn cam của mình chín rục.
Chỉ năm ngoái thôi, những trái cam trong khu vườn này đã cho gia đình ông bay bổng trong cảnh được mùa được giá, nhưng năm nay, vẫn những trái cam mọng nước ấy, lại đang héo hon trong cảnh giá thu mua chạm đáy ngay tại vườn.
Lang thang cùng lão nông nhỏ thó, khắc khổ, giữa những luống cam trĩu quả, tôi biết, người chủ vườn này không trồng sai, ông tin vào những gì đã từng đúng, nên giờ vẫn đang ngơ ngác trước những đổi thay thời thế chóng mặt đang xoay chuyển liên tục bên ngoài vườn cam của ông.
Và có lẽ, chính điều đó mới là vấn đề.
Câu chuyện những vườn cam đã từng rực rỡ rồi lại bỏ không, có thể nói là một lát cắt phản ảnh toàn bộ nền Nông nghiệp Việt Nam hôm nay - nơi mà người nông dân vẫn làm việc chăm chỉ, nhưng kết quả ngày càng phụ thuộc vào may rủi.
Khi thị trường thay đổi theo từng vụ mùa và khí hậu, cũng như những câu chuyện mang tính đổi thay địa chính trị, mọi thứ không còn vận hành theo quy luật cũ, những quyết định dựa vào kinh nghiệm xưa cũ của cả hệ sinh thái nông nghiệp nói riêng cũng dần trở nên lạc nhịp.
Nông nghiệp Việt nói chung không thiếu đất, không thiếu người cũng như cả những quyết tâm, tất cả chỉ đang thiếu một cách nghĩ phù hợp với thời thế mới. Và vì thế, xét về bản chất, thì Nông nghiệp Việt vẫn đang phiêu lưu đến ngày mai bằng chính dữ liệu của quá khứ.
Trước đây, nông nghiệp Việt hầu như vận hành dựa vào kinh nghiệm không phải là sai. Ngược lại, đó từng là lựa chọn hợp lý và hiệu quả. Khi thị trường trong và ngoài nước còn tương đối ổn định, các chỉ số về sản lượng luôn đi theo quy mô dân số, nhu cầu, thì việc “đạt năng suất cao” gần như đảm bảo cho cả một hệ thống sẽ tích luỹ được thặng dư.
Người nông dân không cần dự báo gì xa xôi, họ chỉ cần dựa theo kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình, học hỏi lẫn nhau rồi xắn tay gieo thêm những gì đã từng mang lại kết quả.
Kinh nghiệm, vì thế, trở thành một dạng “dữ liệu sống” - được tích lũy qua năm tháng, truyền từ thừa qua nhiều thế hệ. Nó không chỉ là “trăm hay”, mà còn là trục niềm tin được mặc định. Khi một loại cây từng giúp cả làng thoát nghèo, thì việc tiếp tục trồng nó không chỉ là quyết định mang tính kế thừa, mà còn có thể gọi là truyền thống, không thể khác, không cần tính toán xa xôi.
Trong một thế giới ít biến động, tư duy ấy đã từng đúng. Và chính vì cũng đã từng đúng trong thời gian đủ dài, người nông dân nói riêng có lý do để tin vào nó -thậm chí gắn chặt đời mình vào niềm tin đó - như một cách để “phòng thân” giữa cuộc sống nhiều rủi ro.
Cũng như trong nhiều lĩnh vực khác, những gì từng đúng trong Nông nghiệp cũng đang dần đổi thay. Thị trường nông sản hôm nay không còn vận hành theo nhịp năm, mà theo nhịp tháng, thậm chí từng tuần. Một loại nông sản có thể “sốt giá” trong một mùa, nhưng ngay sau đó lại nhanh chóng rơi vào tình trạng “giải cứu” vì rất nhiều lý do. Và trong câu chuyện thay đổi này, khoảng trễ giữa sản xuất và thông tin, luôn là vấn đề mấu chốt.
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đang làm xáo trộn những quy luật quen thuộc. Ở Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, nước mặn xâm nhập sâu hơn, hạn hán, mưa lũ trái mùa kéo dài hơn, đất đai cũng đâu “dễ thở” như trước. Vì thế, những kinh nghiệm từng tích lũy qua nhiều thế hệ của người nông dân dần trở nên kém chính xác trong một môi trường ngày càng bất định.
Ở quy mô lớn hơn, nông nghiệp giờ đây không chỉ là câu chuyện trồng trọt, mà còn là một phần của chuỗi giá trị toàn cầu. Giá trị không còn nằm chủ yếu ở sản lượng, mà ở khả năng chế biến theo chuẩn, xây dựng thương hiệu và liên tục mở rộng cũng như tiếp cận thị trường mới. Khi phần lớn lợi nhuận nằm ở cuối chuỗi, việc chỉ tập trung vào sản xuất khiến người nông dân luôn ở vị thế yếu. Và khi người làm nông ở vị thế thấp như vậy, thì nền Nông nghiệp nước nhà sẽ khó bay cao.
Đơn cử như ở Israel, một quốc gia không có lợi thế về tài nguyên đất và nước như Việt Nam, nhưng nền nông nghiệp của họ được tổ chức theo một hệ thống có thể dự báo và kiểm soát. Chính Phủ cũng như người làm nông nước họ không chờ thời tiết thuận lợi, mà thiết kế giải pháp để thích nghi, không trồng theo thói quen, mà ra quyết định dựa trên dữ liệu.
Khi không có một hệ thống dữ liệu đáng tin cậy, quyết định sản xuất thường phải dựa vào những gì họ nghe được: từ thương lái, từ đồng nghiệp, thậm chí từ cả thế giới mạng. Đó có thể là kiểu thông tin “năm nay mít được giá” rất mơ hồ nhưng dễ lan nhanh. Trong khoảng trống thông tin như vậy, nguồn tin không chính thống nghiễm nhiên trở thành dữ liệu.
Phần lớn nông dân vẫn sản xuất nhỏ lẻ, khó liên kết với nhau để tạo thành sức mạnh chung. Khi đến mùa thu hoạch, họ không quyết định được giá bán, mà chờ người khác đến định giá. Không có hợp đồng dài hạn, không có kênh tiêu thụ thật sự ổn định, cho nên mỗi vụ mùa đều chuyên chở cả những “hên xui”. Hãy nhân rộng vấn đề hiện tại lên, bức tranh toàn cảnh của một nền Nông nghiệp đầy phập phồng sẽ hiện ra.
Người nông dân sẵn sàng thử giống mới, học cách làm mới, thậm chí vay vốn để đầu tư. Nhưng trong một hệ thống thiếu thông tin, thiếu liên kết và thiếu bảo đảm, mỗi thay đổi đều đi kèm rủi ro lớn.
Cho nên, câu chuyện thực tế đằng sau hàng loạt sự kiện “giải cứu” qua nhiều năm, ta có thể thấy rằng. Người nông dân không thiếu ý chí thay đổi - họ đang thiếu một hệ thống giúp họ thay đổi.
Ở cấp quản lý, điều cần thiết không chỉ là chính sách, mà là một hệ thống vận hành đồng bộ đính kèm: hành lang pháp lý rõ ràng để khuyến khích chia sẻ dữ liệu và liên kết sản xuất; cơ chế tín dụng linh hoạt, cho phép vay vốn dựa trên phương án sản xuất thay vì chỉ dựa vào tài sản thế chấp; các chương trình đào tạo thực chất để “xóa mù công nghệ”, giúp người nông dân hiểu và sử dụng được công cụ mới. Quan trọng không kém là vai trò kết nối thị trường - từ hỗ trợ xây dựng thương hiệu đến mở rộng kênh tiêu thụ - để người sản xuất không còn đứng một mình ở đầu chuỗi.
Tôi rời khu vườn cam mà lòng cũng nặng trĩu. Rồi khu vườn cam này sẽ lại được trồng. Người nông dân như ông chủ vườn vẫn sẽ xuống giống, vẫn sẽ chăm sóc, vẫn đặt hy vọng vào một mùa vụ mới.
Nhưng nếu cách quyết định không thay đổi, thì kết cục có thể cũng sẽ không sáng sủa gì cho cam. Bởi cuối cùng, thứ quyết định tương lai của cả khu vườn không phải là cây cam, mà là lý do chính xác người ta phải trồng thứ gì trên nó.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

