Bộ Tư pháp vừa công bố tài liệu thẩm định hồ sơ chính sách dự án bộ luật Hình sự (sửa đổi). Dự thảo do Bộ Công an chủ trì soạn thảo.
Luật hiện hành quy định thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án chung thân hoặc tử hình là 20 năm.
Theo Bộ Công an, quy định trên đang gây khó khăn trong một số trường hợp, vì luật chưa quy định về việc khi hết thời hiệu thi hành bản án tử hình thì người bị kết án có được chuyển xuống tù chung thân hay không.
Để giải quyết bất cập, cơ quan soạn thảo đề xuất sửa đổi theo hướng nếu hết thời hiệu thi hành án thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.
Góp ý về nội dung này, Văn phòng Chủ tịch nước cho rằng đề xuất trên chưa phù hợp với bản chất pháp lý của chế định thời hiệu.
Bởi lẽ thời hiệu là căn cứ chấm dứt quyền thi hành hình phạt của Nhà nước, không phải cơ chế chuyển đổi hình phạt. Cơ quan soạn thảo cân nhắc nên xây dựng theo quy định của bộ luật Hình sự năm 1999.
Phản hồi, Bộ Công an khẳng định quy định trường hợp hết thời hiệu thi hành án tử hình thì chuyển thành tù chung thân là cần thiết, nhằm xử lý khoảng trống, vướng mắc thực tiễn trong thi hành bản án tử hình.
Quan điểm về việc thời hiệu là căn cứ chấm dứt quyền thi hành hình phạt của Nhà nước là có cơ sở về mặt lý luận chung. Song, đối với hình phạt tử hình, cần có cơ chế đặc thù vì đây là hình phạt nghiêm khắc nhất, liên quan trực tiếp đến quyền sống.
Nếu hết thời hiệu mà người bị kết án tử hình đương nhiên không phải chấp hành bất kỳ hình phạt nào thì sẽ không phù hợp với tính chất đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm và có thể tạo khoảng trống pháp lý trong thực tiễn.
Việc chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân trong trường hợp hết thời hiệu không nên hiểu là phủ nhận bản chất của chế định thời hiệu, mà là quy định ngoại lệ, có tính nhân đạo và đặc thù đối với án tử hình.
Theo hướng này, Nhà nước không tiếp tục thi hành hình phạt tử hình sau khi đã hết thời hiệu, nhưng vẫn bảo đảm người bị kết án phải chịu trách nhiệm bằng hình phạt tù chung thân tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Vẫn theo Bộ Công an, bộ luật Hình sự năm 1999 từng quy định cơ chế riêng đối với trường hợp tù chung thân hoặc tử hình. Theo đó, sau 15 năm thì việc áp dụng thời hiệu do Chánh án TAND tối cao quyết định trên cơ sở đề nghị của Viện trưởng VKSND tối cao; nếu không cho áp dụng thời hiệu thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân, tù chung thân được chuyển thành tù 30 năm.
Quy định này cho thấy chính sách hình sự Việt Nam đã từng thừa nhận cơ chế không thi hành tử hình sau một thời hạn nhất định nhưng chuyển sang hình phạt nhẹ hơn, chứ không tuyệt đối coi hết thời hiệu là miễn hoàn toàn mọi hậu quả hình phạt đối với án tử hình.
Do đó, chính sách tại dự thảo là có cơ sở cả về thực tiễn và lập pháp. So với việc khôi phục nguyên mẫu quy định của bộ luật Hình sự năm 1999, phương án của dự thảo có ưu điểm là rõ ràng, trực tiếp, dễ áp dụng, hạn chế phát sinh thủ tục xin ý kiến, đề nghị, quyết định trong từng trường hợp cụ thể.
Quy định này cũng phù hợp với định hướng nhân đạo hóa chính sách hình sự, hạn chế thi hành án tử hình sau thời gian quá dài, nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Vẫn tại dự thảo, Bộ Công an đề xuất tiếp tục thu hẹp phạm vi tội danh áp dụng hình phạt tử hình (luật hiện hành còn 10 tội danh).
Hình phạt tử hình sẽ chỉ giữ lại đối với các tội danh có tính chất “tội ác nghiêm trọng”, xâm phạm đến khách thể đặc biệt quan trọng, gây những hậu quả nặng nề về mặt kinh tế, xã hội và an ninh con người.
Việc này nhằm phù hợp với xu hướng quốc tế, phù hợp với quy định của Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam là thành viên; đáp ứng yêu cầu chỉ đạo của Đảng; phù hợp với tình hình, diễn biến tội phạm và tình hình kinh tế, xã hội trong nước.
Chiều 25/5, làm việc với UBND TP Hà Nội và các bộ, ngành về phát triển nhà ở cho thuê, Thủ tướng Lê Minh Hưng đánh giá thị trường nhà ở Thủ đô đang lệch pha nghiêm trọng giữa cung và cầu. Trong khi nguồn cung chủ yếu là nhà ở thương mại để bán, phân khúc nhà cho thuê dài hạn phù hợp khả năng chi trả của người dân còn rất thiếu.
Định hướng được đặt ra là chuyển mạnh từ phát triển chủ yếu nhà ở thương mại sang phát triển đồng thời nhà ở thương mại và nhà ở cho thuê, coi nhà ở cho thuê là phân khúc chiến lược, phục vụ số đông người dân và lực lượng lao động tại đô thị lớn.
Theo yêu cầu của người đứng đầu Chính phủ, Hà Nội cần đi đầu triển khai mô hình nhà ở cho thuê để hoàn thiện cơ chế, chính sách và tạo cơ sở nhân rộng ra các đô thị lớn, vùng kinh tế trọng điểm. Thành phố được giao rà soát toàn bộ quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị, nông thôn và quỹ đất, quỹ nhà thuộc tài sản công sử dụng kém hiệu quả để xây dựng phương án phát triển nhà ở cho thuê, báo cáo kết quả trong tháng 6.
Hà Nội đồng thời phải đánh giá nhu cầu thực tế, xây dựng cơ chế đầu tư và triển khai mô hình nhà ở cho thuê quy mô lớn, bảo đảm chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người dân sinh sống, làm việc tại Thủ đô, trong đó có cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan Trung ương.
Phát triển nhà ở cho thuê được xác định phải gắn với quy hoạch đô thị, khu công nghiệp, giao thông công cộng, thị trường lao động và quản lý dân cư; ưu tiên các mô hình đô thị định hướng giao thông công cộng và khu công nghiệp có hạ tầng đồng bộ.
Cùng với đó, Chính phủ yêu cầu huy động đa dạng nguồn lực xã hội, khơi thông dòng vốn tư nhân và vốn dài hạn; xử lý tình trạng nhà ở thuộc tài sản công bị bỏ hoang hoặc sử dụng kém hiệu quả; kiểm soát chính sách để ngăn đầu cơ, trục lợi.
Bộ Xây dựng được giao nghiên cứu cơ chế tổng thể phát triển nhà ở cho thuê, trong đó có chính sách thuê nhà 15-20 năm hoặc dài hơn, đồng thời xem xét quy định các dự án nhà ở thương mại phải dành tỷ lệ nhất định để phát triển nhà cho thuê.
Các bộ, ngành cũng phải đề xuất quy trình đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng theo cơ chế "một cửa, một đầu mối, một quy trình chuẩn", gắn rõ trách nhiệm từng cơ quan.
Bộ Xây dựng chủ trì phối hợp với Bộ Công an và UBND TP Hà Nội xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật cho nhà ở cho thuê, đặc biệt là yêu cầu an toàn phòng cháy chữa cháy đối với nhà ở cho thuê quy mô nhỏ và vừa, hoàn thành trong tháng 7.
Ngày 2.6, Bảo hiểm xã hội TP.HCM cho biết đã có góp ý sửa đổi, bổ sung một số nội dung của luật Bảo hiểm xã hội, luật Bảo hiểm y tế và chính sách liên quan quyền lợi của người lao động, người tham gia bảo hiểm y tế. Trong đó, đáng chú ý là kiến nghị liên quan đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Bảo hiểm xã hội TP.HCM kiến nghị bổ sung tài xế công nghệ, người bán hàng online trên các sàn thương mại điện tử vào diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Theo Bảo hiểm xã hội TP.HCM, đây là những nhóm lao động có việc làm, có thu nhập ổn định, thường xuyên, phát triển nhanh trong nền kinh tế số nhưng hiện chưa được bao phủ đầy đủ bởi chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc. Việc bổ sung nhóm đối tượng này nhằm bảo đảm tốt hơn quyền lợi an sinh cho người lao động trong các mô hình việc làm mới.
Phương thức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng thông qua tổ chức kinh doanh qua ứng dụng công nghệ, nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán và các tổ chức có hoạt động kinh tế số khác theo quy định của Chính phủ.
Bảo hiểm xã hội TP.HCM cũng kiến nghị đưa hợp đồng lao động dưới 1 tháng vào diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Vì thực tế cho thấy, một số doanh nghiệp trong các lĩnh vực xây dựng, vận tải, bảo vệ, dịch vụ… lợi dụng quy định về hợp đồng ngắn hạn để ký hợp đồng dưới 1 tháng nhằm né tránh trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Theo số liệu khảo sát từ nguồn quyết toán thuế thu nhập cá nhân năm 2024, năm 2025 của các đơn vị trên địa bàn TP.HCM, có khoảng hơn 350.000 lao động thuộc nhóm này.
Việc bổ sung nhóm lao động làm việc theo hợp đồng dưới 1 tháng vào diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhằm hạn chế tình trạng lách luật, đồng thời bảo đảm công bằng về quyền lợi an sinh giữa các nhóm lao động.
Theo Bảo hiểm xã hội TP.HCM, cần siết trách nhiệm bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp sử dụng lao động tại công trình xây dựng, công ty may mặc, gia công, vận tải.
Đối với doanh nghiệp sử dụng người lao động tại các công trình xây dựng, Bảo hiểm xã hội TP.HCM kiến nghị nếu không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động thì cơ quan thuế không quyết toán chi phí tiền lương, bảo hiểm xã hội khi xác định thu nhập chịu thuế.
Kiến nghị này xuất phát từ thực tế nhiều doanh nghiệp xây dựng trả lương công nhân theo ngày công, không ký hợp đồng lao động hoặc luân chuyển người lao động qua nhiều công trình để né tránh nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội. Theo khảo sát trên địa bàn TP.HCM năm 2024 và 2025, có khoảng hơn 50.000 lao động thuộc trường hợp này.
Ngoài ra, Bảo hiểm xã hội TP.HCM kiến nghị bổ sung trách nhiệm cung cấp dữ liệu của người sử dụng lao động. Việc này nhằm tạo cơ sở để cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý thu, kiểm tra tình hình tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của đơn vị sử dụng lao động. Đồng thời hạn chế tình trạng chậm đóng, trốn đóng, đóng không đủ số người hoặc đóng không đúng mức lương thực tế chi trả.
Qua thực tế thanh tra, kiểm tra, Bảo hiểm xã hội TP.HCM nhận thấy có tình trạng số liệu lao động đơn vị kê khai với cơ quan bảo hiểm xã hội khác với số lao động thực tế đang quản lý và trả lương. Vì vậy, việc minh bạch dữ liệu lao động, dữ liệu tài chính và tiền lương là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ quyền lợi người lao động.
Bảo hiểm xã hội TP.HCM kiến nghị tổ chức thu bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với chủ hộ kinh doanh qua tổ chức dịch vụ thu.
Theo Bảo hiểm xã hội TP.HCM, trên địa bàn hiện có hơn 200.000 hộ kinh doanh cá thể, trong khi việc tổ chức thu bảo hiểm xã hội bắt buộc đến từng chủ hộ đặt ra áp lực lớn về nhân lực và phương thức triển khai. Thực tế cho thấy các tổ chức hỗ trợ phát triển người tham gia đã có kinh nghiệm trong công tác thu, vận động người tham gia bảo hiểm y tế hộ gia đình, bảo hiểm xã hội tự nguyện và có thể hỗ trợ hiệu quả trong việc triển khai chính sách đối với nhóm chủ hộ kinh doanh.
Đề xuất này nhằm mở rộng kênh tổ chức thực hiện, tạo thuận lợi cho chủ hộ kinh doanh tiếp cận, đăng ký và tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định.
UBND tỉnh Lâm Đồng vừa có báo cáo tiến độ cùng các khó khăn, vướng mắc của dự án thủy điện tích năng Đơn Dương, đồng thời đề xuất hướng tháo gỡ.
Theo UBND tỉnh Lâm Đồng, dự án được quy hoạch cách phường Xuân Hương - Đà Lạt khoảng 20 km về phía đông - nam. Hồ trên đặt tại phường Xuân Trường, còn hồ dưới sử dụng hồ Đơn Dương hiện hữu của Nhà máy thủy điện Đa Nhim. Tổng diện tích sử dụng đất dự kiến hơn 212,4 ha, trong đó đất sử dụng lâu dài 138,4 ha.
Sở Công thương tỉnh Lâm Đồng cho biết, về kỹ thuật, đây là nhà máy thủy điện tích năng kiểu ngầm, gồm các hạng mục chính như hồ trên, tuyến năng lượng (đường hầm dẫn nước, ống áp lực, tháp điều áp, hầm xả), nhà máy ngầm và hệ thống đấu nối lưới điện 500 kV.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương, EVN đã giao tư vấn J-Power (Nhật Bản) làm tư vấn chính, phối hợp với các đơn vị liên quan khảo sát, lập hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi. Tuy nhiên, EVN đang tiếp tục khảo sát, tính toán lại một số nội dung.
Ngày 11.8.2025, EVN báo cáo UBND tỉnh Lâm Đồng đã tối ưu hóa phương án tuyến và bố trí tổng thể mặt bằng, nhằm giảm tối đa diện tích sử dụng đất lâu dài cho dự án. Hiện EVN đang thẩm tra trước khi trình UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư.
Mới đây, ngày 5.2, EVN cùng đoàn công tác của Ngân hàng Thế giới đã làm việc với UBND tỉnh Lâm Đồng để tìm hiểu quy trình lựa chọn nhà đầu tư, phê duyệt dự án và các nội dung liên quan, phục vụ công tác chuẩn bị đầu tư dự án thủy điện tích năng Đơn Dương.
Theo UBND tỉnh Lâm Đồng, khó khăn lớn nhất hiện nay nằm ở sự không thống nhất về quy mô công suất.
Cụ thể, tại Quy hoạch điện 7 và Quy hoạch điện 7 điều chỉnh được Chính phủ phê duyệt, dự án được phê duyệt với công suất 1.200 MW và giao EVN làm chủ đầu tư.
Tuy nhiên, trong Quy hoạch điện 8, dự án lại được xác định công suất 900 MW (tổ máy số 1 công suất 300 MW vận hành giai đoạn 2026 - 2030; tổ máy số 2 và 3 công suất 600 MW vận hành giai đoạn 2031 - 2035), đồng thời không xác định rõ chủ đầu tư.
Một cán bộ Sở Công thương tỉnh Lâm Đồng cho biết, EVN hiện lập hồ sơ theo quy mô 1.200 MW, trong khi cơ quan quản lý địa phương phải căn cứ theo quy hoạch mới là 900 MW. Sự "lệch pha" này khiến tỉnh chưa thể tiếp nhận hồ sơ do thiếu căn cứ pháp lý để thẩm định.
Ngoài ra, dự án thủy điện tích năng Đơn Dương còn đối mặt với nhiều thách thức khác như: yêu cầu đánh giá chi tiết điều kiện địa chất khu vực hồ trên và tuyến hầm; phương án đấu nối lưới điện 500 kV; bài toán cân đối nguồn vốn đầu tư lớn; cũng như cơ chế lựa chọn nhà đầu tư khi chưa xác định rõ hình thức triển khai.
Để tháo gỡ, UBND tỉnh Lâm Đồng kiến nghị Bộ Công thương và các cơ quan liên quan sớm có văn bản hướng dẫn thống nhất quy mô công suất chính thức của dự án. Đây được xem là điều kiện tiên quyết để hoàn thiện hồ sơ, trình chủ trương đầu tư và triển khai các bước tiếp theo.
Đồng thời, cần sớm xác định cơ chế đầu tư (EVN tiếp tục làm chủ đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư khác), làm rõ nguồn vốn và phương thức huy động, trong đó có thể xem xét sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới.
Theo đánh giá của tỉnh Lâm Đồng, khi được triển khai, dự án thủy điện tích năng Đơn Dương sẽ góp phần phát triển hạ tầng năng lượng, tạo việc làm trong giai đoạn xây dựng và vận hành, đồng thời thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực liên quan như giao thông, dịch vụ và công nghiệp hỗ trợ.
Theo các chuyên gia, dự án thủy điện tích năng Đơn Dương được xác định là hạ tầng kỹ thuật quan trọng, góp phần điều tiết hiệu quả hệ thống điện.
Khác với thủy điện truyền thống, thủy điện tích năng Đơn Dương vận hành theo cơ chế bơm - tích - phát. Cụ thể, nhà máy tận dụng nguồn điện dư vào giờ thấp điểm để bơm nước lên hồ trên, sau đó phát điện trở lại vào giờ cao điểm khi nhu cầu tăng cao.
Khi hoàn thành, thủy điện tích năng Đơn Dương sẽ đóng vai trò điều tiết phụ tải cho hệ thống điện khu vực phía nam, đặc biệt trong bối cảnh tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng tăng nhanh.
Công trình không chỉ giúp tận dụng hiệu quả nguồn điện dư vào giờ thấp điểm, mà còn góp phần giảm áp lực vận hành, nâng cao độ ổn định và an toàn cho lưới điện.