Như Báo Thanh Niên đã thông tin, cập nhật từ Sở GD-ĐT TP.HCM cho thấy tổng chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 của 181 trường THPT công lập năm nay xấp xỉ 120.000 học sinh (HS); có tổng 151.254 HS đăng ký nguyện vọng (NV) 1, tỷ lệ phân luồng HS sau THCS vào học lớp 10 công lập của TP.HCM năm nay là 79,4%. Do đó, khoảng 31.000 HS không trúng tuyển vào lớp 10 công lập.
Càng gần đến ngày HS TP.HCM thi lớp 10 (31.5), chị Trương Thị Ly, phụ huynh trú P.Bình Thạnh, TP.HCM, càng thấy thấp thỏm không yên. Vợ chồng chị cùng bàn bạc để quyết định thứ tự đặt NV của con từ 1 tới 3: THPT Gia Định (P.Thạnh Mỹ Tây); THPT Trưng Vương (P.Sài Gòn); THPT Trần Văn Giàu (P.Bình Lợi Trung). Các NV được tính toán kỹ, dựa trên điểm chuẩn các năm, lực học của con, khoảng cách di chuyển từ nhà tới trường… “NV 3 là phương án an toàn, để bằng mọi giá cũng có thể được học lớp 10 công lập”, chị Ly nói.
Con gái chị cũng có học lực khá tốt ở bậc THCS, song chị lo vì biết năm nay số thí sinh dự thi lớp 10 ở TP.HCM tăng cao hơn năm trước, sau sáp nhập, HS di chuyển về khu vực 1 TP.HCM cũng đông hơn, HS phải cạnh tranh cao hơn. Ngoài ra, từ năm ngoái tới nay đề thi theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 có nhiều đổi mới.
Theo lý thuyết, sẽ có nhiều con đường khác nếu HS không vào lớp 10 công lập, nhưng chị Ly lý giải: “Tôi nằm trong số những phụ huynh đặt mục tiêu con mình phải vào lớp 10 công lập, dù ở NV nào. Lý do lớn nhất là tài chính chỉ phù hợp ở trường công, mình có thể chăm lo lâu dài cho con. Chi phí trường tư thục mỗi tháng vượt quá khả năng chi trả của gia đình. Nếu như sau tuổi 18, khi con tốt nghiệp THPT, dù không đậu một trường đại học, con có thể học nghề, vừa học vừa làm. Nhưng ở tuổi 15, các con còn rất nhỏ, chưa thể chủ động được cuộc sống, nếu gia đình không đồng hành để cùng con lựa chọn NV, nhắc nhở con học tập, tìm một môi trường giáo dục phù hợp với bản thân, có thể các con sẽ phải thất học, lỡ dở tương lai, trở thành gánh nặng của gia đình, xã hội…”.
Bạn bè của chị Ly cũng trong tâm trạng thấp thỏm, thậm chí âu lo hơn khi khu vực họ ở có quy mô dân số lớn, số trường học THPT công lập ít, như khu vực Q.12 cũ, Q.Tân Phú nên các HS phải cạnh tranh khốc liệt để có một tấm vé vào lớp 10 công lập. Như tại Trường THPT Trường Chinh, chỉ tiêu năm nay là 900 em nhưng có đến 1.653 HS đăng ký NV 1 (tỷ lệ chọi 1,84); Trường THPT Tây Thạnh chỉ tiêu lấy 1.035 HS lớp 10, nhưng có đến 2.146 HS đăng ký NV 1 (tỷ lệ chọi 2,07); Trường THPT Lê Trọng Tấn có 1.655 HS đăng ký NV 1, nhưng chỉ lấy 675 em (tỷ lệ chọi là 2,45)… Nhiều phụ huynh sẵn sàng đặt NV 3 là các trường THPT công lập cách xa nơi ở hiện tại hơn 10 km. Khi đăng ký NV, hệ thống tuyển sinh cũng cảnh báo về khoảng cách này, phụ huynh phải bấm xác nhận đồng ý. Song vì mục tiêu “phải đậu trường công”, đó là lựa chọn an toàn nhất.
Anh V.Đ, có con gái đang học lớp 9 tại Trường THCS Lý Thánh Tông, P.Chánh Hưng, TP.HCM, kể giai đoạn này cả nhà anh “cùng sắp thi lớp 10”. Mỗi người mỗi việc, ai cũng thấp thỏm, mong kỳ thi mong chóng xong xuôi.
“Suốt kỳ nghỉ lễ 30.4 và cả các cuối tuần vừa qua, nhà tôi không đi đâu chơi, con tập trung học và học để đạt mục tiêu đậu NV 1. Mẹ thì lo nấu ăn lo bồi bổ sức khỏe cho con, ba thì dò thông tin trên mạng, báo chí để cập nhật chỉ tiêu tuyển sinh các trường rồi vẽ sơ đồ, tính toán các khả năng, phương án, cân đối điểm chuẩn từng trường qua mỗi năm, đối chiếu với năng lực học của con để chốt NV. Tính toán làm sao để kỳ thi lớp 10 với con nhẹ nhàng, không quá căng thẳng nhưng cũng không được dễ quá để buông xuôi”, anh V.Đ kể.
Trường THPT Nguyễn Khuyến, P.Hòa Hưng, nơi con gái anh đặt NV 1 năm nay lấy 855 chỉ tiêu lớp 10, đang có 1.013 HS đăng ký NV 1. Sau khi Sở GD-ĐT TP.HCM công bố chỉ tiêu, tỷ lệ chọi, anh V.Đ ngồi tính toán, ủng hộ con giữ nguyên phương án. “Tâm trạng vợ chồng con cái đều nói chung là rất lo. Vừa mong con vào lớp 10 công lập để phù hợp với khả năng của gia đình, mong con đậu được NV 1 như mong muốn của con”, người cha bộc bạch.
Ông Phạm Văn Cường, Phó hiệu trưởng Trường THPT Tây Thạnh, P.Tây Thạnh, TP.HCM, cho rằng để giảm áp lực tuyển sinh lớp 10 bền vững, trước tiên cần đổi thay quan niệm “chỉ trường tốp đầu mới là thành công”.
Thực tế, mỗi trường THPT đều có những giá trị riêng, môi trường riêng và điều quan trọng nhất là sự phù hợp với năng lực, tính cách, định hướng phát triển của từng HS. Ngôi trường phù hợp sẽ giúp HS phát huy tốt năng lực, hình thành sự tự tin và trưởng thành đúng với khả năng của HS. Khi suy nghĩ được như vậy, cộng với sự đồng hành với HS bằng tình yêu thương, sự thấu hiểu thay vì áp lực hay những sự so sánh, cha mẹ sẽ đồng hành cùng con với sự bình tĩnh, tích cực.
“Điều thứ hai, để giảm áp lực tuyển sinh lớp 10, nhà trường và ngành giáo dục cần tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục đồng đều giữa các trường THPT, đồng thời đẩy mạnh tư vấn hướng nghiệp, phân luồng và định hướng nghề nghiệp từ sớm để HS hiểu rõ năng lực, sở trường, đam mê của bản thân. Khi các em hiểu mình phù hợp với điều gì, các em sẽ có lựa chọn đúng đắn hơn thay vì chạy theo tâm lý đám đông, áp lực thành tích”, ông Cường nêu quan điểm.
Ông Đỗ Đình Đảo, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ, P.Xóm Chiếu, TP.HCM, cho hay những ngày này, nhiều phụ huynh đang “ngồi trên đống lửa”, lo sức khỏe của con, lo chọn trường, lo đăng ký NV, lo tỷ lệ chọi, lo đề thi, sợ lựa chọn sai sẽ ảnh hưởng đến cả chặng đường tương lai…
“Việc lựa chọn NV không phải là một “canh bạc may rủi”, mà cần dựa trên năng lực thực tế của HS, kết hợp với sự cân nhắc hợp lý giữa mong muốn và khả năng. NV 1 nên là mục tiêu phấn đấu. NV 2 có tính an toàn và NV 3 là điểm tựa để đảm bảo cơ hội vào học lớp 10 công lập. Song, phụ huynh đừng để áp lực của mình thành gánh nặng cho con em. Điều các HS lớp 9 cần bây giờ không phải là sự thúc ép, mà là sự đồng hành, động viên, giúp các em có tâm lý ổn định, phát huy năng lực bản thân. Cha mẹ cần bình tĩnh, sáng suốt, lan tỏa sự tích cực đến con em mình”, ông Đảo khuyên.
Đồng thời, ông Đảo cũng cho rằng, mỗi HS đều có một lộ trình phù hợp riêng. Dù vào trường nào, nếu các em có ý chí, chăm chỉ, được định hướng đúng, các em vẫn có thể phát triển tốt.
“Như 99% phụ huynh xung quanh mình, tôi cho con đi học thêm ở trung tâm để ôn toán và ngữ văn, riêng môn tiếng Anh thì con tự ôn tập tại nhà. Song, quan sát đề thi lớp 10 qua các năm, ở phần toán thực tế, các câu hỏi phân loại thí sinh trong bài hình học luôn là phần thách thức nhất, nếu chỉ học trong sách giáo khoa, không đi học thêm thì đạt điểm 7 cũng là một thách thức”, chị Trương Thị Ly, người đang đồng hành cùng con trên hành trình “phải vào lớp 10 công lập” ở TP.HCM, cho hay.
Vì vậy, chị Ly cho rằng bên cạnh xây dựng thêm nhiều trường THPT ở thành phố, tăng suất học lớp 10 trường công, chị mong muốn các HS có thể được học 100% kiến thức, từ cơ bản đến nâng cao, mở rộng, ôn thi lớp 10 với ngay giáo viên của con trên lớp. Thực tế, các HS lớp 9 như con chị đều “sấp ngửa” đi học thêm, có những ngày tới 21 giờ 30 mới về.
Chiều 11.4, Sở GD-ĐT tỉnh Gia Lai tổ chức hội thảo phỏng vấn, góp ý hoàn thiện dự án BESOP, nhằm chuẩn bị cho vòng chung kết SV_STARTUP VIII dự kiến diễn ra từ ngày 17 - 19.4 tại Hà Nội. Đây được xem là bước chuẩn bị quan trọng cuối cùng trước khi nhóm tác giả bước vào vòng thi cấp quốc gia.
Thực hiện dự án là nhóm 5 học sinh lớp 10, 11 Trường THPT Pleiku gồm: Nguyễn Ngọc Phong, Nguyễn Xuân Huy, Nguyễn Quỳnh Bảo Hân, Lương Quỳnh Anh và Đào Xuân Gia Khang. Các em đã chủ động nghiên cứu, thử nghiệm và xây dựng mô hình kinh doanh xoay quanh nguyên liệu quen thuộc của Tây nguyên là khoai lang.
Xuất phát từ thực trạng các bệnh lý chuyển hóa như tiểu đường, béo phì, rối loạn tiêu hóa ngày càng gia tăng, nhóm nhận thấy khoai lang tại vùng các xã thuộc huyện Phú Thiện (cũ) có hàm lượng tinh bột phù hợp để tạo ra tinh bột kháng RS3, loại tinh bột không tiêu hóa, có khả năng hỗ trợ hệ vi sinh đường ruột và ổn định đường huyết.
Trong khi đó, các sản phẩm tương tự trên thị trường thường có giá cao hoặc thiếu minh bạch về thành phần. Từ thực tế này, dự án BESOP ra đời với quy trình sản xuất tinh bột kháng ứng dụng công nghệ hồ hóa, làm lạnh đột ngột và sấy thăng hoa, không sử dụng hóa chất bảo quản hay phụ gia tổng hợp.
Đáng chú ý, nhóm còn tận dụng phần bã khoai lang sau chế biến để sản xuất bánh thực dưỡng và giấy thủ công, hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn.
Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy xã Phú Thiện, cho biết địa phương có khoảng 1.000 ha khoai lang, sản lượng gần 23.000 tấn/năm nhưng giá cả bấp bênh. "Chúng tôi rất phấn khởi khi học sinh trăn trở với sản phẩm quê hương và mong dự án thành công, sớm đưa vào ứng dụng thực tiễn giúp cho bà con nông dân", ông Nam nói.
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Đông Hải, Hiệu trưởng Trường THPT Pleiku, nhấn mạnh: "Chúng tôi muốn khẳng định rằng, học sinh đến trường không chỉ để học kiến thức trong sách vở, mà còn để nuôi dưỡng khát vọng sáng tạo, học cách trân quý và làm giàu trên chính mảnh đất quê hương mình. Chúng tôi tự hào khi học sinh của mình có dự án lọt vào vòng chung kết lần này".
BESOP xây dựng hệ sinh thái sản phẩm đa dạng gồm: tinh bột kháng nguyên chất, tinh bột kháng phối trộn cà phê, bánh từ bã khoai và giấy thủ công tái chế. Nhóm dự kiến liên kết thu mua nguyên liệu với nông dân, hợp tác sản xuất với nhà máy chế biến và phát triển kênh phân phối qua website, sàn thương mại điện tử, mạng xã hội cùng hệ thống cửa hàng, showroom cà phê tại địa phương.
Theo tính toán của nhóm học sinh, dự án có thể đạt doanh thu gần 433 triệu đồng trong năm đầu, tổng doanh thu hơn 1,79 tỉ đồng sau 3 năm và hoàn vốn vào năm thứ hai. Mục tiêu dài hạn là tạo việc làm cho khoảng 400 lao động địa phương, đồng thời mở rộng thị trường ra toàn quốc và quốc tế.
Em Nguyễn Ngọc Phong, trưởng nhóm dự án BESOP, cho biết: "Những góp ý của các đại biểu về dự án rất bổ ích. Chúng em hứa sẽ tiếp thu toàn bộ các ý kiến phản biện để chỉnh sửa, hoàn thiện đề án trước khi tham gia vòng chung kết tại Hà Nội sắp tới".
Tại hội thảo ngày 11.4, dự án nhận được phản biện từ đại diện Vụ Học sinh - sinh viên (Bộ GD-ĐT), các chuyên gia Đại học Quốc gia Hà Nội cùng đại diện Sở KH-CN, Tỉnh đoàn và Hội Doanh nghiệp trẻ Gia Lai. Chương trình tổ chức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, giúp nhóm hoàn thiện cả nội dung lẫn tính khả thi.
TS Bùi Tiến Dũng, chuyên viên cao cấp Vụ Giáo dục chính trị và công tác học sinh - sinh viên (Bộ GD-ĐT), đánh giá BESOP là dự án duy nhất về khoai lang lọt vào vòng chung kết năm nay và ấn tượng với cách tổ chức hội thảo bài bản, có sự tham gia của nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và nông dân.
"So với nhiều địa phương khác, tôi ấn tượng mạnh với cách Sở GD-ĐT tỉnh Gia Lai và Trường THPT Pleiku tổ chức hội thảo hoàn thiện dự án một cách rất bài bản, khoa học, có sự kết nối chặt chẽ giữa nhà quản lý, chuyên gia đầu ngành. Đặc biệt còn có sự tham gia của lãnh đạo địa phương, doanh nghiệp, người trồng khoai lang tại vùng nguyên liệu xã Phú Thiện. Sự chuẩn bị kỹ lưỡng này là bệ phóng, hy vọng dự án sẽ tiến xa", TS Bùi Tiến Dũng nói.
Dự án BESOP không chỉ là một ý tưởng khởi nghiệp học đường, mà còn thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm của học sinh Tây nguyên trong việc tạo ra giá trị từ chính nông sản quê hương.
Thông tin được nêu trong báo cáo "UK TNE tại Đông Á" được Hội đồng Anh công bố mới đây. Cụ thể, đơn vị này thông tin có 13.285 người Việt theo học các chương trình UK TNE trong năm học 2024-2025, tăng 785 người so với năm học trước đó. Mức này đưa nước ta vào top 5 thị trường đông người học UK TNE nhất khu vực Đông Á và xếp thứ 14 thế giới.
Ngoài ra, tính riêng năm học 2023-2024, UK TNE ở Việt Nam góp tới 80% tăng trưởng tại khu vực Đông Nam Á.
UK TNE là khái niệm chỉ các chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục Anh được triển khai ngoài lãnh thổ Anh thông qua đa dạng hình thức như mở phân hiệu tại nước ngoài, liên kết đào tạo với trường nước sở tại hay đào tạo từ xa...
Một xu hướng đáng chú ý là vào trước Covid-19, Đông Á là nơi có 4/5 thị trường UK TNE lớn nhất thế giới, gồm Trung Quốc, Malaysia, Singapore và Hồng Kông. Tuy vậy, vào năm học 2024-2025, bức tranh đã đổi thay khi sinh viên các khu vực này học UK TNE phần lớn đều chững lại, làm thứ hạng toàn cầu của 3/4 thị trường - trừ Trung Quốc - đều sụt giảm so với trước đại dịch.
Việt Nam là một "ngoại lệ đáng chú ý" trong xu hướng này, báo cáo nhận định, vì số lượng người Việt theo đuổi các chương trình UK TNE đã tăng hơn gấp ba từ sau Covid-19. "Nhiều khả năng" nước ta sẽ vượt Hồng Kông, trở thành thị trường lớn thứ 4 của UK TNE ở Đông Á trong những năm tới, báo cáo nêu.
Một yếu tố quan trọng đóng góp vào tốc độ tăng trưởng này là số chương trình UK TNE đang được vận hành ở Việt Nam. Theo dữ liệu tính tới tháng 6.2025 của Bộ GD-ĐT, Anh đang dẫn đầu số lượng chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục tại Việt Nam với 70 chương trình, theo sau là Úc (56), Pháp (55), Mỹ (50) và một số quốc gia, vùng lãnh thổ.
Tuy nhiên, số chương trình liên kết đào tạo của Anh thời điểm trên lại giảm 50 so với cùng kỳ năm 2024.
Một dữ liệu đáng chú ý khác được Hội đồng Anh nêu trong báo cáo là số lượng người Việt "du học tại chỗ" các chương trình UK TNE đang cao gấp 3,57 lần số chọn du học trực tiếp tại Anh trong năm học 2024-2025. Tỷ lệ này cũng tăng đều trong thời gian qua, chỉ ra thực tế nhu cầu về bằng cấp Anh vẫn hiện diện nhưng xu hướng đã đảo chiều từ du học trực tiếp tại Anh thành "du học tại chỗ" ngay tại Việt Nam.
Thống kê từ Cơ quan thống kê giáo dục ĐH Anh xác nhận điều này. Cụ thể, năm học 2024-2025 có 3.675 người Việt du học Anh, tăng nhẹ so với năm ngoái (3.515). Tuy vậy, nếu so với cách đây 10 năm vào 2014-2015, mức này chỉ mới bằng 87,5% (4.200). Một điểm đáng chú ý khác là số lượng người Việt du học Anh giảm đều từ giai đoạn 2014-2015 và chỉ mới tăng đều trở lại từ 2021-2022 tới nay.
Đối lập, số lượng người Việt theo học các chương trình UK TNE cách đây 5 năm vào 2019-2020 đã đạt 3.780, vẫn nhỉnh hơn số du học Anh ở thời điểm hiện tại. Và trái ngược với số du học Anh vẫn xoay quanh mốc 3.000-4.000 trong thập kỷ qua, số lượng học UK TNE đã sớm bứt phá mốc 10.000 được vài năm.
"Ngày càng nhiều sinh viên trong khu vực hoàn thành các chương trình UK TNE mà không cần nhập học trực tiếp ở Anh", báo cáo nêu, cho biết thêm 2024-2025 còn lần đầu ghi nhận số người học từ Đông Á đăng ký chương trình UK TNE gần tương đương với số người học khu vực này đang theo đuổi các khóa đào tạo trực tiếp tại Anh.
Trên bình diện quốc tế, báo cáo ghi nhận hiện có 212.600 người học Đông Á theo đuổi các chương trình UK TNE, tăng 5,6% so với năm trước và tăng 36% nếu so với thời điểm trước Covid-19. Riêng 5 thị trường hàng đầu góp đến 95% số lượng, gồm Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Hồng Kông và Việt Nam.
Bà Hoàng Vân Anh, Giám đốc Chương trình giáo dục của Hội đồng Anh tại Việt Nam, chia sẻ với Thanh Niên rằng kết quả báo cáo "cho thấy triển vọng tích cực" với cả khu vực Đông Á và Việt Nam. Nước ta hiện là một trong 3 trung tâm TNE hàng đầu trong khu vực Đông Á và sự tăng trưởng này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của TNE trong quá trình hỗ trợ quốc tế hóa giáo dục ĐH của Việt Nam, theo bà Vân Anh.
"Điều này còn góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành trung tâm giáo dục quốc tế", bà Vân Anh nói, cho biết thêm Hội đồng Anh đã phối hợp cùng các bên thành lập Mạng lưới Hợp tác TNE Anh-Việt (UK-Viet Nam EmpowerTNE) hồi cuối năm ngoái nhằm phát triển hệ sinh thái TNE bền vững, chất lượng tại Việt Nam.
Trước đó, trao đổi với Thanh Niên bên lề tuần lễ giáo dục Đông Á tổ chức ở Indonesia hồi tháng 2, bà Jazreel Goh, tác giả báo cáo nêu trên, hiện đảm nhận vị trí Giám đốc Trung tâm phân tích giáo dục Đông Á thuộc Hội đồng Anh kiêm Giám đốc Hội đồng Anh tại Malaysia, nhận định từ sau Covid-19, ngày càng nhiều sinh viên Đông Á trong đó có Việt Nam muốn học gần nhà hơn. Đây cũng là tiền đề để các chương trình UK TNE phát triển.
Hai xu hướng đáng chú ý khác, theo bà Goh, là nhu cầu du học các điểm đến nói tiếng Anh như Anh, Úc, Mỹ... vẫn còn dư địa tăng trưởng, song song đó là người học đang ngày càng quan tâm tới các ngành về dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ máy tính và những lĩnh vực tương tự.
Bà Goh cho biết thêm, việc triển khai UK TNE tại Việt Nam không chỉ giúp người học Việt tiếp cận các chương trình đào tạo chuẩn quốc tế, mà còn là cơ hội để đào tạo và nâng chuẩn đội ngũ giảng viên nội địa. Đây cũng là động lực góp phần quốc tế hóa giáo dục ĐH ở Việt Nam, tạo tiền đề để Việt Nam xuất khẩu giáo dục ra thế giới - nhất là với những người bạn láng giềng như Lào và Campuchia.
"Tôi tin chúng ta còn chứng kiến nhiều mô hình hợp tác TNE hơn nữa trong tương lai, thay vì chỉ dừng ở việc gửi sinh viên ra nước ngoài du học", bà nói.
Theo phân loại của Hội đồng Anh, khu vực Đông Á bao gồm các thị trường: Úc, Brunei, Campuchia, Trung Quốc, Hồng Kông, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam.
Theo kế hoạch tuyển sinh đầu cấp của Hà Nội, giai đoạn 2016-2018, mỗi năm thủ đô có hơn 80.000 học sinh hoàn thành chương trình THCS; từ 2019 đến nay, không năm nào dưới 100.000.
Năm 2026 được coi là mốc kỷ lục với 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, trong đó khoảng 130.000 em đăng ký thi lớp 10. Tuy nhiên, con số này sẽ sớm bị vượt qua, khi năm 2027 dự kiến có gần 190.000 em tốt nghiệp THCS, tính theo số học sinh vào lớp 6 năm 2023 (sinh năm Nhâm Thìn - 2012).
Với cách tính tương tự, giai đoạn 2028-2030, số học sinh lớp 9 được dự báo quanh mức 160.000, cao hơn khoảng 20.000 so với năm nay.
Còn so với thập kỷ trước, số học sinh lớp 9 của Hà Nội tăng 80.000-110.000; riêng giai đoạn 2021-2026 tăng 37.000.
Trong khi đó, từ năm 2021 đến nay, Hà Nội có thêm tổng cộng 11-13 trường THPT công lập (chưa gồm trường Việt Hùng, Minh Châu do chưa được giao chỉ tiêu). Nếu mỗi trường tuyển 15 lớp 10 (sĩ số 45) thì số suất học tăng thêm khoảng 7.400- 8.700, chỉ bằng 20-23% so với số học sinh tăng thêm. Chưa kể, không phải trường nào cũng tuyển được mức này.
"Học sinh tăng nhanh mà tốc độ xây trường thì chậm", TS. KTS Đào Ngọc Nghiêm, nguyên Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc Hà Nội, nhận định.
Chênh lệch cung - cầu khiến kỳ thi lớp 10 ở Hà Nội luôn được đánh giá căng thẳng nhất cả nước. Năm nay, tỷ lệ vào công lập chỉ 55-57%, thấp nhất trong 10 năm. Với mức gần 190.000 em năm tới, nhiều nhà giáo dự đoán tỷ lệ này còn giảm.
"Cuộc đua vào lớp 10 ở Hà Nội vẫn sẽ tiếp tục kéo dài, thậm chí tăng cao trong năm 2027", thầy Quang, hiệu trưởng một trường THCS ở ngoại thành Hà Nội, nhận định.
Theo ông Đào Ngọc Nghiêm, một trong những lý do khiến thủ đô thiếu trường THPT công lập là công tác dự báo chưa sát với mức tăng dân số thực tế. Trước đây, giới chức dự kiến Hà Nội có 9 triệu dân vào năm 2030, nhưng nay đã gần đạt ngưỡng này. Trong khi đó, quỹ đất dành cho trường học ít.
Dù vậy, ông thấy thành phố cũng đang thực hiện nhiều kế hoạch dài hạn để giải quyết việc thiếu trường.
Đầu tiên là xây trường mới. Đồ án Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm cho biết sẽ ưu tiên dành 5% quỹ đất phục vụ công cộng của các phường và đất chưa khai thác để xây trường học, tận dụng đất cải tạo chung cư cũ hoặc sau khi di dời trụ sở các cơ quan...
Ngoài ra, thành phố thử nghiệm áp dụng cơ chế đặc thù trong xây dựng trường. Trước đây, trường học không được xây quá 4 tầng, song một số ở khu vực đông dân như quận Hai Bà Trưng cũ đã xây cao hơn, như THCS Vân Hồ, THCS Lê Ngọc Hân. Gần đây, THPT Đỗ Mười được xây mới với 5 tầng nổi, sử dụng thang máy.
Một cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cho biết năm 2027, thành phố dự kiến có thêm bốn trường THPT công lập, nằm tại Đông Anh, Phú Diễn, Vĩnh Hưng và Tây Mỗ. Trong 5 năm tới, số trường tăng "ít nhất" 8-10, gồm 6 trường liên cấp tiên tiến dự kiến hoạt động từ năm 2029.
Trước mắt, thầy Quang khuyên phụ huynh không nên đợi tới khi con học lớp 9 mới tính chuyện thi lớp 10, mà cần lựa chọn lộ trình sớm, phù hợp. Ông cũng cho rằng phụ huynh nên cởi mở hơn với trường tư thục, học nghề, miễn sao phù hợp với năng lực của con và định hướng, tài chính của gia đình.