Theo chương trình làm việc, sáng nay (12-5), Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 sẽ diễn ra phiên khai mạc trọng thể.
Phiên khai mạc sẽ có sự tham dự của các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tại phiên khai mạc, lãnh đạo Đảng, Nhà nước sẽ có phát biểu chỉ đạo quan trọng.
Trước đó tại phiên trù bị chiều 11-5, đại hội đã biểu quyết thông qua danh sách đoàn chủ tịch gồm 33 vị và đoàn thư ký gồm 3 vị. Đồng thời thông qua chương trình, quy chế làm việc và báo cáo tình hình đại biểu tham dự đại hội.
Tổng số đại biểu chính thức tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031 là 1.136 đại biểu.
Sau phiên khai mạc buổi sáng, chiều 12-5, các đại biểu thảo luận và thông qua đề án nhân sự Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Sau đó, hiệp thương cử Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031. Tiếp đó sẽ diễn ra Hội nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ nhất khóa XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 125 về việc bổ sung dự án Luật Định danh và xác thực điện tử vào chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội khóa XVI.
Nghị quyết nêu rõ Chính phủ thống nhất trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bổ sung dự án Luật Định danh và xác thực điện tử vào chương trình lập pháp của Quốc hội năm 2026.
Bộ Công an chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung, báo cáo đề xuất; bảo đảm thực hiện đúng quy trình xây dựng chính sách, đánh giá tác động, tổ chức lấy ý kiến và soạn thảo dự án luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Công an thừa ủy quyền Thủ tướng và thay mặt Chính phủ ký tờ trình của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị điều chỉnh chương trình lập pháp năm 2026 theo đúng quy định của pháp luật; chủ động báo cáo, giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội theo quy định.
Văn phòng Chính phủ ban hành thông báo kết luận của Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc, tại cuộc họp về điều chỉnh quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo đó, Phó thủ tướng thường trực ủng hộ việc nghiên cứu mở rộng, phát triển hệ thống cảng hàng không, ưu tiên huy động nguồn lực đầu tư thêm các cảng hàng không nhằm phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc quy hoạch và đầu tư các cảng hàng không cần được xem xét kỹ lưỡng, tổng thể, đồng bộ với các phương thức vận tải khác, bảo đảm tính khả thi, an ninh, an toàn khai thác và ổn định, có tầm nhìn dài hạn.
Việc này nhằm bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh; đồng thời phải được tính toán kỹ lưỡng về hiệu quả tài chính, kinh tế – xã hội, tuyệt đối không để xảy ra thất thoát, lãng phí nguồn lực trong quá trình thực hiện.
Trên cơ sở đó, ông Phạm Gia Túc giao Bộ Xây dựng rà soát lại tổng thể nội dung, đề cương lập điều chỉnh quy hoạch hệ thống cảng hàng không. Đồng thời yêu cầu nghiêm túc triển khai thực hiện chỉ đạo của Trung ương và Chính phủ, khẩn trương đẩy nhanh tiến độ lập, điều chỉnh tổng thể các quy hoạch để phê duyệt theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm tiến độ, chất lượng, hoàn thành trong quý 2-2026.
UBND các tỉnh, thành có liên quan có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng trong quá trình lập, trình, phê duyệt các quy hoạch có liên quan, bảo đảm tiến độ, chất lượng.
Chương trình Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phuc vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2035 (Chương trình Đề án 06) vừa được Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng phê duyệt.
Chương trình sẽ tập trung triển khai các giải pháp để công dân thực hiện các quyền và nghĩa vụ trên môi trường số như lấy ý kiến nhân dân về các dự thảo luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật được đăng tải; quản lý khai thác, chia sẻ và giám sát việc khai thác, sử dụng dữ liệu công dân; xây dựng ứng dụng VNeID thành nền tảng số quốc gia đa tiện ích phục vụ chuyển đổi số, phát triển công dân số.
Bao gồm: Lưu trữ dữ liệu số của công dân; Định danh xác thực điện tử; Thực hiện dịch vụ công trực tuyến và giải quyết thủ tục hành chính, Liên kết tài khoản thanh toán, ví điện tử, thẻ ngân hàng, dịch vụ tiền di động trên ứng dụng VNeID để thực hiện thanh toán, chi trả an sinh xã hội. Đây cũng là kênh giao tiếp chính thức, đảm bảo an toàn, bảo mật, hiệu quả giữa người dân với Nhà nước, người dân với doanh nghiệp, và người dân với người dân…
Trong những năm gần đây, mô hình kinh doanh dịch vụ nghỉ dưỡng dài hạn, thường được biết đến với tên gọi "sở hữu kỳ nghỉ" (timeshare), ngày càng xuất hiện phổ biến trên thị trường.
Các sản phẩm này được quảng bá dưới nhiều tên gọi khác nhau như hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, hợp đồng nghỉ dưỡng, hợp đồng tuần nghỉ hạnh phúc, hợp đồng kỳ nghỉ gia đình hay thẻ du lịch nghỉ dưỡng.
Qua phản ánh của nhiều người dân, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cho biết cách thức tiếp cận, chào mời phổ biến nhất của các doanh nghiệp là tổ chức sự kiện để tặng quà, tặng kỳ nghỉ miễn phí và khảo sát nhu cầu du lịch của người dân (đặc biệt là người cao tuổi).
Tại đây, các công ty sử dụng nhiều chiến lược bán hàng tinh vi, bài bản khiến nhiều người dân đặt cọc/ký kết hợp đồng một cách vội vàng ngay cả khi chưa được cung cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm cũng như chưa được cung cấp/chưa nghiên cứu hợp đồng.
Chẳng hạn như tặng phiếu giảm giá, tặng kỳ nghỉ miễn phí; cung cấp quá nhiều và thổi phồng, thậm chí không đúng sự thật, các thông tin về lợi ích nghỉ dưỡng, cơ hội đầu tư hấp dẫn; che giấu một số thông tin quan trọng như nghĩa vụ của bên mua, các loại phí phát sinh, điều khoản bất lợi trong hợp đồng...
Khi nhận ra sản phẩm trên thực tế không đúng nguyện vọng (như mua để đầu tư sinh lời nhưng không chuyển nhượng được cho bên thứ ba; mua để có các kỳ nghỉ lý tưởng với gia đình nhưng yêu cầu về thời gian đặt phòng trước quá khắt khe) cũng như nhận ra các bất lợi, rủi ro từ giao dịch đã xác lập, người dân yêu cầu bên bán chấm dứt hợp đồng, hoàn trả tiền nhưng không được chấp nhận.
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cho biết nhiều doanh nghiệp thiết kế sẵn các điều khoản giao dịch, từ thỏa thuận đặt cọc đến hợp đồng cung cấp kỳ nghỉ dưỡng, theo hướng bảo đảm lợi ích pháp lý cho mình.
Thông thường, bên mua phải thanh toán toàn bộ giá trị hợp đồng trước khi sử dụng dịch vụ và tiếp tục đóng phí thường niên trong suốt thời hạn hợp đồng, dù không sử dụng. Điều kiện đặt phòng, chuyển nhượng hoặc cho thuê lại kỳ nghỉ cũng khá khó khăn.
Đáng chú ý, khách hàng thường không được hủy ngang hợp đồng nhưng có thể bị bên bán đơn phương chấm dứt hợp đồng và mất toàn bộ số tiền đã đóng trong một số trường hợp. Trong khi đó, nghĩa vụ của bên bán được quy định khá sơ sài, còn các chế tài xử lý vi phạm lại được thiết kế theo hướng bất lợi hơn cho khách hàng.
Cơ quan chức năng cho biết một rủi ro khác được người dân phản ánh là bên bán không sở hữu khu nghỉ dưỡng nhưng vẫn cung cấp dịch vụ nghỉ dưỡng dài hạn và thu toàn bộ giá trị hợp đồng trước khi cung cấp dịch vụ.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nhiều khách hàng gặp khó khăn khi đặt phòng do bên bán thông báo hết phòng hoặc khu nghỉ dưỡng đã ngừng hợp tác. Trong khi đó, nhiều hợp đồng không quy định biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên bán, không liệt kê cụ thể các khu nghỉ dưỡng phải cung cấp dịch vụ cũng như không yêu cầu bên bán chứng minh mối quan hệ hợp tác với chủ sở hữu khu nghỉ dưỡng.
Vì vậy, quyền lợi của bên mua không chỉ phụ thuộc vào các điều khoản hợp đồng mà còn bị chi phối bởi mối quan hệ giữa bên bán và các đối tác liên kết, thậm chí có thể đối mặt với rủi ro nếu bên bán mất khả năng thực hiện hợp đồng hoặc phá sản.
Trong những năm gần đây, mô hình kinh doanh dịch vụ nghỉ dưỡng dài hạn, thường được gọi là "sở hữu kỳ nghỉ" (timeshare), ngày càng phổ biến trên thị trường với nhiều tên gọi như hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ, hợp đồng nghỉ dưỡng, hợp đồng kỳ nghỉ gia đình hay thẻ du lịch nghỉ dưỡng.
Đây là mô hình cho phép khách hàng mua quyền sử dụng dịch vụ nghỉ dưỡng trong thời gian dài, từ vài năm đến vài chục năm. Để tham gia, khách hàng thường phải thanh toán trước toàn bộ giá trị hợp đồng, phổ biến 200-800 triệu đồng, cùng các khoản phí duy trì, phí thường niên hoặc các chi phí phát sinh khác.
Đáng lưu ý, sở hữu kỳ nghỉ không phải là sở hữu bất động sản mà chỉ là quyền sử dụng dịch vụ nghỉ dưỡng theo hợp đồng. Hiện nay, mô hình này chủ yếu được triển khai dưới ba hình thức gồm tuần nghỉ cố định, tuần nghỉ linh hoạt (tuần thả nổi) và thẻ nghỉ dưỡng tích lũy điểm.
Tính đến ngày 30-4, bức tranh lợi nhuận quý 1-2026 của ngành ngân hàng dần hé lộ khi nhiều nhà băng công bố báo cáo tài chính.
Đáng chú ý, nhóm đạt lợi nhuận trên 10.000 tỉ đồng tiếp tục mở rộng với sự góp mặt của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank, VCB) và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank, CTG).
Tại Vietcombank, lợi nhuận trước thuế quý 1 đạt gần 11.803 tỉ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ, bất chấp việc ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.
Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần đạt 17.651 tỉ đồng, tăng 29%, cùng với sự cải thiện ở mảng dịch vụ và hoạt động khác. Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là chi phí dự phòng tăng gấp 7 lần, lên hơn 2.493 tỉ đồng, phản ánh áp lực chất lượng tài sản.
Tính đến cuối quý 1, tổng nợ xấu của Vietcombank tăng 12%, lên 10.868 tỉ đồng. Đáng chú ý, nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) chiếm tới 76% tổng nợ xấu, trong khi nợ nghi ngờ tăng đột biến gấp 7 lần đầu năm. Dù vậy, tỉ lệ nợ xấu trên dư nợ vẫn được kiểm soát ở mức 0,62%.
Trong khi đó VietinBank ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận mạnh hơn, với lãi trước thuế đạt hơn 11.139 tỉ đồng, tăng 63% so với cùng kỳ. Hầu hết các mảng kinh doanh đều tăng trưởng, đặc biệt thu nhập lãi thuần tăng 25% lên 19.385 tỉ đồng, cùng với sự bứt phá của các nguồn thu ngoài lãi như kinh doanh ngoại hối và chứng khoán đầu tư.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của VietinBank giảm 5%, còn 7.700 tỉ đồng, qua đó hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng lợi nhuận. Đồng thời chất lượng tài sản được cải thiện khi tổng nợ xấu giảm 6% xuống còn 20.598 tỉ đồng, kéo tỉ lệ nợ xấu/dư nợ từ 1,1% xuống 1,02%.
Ngay phía sau là nhóm ngân hàng có lợi nhuận quanh ngưỡng 8.000-9.000 tỉ đồng, gồm Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) với lợi nhuận quý 1 đạt 9.628 tỉ đồng, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) báo lãi 8.870 tỉ đồng và Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) lãi 8.572 tỉ đồng.
Ở chiều tích cực, một số ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận khá ấn tượng trong quý 1-2026, chủ yếu nhờ nền so sánh thấp của cùng kỳ và sự cải thiện ở cả nguồn thu lãi lẫn ngoài lãi.
Nổi bật trong nhóm là Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) ghi nhận lợi nhuận trước thuế 7.921 tỉ đồng, tăng 58% so với cùng kỳ, nằm trong nhóm có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngân hàng quy mô lớn.
Ở nhóm quy mô vừa, Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) là trường hợp tăng trưởng đột biến khi lợi nhuận trước thuế đạt 1.500 tỉ đồng, cao gấp gần 4 lần cùng kỳ.
Tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng tăng tới 136% lên 3.077 tỉ đồng, trong đó riêng lãi từ hoạt động khác đạt 1.355 tỉ đồng (gấp 7,9 lần) và lãi dịch vụ đạt 413 tỉ đồng (gấp 2,4 lần). Dù chi phí dự phòng tăng 151% lên 855 tỉ đồng, kết quả lợi nhuận vẫn tăng mạnh.
Một số ngân hàng quy mô nhỏ hơn cũng ghi nhận mức tăng trưởng cao, như Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) với lợi nhuận khoảng 216 tỉ đồng, tăng 169%, hay Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex đạt 276 tỉ đồng, tăng 187% so với cùng kỳ.
Ở chiều ngược lại, không ít ngân hàng ghi nhận lợi nhuận sụt giảm trong quý 1-2026, chủ yếu do áp lực gia tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và sự suy yếu của nguồn thu cốt lõi.
Đáng chú ý, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) báo lãi trước thuế 2.106 tỉ đồng, giảm 43% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chính đến từ chi phí dự phòng tăng vọt lên 2.023 tỉ đồng, cao gấp hơn 10 lần cùng kỳ, trong khi thu nhập lãi thuần cũng giảm 12%.
Dù vậy nếu loại trừ yếu tố dự phòng, nhiều mảng hoạt động của ngân hàng vẫn ghi nhận tăng trưởng tích cực như ngoại hối, chứng khoán đầu tư và hoạt động khác.
Tương tự, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) ghi nhận lợi nhuận trước thuế chỉ còn 1.388 tỉ đồng, giảm tới 68% so với cùng kỳ, là một trong những mức giảm sâu nhất toàn ngành.
Trong khi đó Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cũng báo lãi giảm mạnh 59%, xuống còn 338 tỉ đồng.
Chỉ trong vài năm kể từ khi các công cụ AI tạo sinh bùng nổ, câu hỏi "AI có lấy mất việc làm của con người?" đã trở thành một trong những chủ đề gây tranh cãi nhất hiện nay. Từ doanh nghiệp, người lao động cho đến các nhà hoạch định chính sách đều cố gắng tìm lời giải, nhưng những dự báo đưa ra lại rất khác nhau.
Có người tin AI sẽ tạo ra cuộc cách mạng năng suất lớn nhất trong nhiều thập kỷ, mở ra những ngành nghề mới giống như Internet hay máy tính từng làm được. Ngược lại, không ít chuyên gia cảnh báo thị trường lao động đang đứng trước một bước ngoặt chưa từng có, nơi nhiều công việc trí óc lần đầu tiên có nguy cơ bị tự động hóa trên diện rộng.
Vòng xoáy hoảng loạn từ những "lời tiên tri tự ứng nghiệm"
Theo nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Robert Shiller, nỗi sợ hãi về một ngày tận thế việc làm có nguy cơ trở thành một "lời tiên tri tự ứng nghiệm". Khi hàng triệu người cùng lo lắng, họ sẽ thay đổi hành vi chi tiêu, doanh nghiệp e dè trong tuyển dụng, và hệ quả là nền kinh tế rơi vào suy thoái đúng như kịch bản họ từng lo ngại.
Dẫn chứng từ lịch sử cho thấy nỗi lo máy móc thay thế con người vốn không mới. Từ năm 1830 hay sự hoảng loạn trong các đợt suy thoái cũ, các chuyên gia nhận định rằng thị trường luôn biến động theo chu kỳ và việc đổ lỗi hoàn toàn cho công nghệ thường chỉ là cách hiểu phiến diện.
Sự quy chụp sai lầm tương tự hiện cũng đang diễn ra. 70% người Mỹ được hỏi đã bày tỏ lo ngại AI sẽ khiến việc làm ít đi. Thế nhưng, số liệu thực tế từ Phòng thí nghiệm Ngân sách Yale lại chứng minh điều ngược lại. Không có bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào trong cơ cấu ngành nghề đối với các công việc dễ tiếp xúc với AI nhất kể từ khi ChatGPT ra mắt vào cuối năm 2022.
Đáng chú ý, nguồn cơn của sự hoảng loạn lần này lại đến từ chính các lãnh đạo công nghệ tại thung lũng Silicon nhằm thu hút sự chú ý của truyền thông. Lãnh đạo Anthropic từng tuyên bố AI có thể xóa sổ một nửa số công việc văn phòng cơ bản trong 5 năm, hay Giám đốc AI của Microsoft từng đặt mốc tự động hóa hầu hết việc văn phòng trong 12-18 tháng.
Dù sau đó cả hai đều phải rút lại các mốc thời gian này, nhưng những tuyên bố đó đã kịp để lại sự hoang mang lớn cho thị trường lao động.
Nhóm ngành nào thực sự đối mặt với áp lực dịch chuyển?
Dù ngày tận thế việc làm không đến gần như lời đồn đoán, áp lực thay đổi là có thật, đặc biệt đối với nhóm lao động văn phòng gắn liền với chiếc máy tính xách tay.
Theo chuyên gia Anton Korinek từ Đại học Virginia, các lĩnh vực như luật, tài chính, kế toán và tư vấn sẽ chịu áp lực tự động hóa rất lớn để tối ưu chi phí, dù các công việc này không biến mất trong một sớm một chiều.
Đồng quan điểm, giáo sư David Autor từ Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) chỉ ra rằng rủi ro lớn nhất thuộc về nhóm lao động làm dịch vụ thâm dụng thông tin nhưng không có trình độ chuyên môn quá cao. Nhân viên tổng đài, biên dịch viên, quản lý cấp trung, họa sĩ minh họa hay người viết lời quảng cáo đang phải cạnh tranh trực tiếp khi tài sản trí tuệ của họ bị các mô hình AI tái sử dụng một cách hiệu quả.
Đặc biệt, giai đoạn chuyển giao này sẽ tác động khác nhau theo độ tuổi. Bà Martha Gimbel, giám đốc Phòng thí nghiệm Ngân sách thuộc Đại học Yale, nhận định nhóm lao động trẻ có lợi thế lớn nhờ khả năng thích ứng nhanh với các công cụ AI và ít tài sản nghề nghiệp để mất.
Ngược lại, đối với các lao động lớn tuổi, một khi bị thay thế, tình hình kinh tế của chính họ có thể rất khó phục hồi.
Lối mở cho thị trường và những giá trị không thể thay thế
Trái ngược với những dự báo bi quan về một "đại nạn phần mềm", lịch sử chưa từng ghi nhận một cuộc cách mạng công nghệ nào mà kết cục lại có ít việc làm hơn lúc ban đầu. Máy tính ra đời không xóa sổ việc làm mà đã tạo ra hàng trăm nghìn nhà khoa học dữ liệu.
Do đó, thay vì lo sợ cạn kiệt việc làm, xu hướng mới là ứng dụng AI để giải quyết các nhu cầu khổng lồ chưa được đáp ứng trong y tế, giáo dục và các vấn đề xã hội hóc búa.
Thực tế, có những rào cản lớn kìm hãm sự trỗi dậy của AI, bắt nguồn từ chính nhu cầu kết nối giữa con người với con người. Nhiều ngành nghề như luật hay học thuật có các hiệp hội phản kháng rất mạnh mẽ trước sự thay đổi.
Quan trọng hơn, độc giả và người tiêu dùng luôn sẵn sàng chi trả cao hơn cho những giá trị mang tính cảm xúc, thủ công hoặc trải nghiệm trực tiếp - nơi máy móc dù hoàn hảo đến đâu cũng không thể thay thế được sự đồng cảm và tư duy đạo đức của con người.
Nền kinh tế luôn có khả năng phục hồi đáng kinh ngạc. Thay vì sa đà vào hội chứng hoảng loạn, việc nhận diện đúng áp lực và trang bị năng lực tích hợp công nghệ mới chính là chìa khóa giúp người lao động làm chủ tương lai, biến AI từ thế đối đầu thành công cụ hỗ trợ đắc lực.