Nhân sự kiện Hội thảo khoa học quốc gia CTST 2026 diễn ra vào ngày 16.5.2026 tại Trường đại học Giao thông vận tải TP.HCM (UTH), phóng viên Báo Nhân Dân đã trao đổi với PGS-TS Nguyễn Tiến Thủy – Bí thư Đảng ủy, Phó hiệu trưởng UTH xung quanh vấn đề này.
Thưa ông, điểm nhấn nổi bật nhất của CTST 2026 năm nay là gì?
PGS-TS Nguyễn Tiến Thủy: Điểm nhấn quan trọng nhất của CTST 2026 là tăng cường kết nối giữa nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ với nhu cầu phát triển hạ tầng trọng điểm của đất nước. Việt Nam đang ở giai đoạn then chốt trong phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, từ đường sắt tốc độ cao, metro đến logistics cảng biển, giao thông thông minh và hạ tầng số.
Hội thảo không chỉ là diễn đàn học thuật, mà còn là cầu nối giữa nhà trường, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Trọng tâm không dừng ở công bố kết quả nghiên cứu, mà hướng tới thúc đẩy ứng dụng vào các công trình, dự án cụ thể, phục vụ trực tiếp yêu cầu phát triển quốc gia.
Các nghiên cứu tại hội thảo có thể đóng góp cụ thể gì cho những dự án lớn như đường sắt tốc độ cao, metro hay logistics?
Vai trò của nghiên cứu là rất cụ thể và xuyên suốt. Trong lĩnh vực đường sắt, các nghiên cứu có thể hỗ trợ từ quy hoạch tuyến, thiết kế nhà ga, xử lý nền đất yếu, đến tổ chức thi công, vận hành và bảo trì. Đặc biệt, yêu cầu làm chủ công nghệ cốt lõi là rất cấp thiết khi Việt Nam chuẩn bị triển khai các dự án quy mô lớn.
Với logistics, nghiên cứu góp phần tối ưu hóa vận tải đa phương thức, nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng, giảm chi phí. Những hướng như số hóa logistics cảng biển, kho bãi thông minh hay phân tích dữ liệu lớn sẽ là chìa khóa.
Quan trọng hơn, các nghiên cứu không dừng ở mô hình hay bài báo, mà phải đi vào thực tiễn vận hành, giải quyết các bài toán cụ thể của doanh nghiệp và địa phương.
Với vai trò là đơn vị tổ chức, Trường đại học Giao thông vận tải TP.HCM đang định vị mình như thế nào trong hệ sinh thái nghiên cứu và chuyển giao công nghệ hiện nay?
Trước yêu cầu phát triển các lĩnh vực trọng điểm như đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, logistics hiện đại, giao thông thông minh và các ứng dụng kinh tế tầm thấp phục vụ quản lý, khai thác, giám sát hạ tầng đô thị, Nhà trường xác định vai trò là “ba điểm kết nối”.
Thứ nhất, kết nối đào tạo với nhu cầu nhân lực mới, cấp thiết của quốc gia, thông qua chủ động cập nhật chương trình, tăng cường thực hành tại doanh nghiệp, năng lực số, ngoại ngữ và tư duy hệ thống cho người học.
Thứ hai, kết nối nghiên cứu với thực tiễn, hướng các đề tài vào những bài toán cụ thể về kỹ thuật, quản lý, vận hành và chính sách từ doanh nghiệp, địa phương và các dự án lớn.
Thứ ba, kết nối nguồn lực để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, thông qua hợp tác trong nước và quốc tế, phát triển phòng thí nghiệm liên kết trọng điểm quốc gia, nhóm nghiên cứu mạnh và năng lực chuyển giao công nghệ.
Chúng tôi hướng tới trở thành trung tâm khoa học công nghệ giao thông vận tải theo định hướng ứng dụng, gắn chặt với nhu cầu phát triển đất nước.
Theo ông, đâu là rào cản lớn nhất khiến nhiều nghiên cứu trong ngành giao thông vận tải chưa đi vào thực tiễn và hội thảo lần này có thể góp phần thu hẹp khoảng cách đó ra sao?
Rào cản lớn nhất là sự kết nối giữa nghiên cứu và nhu cầu thực tiễn chưa đủ chặt chẽ. Nhiều đề tài còn xuất phát từ logic học thuật hơn là từ bài toán thực tế, nên khó chuyển hóa thành giải pháp ứng dụng. Bên cạnh đó là thiếu cơ chế hợp tác dài hạn giữa nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Một điểm nữa là cách đánh giá kết quả nghiên cứu còn nặng về số lượng công bố, chưa chú trọng đầy đủ đến giá trị ứng dụng.
CTST 2026 kỳ vọng sẽ thúc đẩy các nghiên cứu đi vào thí điểm, ứng dụng và kiểm chứng trong thực tế, qua đó tạo ra giá trị thiết thực cho phát triển ngành.
Từ góc độ nhà quản lý giáo dục, ông kỳ vọng gì vào vai trò của sinh viên và các nhà khoa học trẻ trong nghiên cứu khoa học và phát triển ngành giao thông vận tải trong thời gian tới?
Tôi đặt rất nhiều kỳ vọng vào lực lượng trẻ. Trong 10-20 năm tới, họ sẽ là lực lượng trực tiếp đảm nhiệm các dự án lớn của ngành giao thông vận tải.
Đối với sinh viên, nghiên cứu khoa học cần gắn với việc rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn. Các em cần tiếp cận công trường, doanh nghiệp, hệ thống giao thông thực tế.
Đối với các nhà khoa học trẻ, cần có nền tảng chuyên môn vững, đồng thời mở rộng sang các lĩnh vực liên ngành như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, vật liệu, năng lượng và môi trường.
Nếu dám theo đuổi những vấn đề lớn, kiên trì làm chủ công nghệ cốt lõi và gắn bó với nhu cầu của đất nước, lực lượng trẻ sẽ đóng vai trò quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa ngành giao thông vận tải Việt Nam.
10 chuyên đề ôn tập môn toán thuộc chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao năm 2026 do giáo viên Trần Văn Toàn, nguyên tổ trưởng tổ toán Trường THPT Marie Curie (P.XuânHòa, TP.HCM), hướng dẫn được phát ở chuyên mục giáo dục trên các nền tảng: thanhnien.vn, fanpage Facebook và kênh YouTube của Báo Thanh Niên.
https://www.youtube.com/watch?v=wISrTIVmMzE
Trong chuyên đề 9: Tính góc và khoảng cách trong hình học không gian, giáo viên hướng dẫn cách xác định và tính góc, khoảng cách trong môn hình học không gian bằng phương pháp hình học thuần túy hoặc phương pháp gắn hệ trục tọa độ Oxyz.
Trước đó vào ngày 14.5, trong chuyên đề 8: Các bài toán thực tế tổng hợp, giáo viên hướng dẫn học sinh cách sử dụng linh hoạt các kiến thức trong chương trình phổ thông để giải một số bài toán thường gặp trong thực tế.
Từ 20.4 đến 23.5, vào các khung giờ cố định (16 giờ 30, 18 giờ 30 và 20 giờ 30) thứ hai đến thứ bảy hàng tuần, Báo Thanh Niên lần lượt phát sóng trực tiếp 88 chuyên đề Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT đạt điểm cao tại các địa chỉ thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Báo Thanh Niên.
88 chuyên đề ôn tập kiến thức do các giáo viên giàu kinh nghiệm tại TP.HCM xây dựng, gồm: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, chuyên Trần Đại Nghĩa, Bùi Thị Xuân, Lê Quý Đôn, Marie Curie, Nguyễn Hiền, quốc tế Á Châu… Qua mỗi chuyên đề ôn thi trực tuyến, giáo viên sẽ giúp học sinh tiết kiệm thời gian, tận dụng lợi thế của công nghệ để hứng thú với việc học, tích lũy kiến thức cho kỳ thi quan trọng sắp đến.
Sau các khung giờ nói trên, các chuyên đề vẫn xuất hiện trên các nền tảng thanhnien.vn, Facebook.com/thanhnien và YouTube Thanh Niên. Học sinh sử dụng bất kỳ thiết bị (điện thoại thông minh, máy tính cá nhân hay máy tính cố định) và chỉ cần kết nối internet đều có thể tiếp cận nội dung hệ thống kiến thức của 9 môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Học sinh có thể truy cập vào các nền tảng của Báo Thanh Niên hoặc quét mã QR từ lịch phát sóng để xem trực tiếp chương trình Bí quyết ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào đúng khung giờ hoặc xem lại 88 chuyên đề ôn thi tốt nghiệp THPT đã phát.
Lịch phát sóng tuần từ 18 đến 23.5 các chuyên đề ôn thi tốt nghiệp năm 2026
Trả lời phóng viên Dân trí trưa nay (14/5), đại diện Đại học (ĐH) Bách khoa Hà Nội cho biết, thông tin này chưa chính xác và chưa đúng với chủ trương của thành phố cũng như định hướng của nhà trường.
Cụ thể, theo chủ trương, ĐH Bách khoa sẽ có 3 không gian phát triển.
Thứ nhất, không gian lịch sử (tại địa điểm ở nội thành Hà Nội đang hoạt động hiện nay); thứ hai không gian mở rộng phân hiệu ở Hưng Yên và không gian thứ 3 là phát triển cùng hệ sinh thái đại học của Thủ đô (tại Hòa Lạc).
Định hướng của ĐH Bách khoa trước đó, không gian ở Hưng Yên sẽ có quy mô khoảng 30.000 người học. Việc phát triển Phân hiệu Đại học Bách khoa Hà Nội tại Hưng Yên được nhà trường xem là bước quan trọng trong chiến lược xây dựng mô hình “đại học đa trung tâm”, hướng tới việc tạo lập không gian học thuật rộng mở, hiện đại và bền vững.
“Dự án ở Hưng Yên dựa trên Đề án đưa ĐH Bách khoa Hà Nội vào nhóm đại học hàng đầu châu Á do Thủ tướng phê duyệt.
Còn dự án tại Hòa Lạc là chủ trương của TP Hà Nội nhằm xây dựng hệ thống cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn. Cả ba không gian này đều là định hướng phát triển song song, không thay thế lẫn cho nhau”, theo đại diện ĐH Bách khoa Hà Nội thông tin thêm.
Tìm hiểu của phóng viên, sở dĩ có thông tin lan truyền trên đây bởi theo thông tin từ cuộc họp thành ủy chiều qua (13/5), ông Trương Việt Dũng, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội cho biết, ĐH Bách khoa Hà Nội đã chính thức đồng ý di dời và chuyển khối đào tạo sinh viên lên cơ sở tại Hòa Lạc. Hơn 20.000 sinh viên của trường dự kiến sẽ học tập tại khu đô thị đại học mới này trong thời gian tới.
Phát biểu tại cuộc họp, ông cho rằng, hơn 20.000 sinh viên chuyển về cơ sở mới sẽ giảm tải hạ tầng cho thành phố. Các vị trí cũ của nhà trường có thể sẽ được sử dụng để đào tạo sau đại học hoặc bàn giao lại cho thành phố làm công viên, vườn hoa.
Thông tin này nằm trong chiến lược dài hạn của TP Hà Nội nhằm sắp xếp lại mạng lưới giáo dục đại học, phát triển khu đô thị đại học tại Hòa Lạc, kèm theo các dự án hạ tầng giao thông như tuyến đường sắt đô thị Văn Cao - Hòa Lạc.
Do đó đại diện nhà trường cho rằng, việc một số trang mạng xã hội chưa hiểu đúng thông tin về định hướng chiến lược quy hoạch của Thủ đô nên lan truyền sai chủ trương. Thông tin nhà trường sẽ bỏ cơ sở Hưng Yên để lên Hòa Lạc là chưa chính xác.
Trước đó, ngày 25/3/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 663/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án Phát triển Đại học Bách khoa Hà Nội thuộc nhóm cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á.
Trong bức tranh chiến lược này, dự án cơ sở 2 - Phân hiệu Đại học Bách khoa Hà Nội tại Hưng Yên được xác định là một mảnh ghép quan trọng - như một hạ tầng chiến lược - nhằm mở rộng không gian đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của Đại học.Phân hiệu đã được UBND tỉnh Hưng Yên chấp thuận chủ trương tại Văn bản số 2031/UBND-KGVX ngày 25/6/2025.
Ngày 30/9/2025, quy hoạch chi tiết về phân hiệu ở Hưng Yên đã được phê duyệt với tổng quy mô diện tích khoảng 68,21 ha, phục vụ 27.000 người học và 1.200 cán bộ giảng dạy, người lao động.
Hiện ở Hòa Lạc có một số trường đại học đã xây dựng, đi vào hoạt động hoặc đang trong quá trình xây dựng/bàn giao như sau:
Các khối trường thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN); Trường Đại học FPT; Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH - Đại học Việt Pháp); Học viện Tài chính...
Đây không còn là câu chuyện giáo dục, mà là bài toán tương lai quốc gia. Vì thế nếu chỉ hiểu phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là yêu cầu nâng cấp một vài đại học hay cải thiện chất lượng đào tạo, có lẽ vẫn chưa chạm tới bản chất vấn đề. Điều thực sự được đặt ra là một yêu cầu chiến lược: VN phải tái định nghĩa vai trò của đại học trong mô hình phát triển quốc gia mới.
Từ mô hình Humboldt thế kỷ 19, đại học hiện đại không còn là nơi chỉ truyền đạt tri thức, mà còn là trung tâm nghiên cứu, sáng tạo và dẫn dắt tư tưởng. Tuy nhiên, trong phần lớn quá trình phát triển của mình, giáo dục đại học VN chủ yếu được nhìn như nơi đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cho nền kinh tế.
Nhưng trong thế kỷ 21, dưới tác động của trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ số và cạnh tranh địa chính trị - công nghệ, đại học đã trở thành hạ tầng chiến lược của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quốc gia nào sở hữu các trung tâm sản sinh tri thức, công nghệ lõi và tinh hoa dẫn dắt sẽ làm chủ chuỗi giá trị. Quốc gia nào tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ, gia công và nhập khẩu công nghệ sẽ tiếp tục ở vị trí thấp trong trật tự phát triển mới. Đó không còn là cảnh báo. Đó là thực tế đang diễn ra.
Nhiều năm qua, đại học VN phát triển nhanh về quy mô: số trường tăng, sinh viên tăng, công bố quốc tế cải thiện. Nhưng nếu nhìn thẳng vào năng lực tạo công nghệ lõi, bằng sáng chế quốc tế hay đóng góp cho các ngành chiến lược như bán dẫn, AI hay công nghệ sinh học, khoảng cách của đại học VN với các đại học nghiên cứu hàng đầu châu Á vẫn còn xa.
Điểm yếu lớn nhất của đại học VN không phải thiếu trường, mà thiếu các đại học nghiên cứu đúng nghĩa. Nhiều trường hiện vẫn vận hành như cơ sở đào tạo mở rộng quy mô hơn là trung tâm tạo tri thức mới. Thành công nhiều khi vẫn được đo bằng số lượng tuyển sinh, số ngành mở mới hay số lượng bài báo được đong đếm cơ học, thay vì năng lực giải quyết những bài toán phát triển của đất nước và năng lực tạo ra công nghệ có giá trị thực.
Đại học VN đang mạnh về bài báo nhưng còn rất yếu về bằng sáng chế quốc tế; nếu so sánh về số lượng bằng sáng chế quốc tế với các đại học trong khu vực, thì sự hiện diện của các đại học VN trên bản đồ sở hữu trí tuệ công nghệ toàn cầu vẫn còn mờ nhạt.
Đó là khoảng cách đáng lo.
Trong khi đó, mô hình đại học thế giới đã thay đổi rất nhanh. Đại học Stanford góp phần tạo ra Thung lũng Silicon, MIT trở thành trung tâm kết nối công nghệ - quốc phòng - công nghiệp của Mỹ. Đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa đang đóng vai trò trung tâm trong chiến lược công nghệ và AI của Trung Quốc. NUS là hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Singapore.
Họ không chỉ đào tạo nhân lực, mà họ còn tham gia tạo tương lai quốc gia.
Điều đáng suy nghĩ hơn là AI đang làm thay đổi tận gốc mô hình đại học truyền thống. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, tri thức phổ thông không còn chủ yếu nằm trong giảng đường hay thư viện đại học; đại học đứng trước nguy cơ mất độc quyền tri thức, nền tảng quyền lực quan trọng của mình.
Khi tri thức phổ thông trở nên gần như miễn phí nhờ AI, giá trị của đại học sẽ không còn nằm ở việc truyền đạt cái đã biết, mà ở khả năng tạo ra cái chưa ai biết; không phải đào tạo những con người làm theo quy trình, mà đào tạo những người có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo công nghệ và dẫn dắt xã hội trong môi trường đầy bất định.
Nếu không chuyển đổi kịp, nhiều đại học có thể tụt hậu ngay trong chính chức năng truyền thống của mình.
Nhưng thách thức lớn nhất của đại học VN hiện nay không đơn thuần là tiền bạc hay cơ sở vật chất. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở mô hình quản trị và tư duy phát triển. Bởi lẽ, một đại học nghiên cứu đúng nghĩa không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ chuyển giao công nghệ. Sứ mệnh tối cao của nó là trở thành chiếc nôi đào tạo và hình thành các tầng lớp tinh hoa, từ khoa học, công nghệ đến quản trị chính sách và doanh nghiệp, những bộ óc đủ tầm dẫn dắt tương lai quốc gia.
Tinh thần của đại học nghiên cứu là tự do học thuật, tranh luận và chấp nhận rủi ro sáng tạo.
Nhưng mô hình quản lý hiện nay lại thiên về kiểm soát, cào bằng và an toàn. Chúng ta muốn đại học đổi mới sáng tạo, nhưng lại vận hành bằng tư duy của một đơn vị sự nghiệp hành chính.
Không thể hình thành đại học tinh hoa nếu mọi quyết định học thuật, nhân sự và nghiên cứu đều bị băm nhỏ trong các quy trình hành chính. Một hệ thống quản trị thiên về xin - cho và kiểm soát sẽ rất khó tạo ra các đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.
Không thể có nghiên cứu đột phá nếu môi trường học thuật thiếu phản biện thực chất và cạnh tranh học thuật đúng nghĩa.
Không thể thu hút nhân tài toàn cầu hay các nhà khoa học VN hàng đầu trở về nếu cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ và hợp tác quốc tế vẫn chậm chạp, khép kín và thiếu chuẩn quốc tế.
Điều đáng mừng là lần đầu tiên, VN đặt khoa học - công nghệ, giáo dục đại học và đổi mới sáng tạo vào trung tâm chiến lược phát triển quốc gia. Chủ trương dành 20% ngân sách nhà nước cho giáo dục - đào tạo và khoảng 2% GDP cho khoa học - công nghệ là một quyết định lớn, cho thấy tư duy phát triển quốc gia đã thay đổi.
Nhưng nguồn lực dù lớn đến đâu cũng mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là dám thay đổi mô hình phát triển đại học.
VN không cần thêm những đại học lớn về quy mô. VN cần những đại học có khả năng tạo tri thức mới, công nghệ mới và các lực lượng tinh hoa mới cho quốc gia. Muốn vậy, phải chấp nhận cơ chế vượt chuẩn thông thường cho các đại học quốc gia: tự trị học thuật thực chất, cạnh tranh nhân tài toàn cầu và mô hình quản trị theo chuẩn quốc tế.
Cần nhìn nhận đúng định nghĩa: tự chủ đại học tuyệt đối không phải là sự đánh đồng với việc Nhà nước "khoán tài chính" để đại học tự lo trong bài toán tăng học phí, mà đó là một cam kết thể chế: Nhà nước tiếp tục đầu tư trọng điểm, chiến lược nhưng kiên quyết buông bỏ tư duy kiểm soát hành chính, trao lại quyền tự trị học thuật thực chất cho giảng đường.
Nếu không hình thành được ít nhất vài đại học nghiên cứu đủ mạnh trong 15-20 năm tới, VN có nguy cơ tiếp tục đứng ở vị trí gia công công nghệ và phụ thuộc tri thức trong chuỗi giá trị toàn cầu, ngay cả khi có thêm vốn đầu tư hay hạ tầng hiện đại.
Điều Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra với Đại học Quốc gia Hà Nội thực chất là một yêu cầu chiến lược đối với tương lai VN: phải hình thành những "đầu tàu trí tuệ" đủ sức dẫn dắt công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh quốc gia trong nhiều thập niên tới.
Trong thế kỷ 21, khoảng cách giữa các quốc gia sẽ ngày càng được quyết định bởi năng lực tạo ra tri thức và công nghệ. Vì vậy, cải cách đại học không còn là câu chuyện riêng của ngành giáo dục.
Muốn trở thành quốc gia phát triển, VN trước hết phải trở thành quốc gia có đại học nghiên cứu mạnh.