Ngày 11.5, Cục phòng bệnh (Bộ Y tế) cập nhật mới nhất về năng lực xét nghiệm virus Hanta. Đây là virus lây từ chuột, nguồn lây rất sẵn có tại Việt Nam, gây bệnh nguy hiểm, chưa có thuốc điều trị.
Qua rà soát, một số đơn vị đầu ngành đã báo cáo về năng lực xét nghiệm virus Hanta.
Trong đó, Viện Vệ sinh dịch tễ T.Ư (NIHE) hiện thực hiện 5 kỹ thuật xét nghiệm nhanh và xét nghiệm chẩn đoán xác định, bao gồm: xét nghiệm nhanh phát hiện kháng thể IgG kháng Hantavirus; kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể IgM kháng Hantavirus; kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể IgG kháng Hantavirus; kỹ thuật RT-PCR phát hiện ARN của Hantavirus; giải trình tự gen xác định Hantavirus.
Theo báo cáo, NIHE hiện có đầy đủ các sinh phẩm và các bộ mồi, sinh phẩm xét nghiệm gen, giải trình tự gen. Với điều kiện nhân lực, thiết bị và sinh phẩm y tế, đơn vị này đầy đủ năng lực để xét nghiệm phát hiện virus Hanta khi có yêu cầu.
Về điều trị ca bệnh do virus Hanta, theo tiến sĩ, bác sĩ Đoàn Thu Trà, quyền Viện trưởng Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai (Bệnh viện Bạch Mai), hiện chưa có thuốc kháng virus đặc hiệu cũng như vắc xin phòng bệnh Hantavirus. Vì vậy, việc điều trị chủ yếu dựa vào hồi sức tích cực và chăm sóc hỗ trợ.
Trong các trường hợp nặng, bệnh nhân có thể phải thở máy, lọc máu hoặc can thiệp ECMO – hệ thống tim phổi nhân tạo ngoài cơ thể để duy trì sự sống.
“Không có thuốc điều trị tận gốc nên phát hiện muộn sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ tử vong”, bác sĩ Trà lưu ý.
Theo Viện Y học nhiệt đới Bạch Mai, không giống nhiều bệnh truyền nhiễm khác lây qua muỗi hay côn trùng, Hantavirus chủ yếu lây sang người khi hít phải bụi khí dung chứa nước tiểu, phân hoặc nước bọt của chuột nhiễm bệnh.
Nguy cơ thường xuất hiện khi người dân dọn kho cũ, gác xép, chuồng trại, kho thóc hoặc những nơi có nhiều phân chuột nhưng quét khô, dùng chổi hoặc máy hút bụi khiến virus phát tán vào không khí.
Virus cũng có thể lây qua vết thương hở tiếp xúc trực tiếp với chất thải của động vật mang bệnh.
Virus Hanta là nhóm virus có thể gây bệnh nặng ở người, như hội chứng phổi hoặc sốt xuất huyết kèm hội chứng suy thận. Bệnh có thể diễn biến nhanh, gây khó thở, suy hô hấp, tụt huyết áp và có thể tử vong.
Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh. Điều trị chủ yếu là theo dõi, chăm sóc hỗ trợ và hồi sức kịp thời tại cơ sở y tế.
Trước đó, theo thông tin của WHO, đầu tháng 5.2026 ghi nhận chùm ca viêm đường hô hấp cấp tính nặng trên một tàu du lịch có lịch trình từ Argentina qua Nam Đại Tây Dương, đã ghi nhận ít nhất 7 trường hợp (2 trường hợp được xác nhận nhiễm virus Hanta và 5 trường hợp nghi ngờ), bao gồm 3 trường hợp tử vong, 1 bệnh nhân nguy kịch.
Trên tàu có 147 người (bao gồm 88 du khách và 59 thủy thủ đoàn) thuộc 23 quốc tịch, chưa ghi nhận người Việt Nam trong nhóm hành khách, thuyền viên liên quan.
Bác sĩ Nguyễn Thị Yến Ngân, khoa dinh dưỡng Bệnh viện Y học cổ truyền TP.HCM, cho biết nhiều người cho rằng chỉ cần ăn nhạt hoặc loại bỏ hoàn toàn muối khỏi khẩu phần ăn là có thể bảo vệ sức khỏe, đặc biệt là tim mạch.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy xung quanh việc sử dụng muối (chứa natri) vẫn tồn tại không ít hiểu lầm, khiến nhiều người vô tình áp dụng sai cách trong sinh hoạt hằng ngày.
Hiện nay nhiều người cho rằng càng ăn ít muối càng tốt, thậm chí nên bỏ hẳn. Thực tế, natri là khoáng chất thiết yếu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa huyết áp, hỗ trợ hoạt động của hệ thần kinh và cơ bắp. Điều quan trọng không phải là loại bỏ hoàn toàn, mà sử dụng ở mức hợp lý.
Nhiều người tin rằng muối biển tốt hơn vì "tự nhiên" và ít natri hơn. Tuy nhiên, về bản chất, cả muối biển và muối ăn thông thường đều chứa khoảng 40% natri. Sự khác biệt chủ yếu nằm ở hương vị và một số vi khoáng rất nhỏ, không ảnh hưởng đáng kể đến lượng natri nạp vào.
Không ít người nghĩ rằng chỉ cần giảm lượng muối khi nấu ăn là đủ. Trên thực tế, khoảng 75% lượng natri trong khẩu phần đến từ thực phẩm chế biến sẵn và các loại gia vị như nước mắm, nước tương, bột nêm… Vì vậy, việc đọc nhãn dinh dưỡng và kiểm soát thực phẩm tiêu thụ là rất cần thiết.
Giảm muối không có nghĩa là món ăn mất ngon. Người nội trợ hoàn toàn có thể tận dụng các gia vị tự nhiên như tỏi, ớt, chanh, thảo mộc… để tăng hương vị mà vẫn hạn chế natri.
Một số loại thuốc không kê đơn cũng có thể chứa lượng natri đáng kể. Do đó, người dùng cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo ý kiến nhân viên y tế khi cần thiết.
Nhiều thực phẩm quen thuộc như bánh mì, mì, xúp hoặc các món chế biến sẵn có thể chứa natri dù không có vị mặn rõ rệt. Vì vậy, cảm nhận vị giác không phải là thước đo chính xác cho lượng natri.
Việc kiểm soát natri không chỉ dành cho người bị tăng huyết áp. Khuyến nghị chung là không nên tiêu thụ quá 2.300mg natri mỗi ngày, và mức lý tưởng là khoảng 1.500mg. Chỉ cần giảm khoảng 1.000mg natri mỗi ngày cũng đã mang lại lợi ích rõ rệt cho sức khỏe tim mạch.
"Kiểm soát lượng natri không quá khó nếu mỗi người chủ động điều chỉnh từ những thói quen hằng ngày như ưu tiên thực phẩm tươi, hạn chế đồ chế biến sẵn, đọc nhãn dinh dưỡng và nấu ăn tại nhà. Những thay đổi nhỏ nhưng bền vững có thể tạo nên khác biệt lớn cho sức khỏe lâu dài", bác sĩ Yến Ngân khuyến cáo.
Đau lưng là tình trạng rất phổ biến và đa số không liên quan đến ung thư. Tuy nhiên, nếu đau lưng kéo dài không rõ nguyên nhân, không liên quan chấn thương hoặc lão hóa, kèm các dấu hiệu bất thường hoặc có yếu tố nguy cơ, người bệnh nên đi khám để được đánh giá chính xác. Đau lưng do ung thư thường gặp trong trường hợp khối u di căn đến cột sống hoặc chèn ép các cấu trúc vùng lưng.
U cột sống
U cột sống có thể phát triển trong xương sống hoặc màng bảo vệ quanh tủy sống. Tuy nhiên, cột sống là vị trí phổ biến nhất của ung thư di căn xương, tức ung thư bắt đầu ở một cơ quan khác và lan đến đây. Khi di căn đến cột sống ngực, ung thư có thể gây đau phần lưng trên.
Các dấu hiệu cảnh báo ung thư di căn xương bao gồm xương yếu dễ gãy, yếu hoặc tê bì ở bụng hoặc chân, khó cử động chân, tiểu tiện hoặc đại tiện không tự chủ, yếu cơ, đau cơ và khớp...
Ung thư phổi
Theo Hiệp hội Phẫu thuật Thần kinh Mỹ (AANS), ung thư phổi là một trong những loại ung thư phổ biến nhất di căn cột sống. Khối u ở phổi cũng có thể chèn ép cột sống, ảnh hưởng đến sự truyền dẫn thần kinh tới lưng dưới. Người mắc ung thư phổi thường xuất hiện các triệu chứng như mệt mỏi, khó thở, ho ra đờm có lẫn máu, bên cạnh việc đau lưng dưới.
Đau lưng đôi khi là triệu chứng của ung thư vú, do tế bào ác tính di căn đến vùng lưng, theo AANS. Giống như ung thư phổi, khối u vú có thể chèn ép các dây thần kinh dẫn đến cột sống, từ đó gây đau lưng.
Ung thư hệ tiêu hóa
Ung thư dạ dày, đại tràng và trực tràng cũng có thể là thủ phạm gây đau lưng dưới do tế bào ác tính di căn. Người mắc các loại ung thư này có thể gặp các triệu chứng khác như sụt cân nhanh hoặc đại tiện ra máu.
Đa u tủy, u lympho và u hắc tố và nhiều loại ung thư khác như ung thư buồng trứng, thận, tuyến giáp và tuyến tiền liệt cũng có khả năng dẫn tới đau lưng.
Phương pháp điều trị phụ thuộc vào loại ung thư và giai đoạn bệnh như phẫu thuật loại bỏ khối u hoặc hóa trị và xạ trị để thu nhỏ khối u. Bác sĩ cũng có thể kê đơn thuốc giảm đau giúp giảm triệu chứng.
Đau lưng liên quan đến ung thư không phải lúc nào cũng nghiêm trọng, do đó người bệnh dễ bỏ qua hoặc nhầm lẫn với nguyên nhân thông thường. Người có tiền sử cá nhân hoặc gia đình mắc ung thư, xuất hiện các triệu chứng dưới đây nên lưu ý và đi khám sớm.
- Đau lưng đột ngột và không liên quan đến chấn thương
- Đau lưng không liên quan đến vận động hoặc không nặng hơn khi vận động
- Đau lưng thường xảy ra vào ban đêm hoặc sáng sớm và giảm hoặc hết trong ngày
- Đau lưng tiếp diễn dù đã điều trị vật lý trị liệu hoặc các phương pháp khác
- Có thể cảm thấy hoặc nhìn thấy sự biến dạng trên cột sống