Sau hơn 4 năm, ý nghĩa lớn nhất của lệnh ngừng bắn 72 giờ không phải là “hòa bình”, mà là mở ra niềm hy vọng của nhiều gia đình Nga và Ukraine trong cuộc xung đột.
Cuối tháng 4-2026, Điện Kremlin đã đề xuất một lệnh ngừng bắn ngắn hạn nhân dịp Ngày Chiến thắng. Mục tiêu của Matxcơva là đảm bảo an ninh tuyệt đối cho lễ duyệt binh tại quảng trường Đỏ trước mối đe dọa từ drone của Ukraine.
Tuy nhiên, Ukraine thẳng thừng từ chối đề nghị này khi gọi đó là “mưu đồ câu giờ” để Nga tái sắp xếp lực lượng. Phía Ukraine tuyên bố Ngày Chiến thắng của Nga không có giá trị với họ và khẳng định sẽ tiếp tục các hoạt động quân sự nếu thấy cần thiết.
Đối với Ukraine, họ cho rằng ngày 9-5 luôn được Điện Kremlin sử dụng để thúc đẩy sự ủng hộ của người dân trong nước đối với cuộc chiến. Ngoài ra, Kiev cảm thấy không vui vẻ khi bị yêu cầu hưu chiến chỉ để bên tấn công có thể thảnh thơi kỷ niệm một chiến thắng quân sự.
Trong khi đó, Matxcơva lại coi ngày này là phần tối quan trọng trong việc xây dựng bản sắc dân tộc Nga chống ngoại xâm.
Tổng thống Trump đã trực tiếp can thiệp bằng các cuộc điện đàm cá nhân với cả ông Putin và ông Zelensky. Vị tổng thống Mỹ đã định vị lệnh ngừng bắn này là “sự khởi đầu cho hồi kết” của cuộc chiến tàn khốc kéo dài hơn 4 năm qua.
Còn đối với Kiev, việc đồng ý tạm dừng cho thấy họ là “đối tác sẵn lòng” trong tiến trình ngoại giao do Mỹ dẫn dắt. Đây là điều rất quan trọng để duy trì sự hỗ trợ của Mỹ trong tương lai.
Đối với Tổng thống Putin, một lệnh ngừng bắn vào Ngày Chiến thắng là trung tâm của tính chính danh của Điện Kremlin. Một cuộc tấn công bằng drone hay tiếng còi báo động không kích vang lên tại Matxcơva ngay trong buổi lễ sẽ phần nào ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh nước Nga mạnh mẽ và “vạn năng”.
Nhưng khi lễ duyệt binh không có tiếng còi báo động không kích đang diễn ra ở quảng trường Đỏ, một câu hỏi lớn vẫn còn đó: Liệu đây là “sự khởi đầu của hồi kết” như lời Tổng thống Trump tuyên bố trên Truth Social, hay chỉ là một “quãng nghỉ lấy hơi” mà cả Nga, Ukraine và ông Trump đều cần?
Trước hết, việc trao đổi 1.000 tù binh từ mỗi bên cung cấp một “chiến thắng” nhân đạo cần thiết để Tổng thống Zelensky có một thắng lợi đối với người dân Ukraine. Đối với một đất nước đã trải qua hơn 4 năm chiến tranh, việc 1.000 người lính trở về là một niềm an ủi lớn. Ông Zelensky tuyên bố: “Quảng trường Đỏ ít quan trọng đối với chúng tôi hơn là mạng sống của những tù binh chiến tranh Ukraine có thể được đưa về nhà”.
Ngoài ra, với nền kinh tế Nga đang căng mình dưới sức ép của tình trạng chiến tranh kéo dài nhiều năm và cơ sở hạ tầng của Ukraine đang bị hủy hoại nặng, cả hai nước đều đang tìm kiếm một lối thoát khả dĩ mà không giống như một sự đầu hàng vô điều kiện.
Dù là thông qua quan hệ cá nhân hay lời đe dọa thay đổi các gói viện trợ, Washington đã chứng minh được khả năng khiến cả Nga và Ukraine tạm thời nói “đồng ý”. Lệnh ngừng bắn 3 ngày này chính là “bước đệm” trong chiến lược đàm phán lớn hơn của ông Trump.
Bằng cách đảm bảo một lệnh ngừng bắn trong ngày lễ nhạy cảm nhất của Nga, ông đã thiết lập được một đòn bẩy cá nhân trực tiếp trong việc dàn xếp 2 bên đối địch buông súng.
Không giống như các lệnh ngừng bắn thất bại trước đây, thỏa thuận này được gắn kết bởi một cuộc trao đổi tù binh thực chất với số lượng lớn. Sự phối hợp hậu cần cần thiết để trao đổi tù binh cho thấy các kênh liên lạc được nối lại giữa Washington, Kiev và Matxcơva.
Mục tiêu cuối cùng của ông Trump có thể không chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn tạm thời, mà còn là một Hội nghị “Yalta mới”, một phiên bản của những gì từng xảy ra ở Yalta, Crimea vào tháng 2-1945 nhằm phân chia phạm vi ảnh hưởng sau Chiến tranh thế giới thứ 2.
Một thỏa thuận sâu rộng tiếp sau kỳ hưu chiến 3 ngày sẽ định nghĩa lại phạm vi ảnh hưởng của Nga để đổi lấy việc chấm dứt chiến tranh vĩnh viễn.
Một cuộc ngưng bắn 3 ngày không phải là một hiệp ước hòa bình. Nếu không có sự đồng thuận về tình trạng của các vùng lãnh thổ đang bị chiếm đóng, “các hoạt động xung đột” có khả năng sẽ tái diễn với cường độ dữ dội hơn ngay khi đồng hồ điểm nửa đêm ngày 11-5.
Sự mất lòng tin vẫn còn đó khi những “bóng ma” thất bại từ thỏa thuận Minsk 2014 và 2015 trong quá khứ với đầy đủ các bên tham gia cam kết vẫn luôn ám ảnh người Ukraine.
Nếu lệnh ngừng bắn giữ vững được qua ngày 11-5, ông Trump có lẽ sẽ tuyên bố chiến thắng trên truyền thông. Lúc đó, ông Trump sẽ được ghi nhận có “công lao” cho một thỏa thuận ngừng bắn ngắn hạn giữa Nga và Ukraine, nhưng đó có thể là một “hòa bình do cùng kiệt sức” hơn là một “hòa bình vì mong có hòa bình”.
"Người dân Israel đã mua hàng trăm nghìn vé máy bay để tận hưởng kỳ nghỉ hè. Chúng tôi cam kết cho phép các chuyến bay thương mại diễn ra và không hủy bất cứ vé nào vì máy bay tiếp dầu Mỹ", Bộ trưởng Giao thông và An toàn Đường bộ Israel Miri Regev nói ngày 14/7.
Bà Regev tuyên bố Israel sẽ cho phép không quá 20 máy bay tiếp dầu Mỹ hiện diện ở sân bay Ben Gurion ở Tel Aviv theo thỏa thuận từ trước. Số phi cơ còn lại sẽ phải di chuyển đến các căn cứ không quân Israel.
Sân bay Ben Gurion là cơ sở hàng không chủ chốt và đông đúc nhất của Israel, có năng lực tiếp nhận 25 triệu hành khách mỗi năm. Trong giai đoạn cao điểm mùa hè, mỗi ngày sân bay có thể xử lý khoảng 70.000-90.000 hành khách.
Phi đội bay dầu Mỹ, gồm 9 chiếc KC-46 Pegasus và 5 máy bay KC-135, đáp xuống sân bay Ben Gurion vài ngày trước khi xung đột Trung Đông bùng phát hồi tháng 2. Lượng máy bay tiếp dầu và vận tải cơ Mỹ hiện diện ở đây đã tăng lên đáng kể từ đó.
Times of Israel cho biết 75 máy bay tiếp dầu và vận tải cơ Mỹ đã đóng quân tại sân bay Ben Gurion trong nhiều tháng. Nhiều máy bay tiếp dầu đã rời đi, nhưng vẫn còn khoảng 30 phi cơ loại này đang có mặt tại sân bay, cản trở hoạt động của máy bay dân sự và gây tình trạng thiếu bãi đỗ.
Một số nguồn tin cho biết các quan chức Mỹ và Israel rất tức giận về quyết định của Bộ trưởng Regev. 3 chuyên gia ngày 15/7 cho biết hạn chế số lượng phi cơ tiếp dầu tại sân bay Ben Gurion sẽ gây ra vấn đề lớn cho lực lượng Mỹ.
Không quân Mỹ có thể bố trí hàng chục chiếc KC-135 và KC-46 tại loạt căn cứ ở Israel và Trung Đông. Tuy nhiên, các cơ sở nằm gần Iran đã bị tập kích dữ dội trong 6 tuần xung đột, trong đó ít nhất 5 máy bay tiếp dầu Mỹ đã bị hư hại trong đòn tấn công nhằm vào căn cứ Prince Sultan ở Arab Saudi hồi tháng 3.
Hoạt động từ trung tâm hậu cần Al Udeid ở Qatar cũng trở nên bất khả thi do nguy cơ hứng đòn từ vũ khí tầm xa của Iran. Trong khi đó, các căn cứ như Muwaffaq Salti ở Jordan quá chật chội và không còn nhiều chỗ cho hàng chục máy bay tiếp dầu Mỹ.
Đại tá Tim Hawkins, phát ngôn viên Bộ Tư lệnh Trung tâm (CENTCOM) phụ trách hoạt động của quân đội Mỹ tại Trung Đông, cho biết cơ quan này "sẽ tiếp tục làm việc với các đối tác Israel để bố trí máy bay quân sự một cách tốt nhất nhằm hỗ trợ chiến dịch". Ông ca ngợi Israel và từ chối cung cấp thêm thông tin chi tiết.
Một cựu quan chức không quân Mỹ thừa nhận vận hành máy bay quân sự từ sân bay dân sự đã gây ra nhiều căng thẳng. Tuy nhiên, Ben Gurion được đánh giá là một trong những sân bay quan trọng nhất tại khu vực cả về mặt địa lý lẫn hệ thống phòng không bảo vệ.
Cựu quan chức này nhận định hạn chế liên quan sân bay Ben Gurion chưa ảnh hưởng đến chiến dịch tấn công Iran, cũng như hoạt động hỗ trợ các đối tác của Mỹ trong khu vực. CENTCOM và không quân Mỹ sẽ xem xét đường băng, bãi đỗ và khả năng cung cấp thiết bị tại những cơ sở khác để giải quyết vấn đề.
Một quan chức cấp cao của Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) cho biết Ben Gurion là sân bay quốc tế quy mô lớn duy nhất của Israel, đồng thời là cơ sở an toàn nhất trong khu vực đối với máy bay quân sự Mỹ.
"Sân bay Haifa và Ramon chỉ xử lý một phần rất nhỏ lưu lượng hàng không dân dụng của Israel. Ben Gurion có thể chứa khoảng 20 máy bay tiếp dầu của Mỹ. Vượt quá con số này sẽ gây tác động đáng kể lên hàng không dân dụng của Israel", người này cho hay.
Theo dữ liệu theo dõi tàu thuyền do Bloomberg tổng hợp ngày 20-6, ba siêu tàu chở dầu, với sức chứa mỗi chiếc khoảng 2 triệu thùng dầu thô, đang neo đậu tại cảng Sea Island, phía tây đảo Kharg.
Đây là dữ liệu mới nhất cho thấy Iran có thể đang đẩy nhanh quá trình bơm và xuất khẩu hàng triệu thùng dầu thô, trong bối cảnh thỏa thuận tạm thời với Mỹ đã mở lại các chuỗi cung ứng.
Ngoài ra, ảnh vệ tinh Sentinel-2 của Liên minh châu Âu (EU) chụp hôm 20-6 cũng ghi lại hình ảnh hai trong số ba tàu này đã cập bến, trong khi đó ảnh vệ tinh chụp vào một ngày trước đó cho thấy các bến tàu vẫn hoàn toàn trống.
Ngoài ra, quốc gia Hồi giáo này cũng đưa thêm các tàu rỗng vào vịnh Ba Tư. Cả ba tàu tại đảo Kharg đều được ghi nhận đã đi qua eo biển Hormuz vào vịnh Ba Tư ngày 18-6.
Trong khi các hãng vận tải quốc tế vẫn còn e ngại trong việc đưa tàu qua eo biển Hormuz, Iran đã kịp vận chuyển khoảng 20 triệu thùng dầu thô bằng các tàu neo đậu ngoài khơi cảng Chabahar, gần biên giới với Pakistan.
Đảo Kharg nằm cách bờ biển Iran khoảng 25km, gần tỉnh Bushehr, chiều dài chỉ khoảng 6 km. Đây là nơi trung chuyển quan trọng chiếm khoảng 90% lượng dầu xuất khẩu của Tehran.
Đặc biệt, đảo Kharg là cảng nước sâu duy nhất của Iran trong vịnh Ba Tư, khiến vai trò của hòn đảo này gần như không thể thay thế, trở thành một trong những điểm chiến lược nhạy cảm nhất của mạng lưới dầu mỏ toàn cầu.
Hiện phái đoàn Mỹ - Iran chuẩn bị đàm phán tại Thụy Sĩ nhằm hướng đến thỏa thuận cuối cùng, sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian ký biên bản ghi nhớ hôm 17-6.
Từ khi ký kết bản ghi nhớ đến khi các biện pháp trừng phạt được dỡ bỏ, Bộ Tài chính Mỹ sẽ cấp giấy miễn trừ cho hoạt động xuất khẩu dầu thô, sản phẩm hóa dầu và dẫn xuất của Iran, cùng tất cả các dịch vụ liên quan.
Giới phân tích nhận định Tehran là bên được hưởng lợi sớm nhất từ sự hạ nhiệt trong quan hệ với Mỹ sau khi ký kết biên bản ghi nhớ. Do đó, nước này không muốn lãng phí thời gian trong việc tái khởi động hoạt động xuất khẩu dầu.
"Chính phủ Mỹ hoàn toàn không có tính chính danh lẫn quyền tài phán để đưa ra cáo buộc như vậy. Đây là hành vi khiêu khích chính trị ô nhục, dựa trên sự thao túng đối với sự cố dẫn đến việc bắn rơi hai máy bay vào tháng 2/1996", báo Granma, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Cuba, ngày 20/5 đăng tuyên bố của chính phủ Cuba.
Tuyên bố được đưa ra sau khi Bộ Tư pháp Mỹ ngày 20/5 thông báo truy tố cựu chủ tịch Cuba Raul Castro với các cáo buộc liên quan đến vụ bắn rơi hai máy bay xuất phát từ Florida năm 1996. Sự việc khiến 4 người thiệt mạng và quan hệ Mỹ - Cuba lao dốc.
Theo chính phủ Cuba, hai máy bay này là do tổ chức khủng bố Hermanos al Rescate, trụ sở ở Miami, Florida, vận hành và đã nhiều lần xâm phạm không phận Cuba với mục đích thù địch.
Havana cho hay Washington đã bóp méo sự thật lịch sử, bỏ qua nhiều chi tiết, trong đó có các khiếu nại chính thức mà Cuba đã nhiều lần gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ, Cục Hàng không Liên bang Mỹ và Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế, về hơn 25 vụ xâm phạm không phận Cuba do Hermanos al Rescate thực hiện trong giai đoạn 1994-1996.
Cuba cũng cáo buộc chính phủ Mỹ khi đó phớt lờ các cảnh báo chính thức và công khai của giới chức Cuba, cũng như các thông điệp cảnh báo được chuyển trực tiếp tới tổng thống Mỹ về tính nghiêm trọng và những hệ quả có thể xảy ra từ các hành vi vi phạm này.
"Phản ứng của Cuba đối với hành vi xâm phạm không phận là hành động tự vệ chính đáng, được bảo vệ bởi Hiến chương Liên Hợp Quốc, Công ước Chicago năm 1944 về Hàng không Dân dụng Quốc tế, cũng như các nguyên tắc về chủ quyền không phận và tính tương xứng", tuyên bố có đoạn.
Cuba tái khẳng định cam kết hòa bình và quyết tâm thực hiện quyền tự vệ bất khả xâm phạm, cũng như sự ủng hộ vô điều kiện và không thay đổi đối với ông Raul Castro.
Chủ tịch Cuba Miguel Diaz Canel cũng viết trên X rằng các cáo buộc mà Bộ Tư pháp Mỹ đưa ra không có cơ sở pháp lý và "góp thêm vào hồ sơ mà Washington đang dựng lên để biện minh cho ý đồ quân sự nhằm vào Cuba".
Ông Raul Castro, 94 tuổi, là em trai của cố lãnh tụ Fidel Castro, từng dẫn dắt các cuộc đàm phán lịch sử của Cuba với chính quyền cựu tổng thống Mỹ Barack Obama vào năm 2014, dẫn đến việc mở lại các đại sứ quán và thiết lập lại quan hệ ngoại giao hai nước.
Năm 2018, ông thôi chức Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, người kế nhiệm là ông Diaz-Canel. Năm 2021, ông từ chức Bí thư thứ nhất đảng Cộng sản Cuba để chuyển giao quyền lực cho ông Diaz-Canel.
Ông Diaz-Canel hồi tháng 3 cho hay ông Raul Castro "vẫn là lãnh đạo lịch sử của cuộc cách mạng, dù không còn nắm giữ chức vụ" và vẫn là người có uy tín cao với nhân dân thông qua "sự công nhận lịch sử mà không ai có thể phủ nhận".