Đây là một trong những Huân chương cao quý nhất của Nhật Bản dành cho các cá nhân có đóng góp nổi bật trong việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản.
Thư gửi từ Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam – Ngài Ito Naoki đã ghi nhận những đóng góp quan trọng và thiết thực của PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà trong việc đào tạo nguồn nhân lực tiếng Nhật chất lượng cao và thúc đẩy giao lưu học thuật, văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản.
“Khi đang giữ vị trí Trưởng Khoa Tiếng Nhật đồng thời tham gia giảng dạy tiếng Nhật tại Trường ĐH Ngoại thương Hà Nội thời gian trước đây, PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà đã nỗ lực xây dựng nền tảng cho giảng dạy Tiếng Nhật thương mại tại Việt Nam.
Cô đã có đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy giao lưu với các trường đại học và doanh nghiệp Nhật Bản, mở rộng cơ hội du học và làm việc tại Nhật Bản, đào tạo được nhiều nhân lực tiếng Nhật xuất sắc.
Từ năm 2021 đến nay, chính thức đảm nhiệm vị trí Trưởng Khoa Tiếng Nhật, Trường Ngôn ngữ & Xã hội Nhân văn (LHSS), ĐH Duy Tân, cô đã nỗ lực thúc đẩy các hoạt động giảng dạy tiếng Nhật, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực tiếng Nhật tại miền Trung Việt Nam, thông qua việc xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo một cách bài bản và hệ thống.
Bên cạnh đó, cô còn đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Thẩm định Sách giáo khoa tiếng Nhật trong nhiều năm, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiếng Nhật.
“Tôi xin chuyển đến cô Điện chúc mừng của ngài Motegi Toshimitsu – Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản. Tôi tin rằng lần vinh danh này thật đặc biệt, là kết quả xứng đáng cho những nỗ lực bền bỉ của cô suốt nhiều năm qua.”, trích thư của Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam.
Tốt nghiệp Trường ĐH Ngoại thương năm 1978 chuyên ngành Phiên dịch tiếng Nhật, cô Nguyễn Thị Bích Hà bắt đầu hành trình dài gắn bó với công tác giảng dạy tiếng Nhật và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam.
Trong quá trình công tác, cô Bích Hà tiếp tục hoàn thiện chuyên môn khi lấy Bằng Thạc sĩ tại ĐH Nữ sinh Tokyo, Nhật Bản và lấy Bằng Tiến sĩ tại ĐH Quốc gia Hà Nội.
Trong suốt 13 năm đảm nhiệm vai trò quản lý tại Trường ĐH Ngoại thương, cô tập trung xây dựng chương trình đào tạo tiếng Nhật gắn với kinh tế – thương mại, đồng thời thúc đẩy hợp tác của Việt Nam với nhiều trường đại học và doanh nghiệp Nhật Bản.
PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà đã đến và đồng hành với Trường Ngôn ngữ & Xã hội Nhân văn (LHSS), ĐH Duy Tân từ tháng 1/2021, bởi cô nhìn thấy ở nơi đây một môi trường giáo dục năng động, đổi mới và chú trọng việc phát triển các ngành ngoại ngữ gắn với nhu cầu thực tiễn của xã hội và doanh nghiệp.
“Đào tạo tiếng Nhật hiện nay cần kết hợp ngôn ngữ với kiến thức kinh tế, văn hóa, công nghệ và kỹ năng làm việc quốc tế. Ba định hướng quan trọng được Khoa Tiếng Nhật của chúng tôi chú trọng là:
Nâng cao năng lực sử dụng tiếng Nhật thực tế cho sinh viên, Mở rộng cơ hội thực tập và việc làm thông qua hợp tác với doanh nghiệp và các trường đại học tại Nhật Bản, và Xây dựng đội ngũ giảng viên có năng lực nghiên cứu và tinh thần không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy.
Sinh viên Duy Tân năng động, chủ động tiếp cận tri thức mới và luôn khao khát phát triển trong môi trường quốc tế. Điều này đã trở thành nguồn cảm hứng và động lực để tôi tiếp tục cống hiến cho sự phát triển của ngành Ngôn ngữ Nhật ở DTU”, PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà chia sẻ.
Trong suốt gần 50 năm làm nghề, PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà luôn kiên trì theo đuổi mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Nhật tại Việt Nam.
Bên cạnh công tác giảng dạy và quản lý, cô còn giữ vai trò Chủ tịch Hội đồng Thẩm định Sách giáo khoa tiếng Nhật của Bộ Giáo dục & Đào tạo từ năm 2003 đến nay, trực tiếp giảng dạy chương trình dạy Tiếng Nhật Thương mại trên Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) cũng như tại Trung tâm Hợp tác Nguồn Nhân lực Việt Nam – Nhật Bản (VJCC) từ năm 2002.
Với mục tiêu lớn nhất là góp phần đào tạo thế hệ trẻ có năng lực hội nhập quốc tế và thúc đẩy tình hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản thông qua công tác giáo dục, PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà đã được Chủ tịch Nước Việt Nam phong tặng danh hiệu “Nhà giáo Ưu tú” năm 2014 và nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản năm 2021.
PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà cùng các cán bộ, giảng viên của Khoa Tiếng Nhật ở DTU đang có nhiều nỗ lực kết nối với các trường đại học, tổ chức và doanh nghiệp Nhật Bản để mang đến những cơ hội học tập và thực tập tốt nhất cho sinh viên, cụ thể:
– Thiết lập quan hệ với Trường ĐH Nữ sinh JISSEN, đưa sinh viên qua Nhật Bản học tập tại trường,
– Xây dựng mạng lưới giao lưu online với các trường đại học ở Nhật như ĐH Nanzan,
– ĐH Tamagawa, ĐH Okinawa, ĐH Suzuka với đông đảo sinh viên hai quốc gia cùng tham gia,
– Ký kết trao đổi học thuật với ĐH Nữ sinh Showa, Nhật bản
“Không dừng lại ở hợp tác quốc tế, đào tạo tiếng Nhật cần đổi mới mạnh mẽ để đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của Trí tuệ Nhân tạo (AI), yếu tố đang tạo ra những thay đổi sâu rộng, đặc biệt trong lĩnh vực Ngoại ngữ và Dịch thuật hiện nay. Đào tạo tiếng Nhật tại DTU hướng đến việc phát triển năng lực toàn diện cho người học trong Thời đại Số, kết hợp sử dụng tiếng Nhật linh hoạt trong môi trường công nghệ, khai thác hiệu quả AI trong học tập và công việc, đồng thời chú trọng rèn luyện tư duy, kỹ năng giao tiếp, và hiểu biết văn hóa.
Bên cạnh đó, chương trình đào tạo tiếng Nhật cũng được định hướng gắn liền với các lĩnh vực Thương mại và Kinh doanh. Trong bối cảnh miền Trung Việt Nam đang mở rộng cơ hội kết nối với các doanh nghiệp Nhật Bản ở các lĩnh vực như: Du lịch, Dịch vụ, Công nghệ, Sản xuất và Logistics, việc đào tạo nguồn nhân lực tiếng Nhật có chuyên môn vững và tác phong nghề nghiệp tốt ngày càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.”, cô Bích Hà chia sẻ.
Với những đóng góp mang lại hiệu quả cao trong giáo dục, đặc biệt là trong việc thúc đẩy hợp tác, giao lưu hữu nghị giữa Việt Nam và Nhật Bản, PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Hà đã vinh dự được Chính phủ Nhật Bản trao tặng Huân chương Mặt trời mọc.
Năm nay, toàn thành phố có 147.000 học sinh lớp 9. Chỉ tiêu vào lớp 10 THPT công lập là 81.448. Tính cả trường THPT tư thục và trung tâm giáo dục thường xuyên, số học sinh học lớp 10 vào khoảng 127.000. Ước tính gần 20.000 em sẽ học nghề hoặc "gia nhập" thị trường lao động… Trong 10 năm qua, đây là năm Hà Nội có tỷ lệ học sinh vào lớp 10 THPT công lập thấp nhất, khoảng 55%. Thông tin này khiến kỳ thi vào 10 vốn đã "căng như dây đàn" lại càng căng thẳng hơn.
Điểm mới trong kỳ tuyển vào 10 năm nay ở Hà Nội là áp dụng hình thức đăng ký trực tuyến. học sinh và phụ huynh có thể cập nhật "tỷ lệ chọi" theo thời gian thực của 3 nguyện vọng (1, 2, 3) trong cùng 1 trường.
Hệ thống cho phép mỗi học sinh có thể xem được biểu đồ đăng ký theo thời gian thực của 10 trường THPT công lập không chuyên và 4 trường chuyên, khiến phụ huynh có con thi vào 10 những ngày qua như "chơi chứng khoán" khi nhìn biểu đồ lên xuống liên tục mỗi khi mở cổng thông tin tuyển sinh.
Một phụ huynh có con tốt nghiệp THCS ngoại ngữ, dự kiến đăng ký thi vào lớp 10 tiếng Anh Trường THPT chuyên Hà Nội - Amserdam, ví von: "Người hóng giá vàng nhảy múa, canh chứng khoán… cũng không hồi hộp bằng, khi mùa tuyển sinh vào 10 năm nay, phụ huynh Hà Nội canh tỷ lệ chọi".
Vị phụ huynh này cho biết, sau 3 ngày liên tục truy cập vào hệ thống để cập nhật "tỷ lệ chọi", chị và con gái nhận thấy nhiều học sinh "thay đổi nguyện vọng loạn xạ". Có dữ liệu cũng tốt, tăng tính minh bạch, giúp học sinh phân bổ nguyện vọng hợp lý hơn nhưng cũng dễ khiến phụ huynh áp lực không kém. Nhiều người cứ thấy "tỷ lệ chọi" tăng là lại muốn "đảo chiều", "bán tháo".
Sau 3 ngày (từ 4 - 6.4) tập dượt đăng ký trực tuyến để dự tuyển vào lớp 10 THPT công lập cho thấy, sự phân bố lượng thí sinh đăng ký vào các trường rất không đều nhau. Nhìn vào biểu đồ của 10 trường thì có 2 trường mới là THPT Đỗ Mười và THPT Hoàng Quán Chi có số lượng học sinh đăng ký tổng cả 2 nguyện vọng cao kỷ lục. Điều này là do các trường này được xây mới với cơ sở hiện đại, khang trang, ở vị trí có nhiều khu đô thị mới và tâm lý "mới có thể dễ".
Ngoài ra, với trường chuyên thì các lớp chuyên ngoại ngữ, đặc biệt là chuyên tiếng Anh có "tỷ lệ chọi" vô cùng căng thẳng so với các lớp chuyên khác.
Một số giáo viên nhận định, dữ liệu đăng ký thử nghiệm chỉ mang tính tham khảo, bởi khi bước vào đăng ký chính thức, thí sinh có thể điều chỉnh nguyện vọng. Do đó, phụ huynh và học sinh nên tránh tâm lý chạy theo số đông mà cần căn cứ vào năng lực thực tế để lựa chọn phù hợp.
Chị Q.H, một phụ huynh từng có 2 con thi vào lớp 10 những năm gần đây ở khu vực tuyển sinh Hoàn Kiếm - Hai Bà Trưng (cũ), chia sẻ kinh nghiệm: "Tỷ lệ chọi" chỉ là một kênh tham khảo chứ không phải dựa vào đó để đưa ra quyết định. Học lực và khoảng cách từ nhà đến trường của con mới là những yếu tố quyết định.
Ví dụ, một số trường top đầu như Việt Đức, Yên Hòa, Kim Liên…, "tỷ lệ chọi" có thể thấp hơn khá nhiều so với những trường top giữa (Đoàn Kết - Hai Bà Trưng, Trần Nhân Tông, Lê Quý Đôn) nhưng không vì thế điểm chuẩn vào các trường này sẽ giảm. Bởi lẽ, việc đăng ký nguyện vọng thường theo nguyên lý "gió tầng nào gặp mây tầng đó", học sinh có học lực rất chắc chắn mới đăng ký nguyện vọng vào các trường này, "tỷ lệ chọi" trong trường hợp này tuy ít nhưng là cuộc đua của những học sinh thực sự giỏi với nhau.
Cô Nguyễn Thị Hồng Vân, Hiệu trưởng Trường THCS Chương Dương (P.Hồng Hà), góp ý, phụ huynh và thí sinh nên xác định nguyện vọng 1 là mục tiêu phấn đấu, nguyện vọng 2 và nguyện vọng 3 cần được lựa chọn như phương án an toàn, phù hợp với năng lực thực tế.
Khi lựa chọn nguyện vọng, gia đình cần tính đến điều kiện đi lại, xác định trúng tuyển là có thể theo học được, tránh chọn trường quá xa nơi cư trú.
Theo phân tích của nhiều hiệu trưởng, sai lầm phổ biến của các phụ huynh và học sinh là đặt các nguyện vọng có mức điểm chuẩn quá sát nhau. Dù quy định chênh lệch điểm đã giảm xuống còn 0,5 điểm giữa các nguyện vọng, phụ huynh vẫn cần tính đến khả năng "tịnh tiến" điểm chuẩn khi số lượng thí sinh dồn vào nhóm trường tốp giữa tăng lên.
Thầy Nguyễn Cao Cường, Hiệu trưởng Trường THCS Thái Thịnh, cho rằng điều quan trọng nhất là thí sinh phải hiểu rõ năng lực của mình để lựa chọn phù hợp. Học sinh đã có các đợt khảo sát ở trường THCS để tự đánh giá, từ đó, các em có thể xây dựng lộ trình chọn trường. Điều quan trọng là chọn được ngôi trường phù hợp, không chỉ là trường mình thích, mà còn là nơi mình có thể theo học hiệu quả và an toàn khi di chuyển hằng ngày.
Theo ông Nguyễn Văn Hiền, Giám đốc Sở GD-ĐT Hà Nội, cần tránh tình trạng dồn nguyện vọng vào một số trường gây quá tải trong khi nơi khác thiếu chỉ tiêu, lãng phí cơ sở vật chất.
"Các nhà trường cần tăng cường tư vấn để học sinh lựa chọn nguyện vọng sát với năng lực, đồng thời cân nhắc yếu tố khoảng cách địa lý, ưu tiên trường gần nơi cư trú nhằm bảo đảm điều kiện học tập ổn định lâu dài; tránh tâm lý đăng ký dồn vào trường tốp trên, hoặc chọn trường quá xa chỉ để tăng khả năng trúng tuyển", ông Hiền lưu ý.
Chia sẻ với phóng viên Dân trí, bà Diệu Linh, Phó Giám đốc kiêm cố vấn du học kỳ cựu tại một tổ chức giáo dục, cho biết thời gian qua, việc siết visa của một số quốc gia gây khó khăn cho du học sinh.
Tuy nhiên tùy chính sách của từng quốc gia để xem đấy là trở ngại hay cơ hội. Chẳng hạn tại Mỹ, thực tế hiện không có việc siết chặt visa đối với Việt Nam, chủ yếu tăng cường rà soát đối với một số quốc gia khác.
“Ở khía cạnh nào đó, điều này thậm chí mang lại lợi thế cho du học sinh Việt Nam. Minh chứng là số lượng du học sinh Việt Nam trong năm 2025 đã tăng 16%”, theo bà Diệu Linh.
Trong khi đó, Anh và Úc được cho là đang thực hiện quá trình “thanh lọc” du học sinh. Đối với nhóm các trường top đầu, nhu cầu và chỉ tiêu tuyển sinh hầu như không thay đổi, thậm chí có xu hướng tăng nhẹ.
Tuy nhiên, bà Linh cho rằng các trường ở nhóm dưới sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc xin visa. Úc hiện kiểm soát chặt chẽ hơn đối với khối trường nghề, còn Anh chủ yếu siết visa diện phụ thuộc (dependent). Do đó, việc du học bậc đại học nhìn chung ít bị ảnh hưởng.
Hiện Canada là quốc gia có mức độ siết chặt mạnh nhất, song việc này chủ yếu tập trung vào các cơ sở đào tạo chất lượng thấp.
Các yêu cầu về chứng minh tài chính ở quốc gia này được kiểm tra kỹ lưỡng hơn. Đồng thời, chính sách cấp giấy phép du học cũng có sự điều chỉnh theo từng nhóm đối tượng, được xem như một hình thức “thanh lọc” du học sinh.
"Nhìn chung, nhóm học sinh theo học tại các trường top sẽ ít chịu tác động hơn từ các chính sách này. Tuy nhiên, trong những năm tới, mức độ cạnh tranh có thể sẽ gia tăng”, theo nhận xét của bà Diệu Linh.
Trước đó, ngày 13/3, hàng trăm sinh viên bàng hoàng khi Anh dừng cấp visa du học đối với công dân một số nước.
Quyết định tạm dừng cấp visa du học của Chính phủ Anh có thể ảnh hưởng đến hơn 200 sinh viên Sudan chuẩn bị theo học tại khoảng 46 trường đại học trên khắp Vương quốc Anh. Trong số này có nhiều cơ sở đào tạo danh tiếng như Đại học Oxford, Đại học Cambridge và Cao đẳng Hoàng gia London.
Ngày 11/3, Chính phủ Australia cũng chính thức cập nhật các yêu cầu khắt khe đối với hồ sơ thị thực thực hành nghề (visa 407).
Theo quy định mới, ứng viên xin visa thực hành nghề không còn được phép nộp hồ sơ song song như trước. Hệ thống visa sinh viên cũng được điều chỉnh theo hướng chặt chẽ.
Giới chức trách Úc lý giải những thay đổi này nhằm hỗ trợ cam kết của chính phủ trong việc giảm thiểu tình trạng "tạm trú vĩnh viễn".
Đầu năm 2026, Chính phủ Canada áp dụng cơ chế giới hạn số lượng giấy phép du học, đồng thời yêu cầu phần lớn sinh viên quốc tế phải có thư xác nhận từ tỉnh bang (PAL) trước khi nộp hồ sơ visa.
Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump cũng thông báo tạm dừng việc xử lý hồ sơ visa định cư đối với người nộp đơn đến từ 75 quốc gia từ ngày 21/1.
Quy định này không áp dụng đối với những trường hợp xin visa không định cư, tức các loại visa tạm thời như du lịch hoặc công tác, vốn chiếm phần lớn tuyệt đối trong số người nộp đơn xin visa.
Tại buổi làm việc gần đây với các phường phía nam thành phố, lãnh đạo UBND TP Đà Nẵng đã nêu đề xuất từng bước hình thành trung tâm giáo dục đào tạo tại Tam Kỳ.
Theo đó, các trường đại học có thể được bố trí về khu vực này, trong khi các cơ sở đào tạo chất lượng cao và sau đại học tiếp tục đặt tại khu vực trung tâm Đà Nẵng cũ, nơi gắn với hệ sinh thái tài chính, công nghệ và chuyển đổi số.
Theo ghi nhận hiện nay, phần lớn các trường đại học công lập và tư thục vẫn tập trung tại khu vực Đà Nẵng cũ, phân bố rải rác ở nhiều quận. Trong khi đó, một số cơ sở đã bắt đầu chuyển về khu vực Làng đại học Đà Nẵng tại Hòa Quý và Điện Bàn Đông theo quy hoạch.
Dự án này đang được đẩy nhanh tiến độ để tiếp nhận thêm các đơn vị thành viên của Đại học Đà Nẵng trong sự chờ đợi của rất nhiều người dân trong vùng quy hoạch treo trước đây.
Trong khi đó theo quy hoạch thành phố thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Đà Nẵng định hướng phát triển hai "đô thị đại học".
Trong đó, khu phía bắc gắn với chiến lược phát triển Đại học Quốc gia Đà Nẵng, còn khu phía nam gắn với Khu kinh tế mở Chu Lai và đô thị Tam Kỳ. Mục tiêu là đưa Đà Nẵng trở thành trung tâm giáo dục - đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á.
Tuy nhiên đề xuất di dời đại học cũng làm dấy lên nhiều băn khoăn. Không ít ý kiến lo ngại việc "dịch chuyển cơ học" có thể ảnh hưởng đến hệ sinh thái học thuật vốn cần thời gian dài để tích lũy.
PGS.TS Võ Văn Minh cho rằng việc di dời các trường đại học cần được cân nhắc thận trọng, dựa trên nhận thức đúng về vai trò của đại học như một thiết chế của tri thức, văn hóa và thời gian.
Theo ông Minh, một đại học có thể xây dựng trong vài thập niên, nhưng để hình thành một không gian học thuật đúng nghĩa cần cả thế kỷ tích tụ.
Từ thực tiễn quốc tế, các đại học lớn đều phát triển trên nền tảng ổn định, mở rộng theo thời gian thay vì di dời. "Đại học không lớn lên bằng cách dịch chuyển, mà bằng sự tích tụ bền bỉ trong một không gian ổn định" - ông Minh nhận định.
Ở góc nhìn quy hoạch, KTS Hoàng Quang Huy - nguyên Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Đà Nẵng - cho rằng việc di dời hay hình thành làng đại học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là nguồn lực và khả năng tổ chức thực hiện.
Ông Huy cho biết nếu định hướng, quy hoạch lâu dài thì vẫn có khả thi nếu muốn hình thành đô thị đại học.
Tuy nhiên theo ông Huy, yếu tố quyết định không nằm ở vị trí mà là con người. Nếu không tập trung được đội ngũ giảng viên, sinh viên và các điều kiện hỗ trợ đi kèm, việc di dời có thể không đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Cùng quan điểm thận trọng, PGS.TS Bùi Quang Bình (Trường đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng) cho rằng việc quy hoạch, di dời các trường đại học vào Tam Kỳ cần được tính toán kỹ lưỡng trên các khía cạnh pháp lý, kinh tế, xã hội và đào tạo.
"Không thể làm theo cảm tính hay ý chí, mà phải có cơ sở khoa học và lộ trình rõ ràng" - ông nói.
Theo ông Bình, hiện vị trí của Đại học Đà Nẵng đã được xác định trong quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch thành phố.
Đồng thời đơn vị này đang thực hiện sứ mệnh trở thành một trong những đại học trọng điểm, hướng đến mục tiêu đưa một số ngành đào tạo vào top 100 thế giới. Việc di dời, nếu có, sẽ rất phức tạp, tốn kém và có thể ảnh hưởng đến tiến trình này.
Ngoài ra bài toán tài chính cũng là thách thức lớn. Việc di dời đòi hỏi nguồn kinh phí rất lớn trong khi chủ trương chung là hạn chế sử dụng vốn đầu tư công cho xây dựng trụ sở.
"Giáo dục và y tế chất lượng cao là hai trụ cột dịch vụ quan trọng của Đà Nẵng. Nếu di dời các trường đại học ra khỏi nội đô, hệ sinh thái dịch vụ này có thể bị xáo trộn, ảnh hưởng đến thương hiệu thành phố.
Chưa kể, với lịch sử hàng chục năm, Đại học Đà Nẵng đã gắn bó với sự phát triển của miền Trung, thu hút người học từ nhiều nơi. Nếu chuyển đến khu vực chưa có môi trường học tập và giao lưu tương xứng, liệu sinh viên có sẵn sàng theo học?" - ông Bình đặt vấn đề.