Sau khi đọc bài viết “Nhiều lao động bị vắt kiệt vì ‘KPI, deadline’”, tôi như thấy chính mình trong đó. Tôi năm nay đã ngoài 40 tuổi, làm việc ở một công ty suốt 13 năm nay. Từng ấy thời gian đủ để tôi chứng kiến sự thay đổi của môi trường công sở, của áp lực công việc và cả cách con người dần bị biến thành những cỗ máy chạy theo năng suất.
Ngày mới đi làm, tôi từng chăm chỉ hết mình vì niềm tin sẽ có một cuộc sống ổn định. Tôi từng tự hào vì mình là người chịu khó, có trách nhiệm và luôn hoàn thành công việc đúng hạn.
Nhưng càng về sau, tôi càng nhận ra sự chăm chỉ của mình đang bị khai thác đến mức kiệt quệ. Chúng tôi không chỉ làm việc ở công ty tám tiếng mỗi ngày, mà còn mang việc về nhà, thức khuya trả lời email, giải quyết tin nhắn nhóm, hoàn thành báo cáo, chạy KPI và sống trong cảm giác lúc nào cũng sợ chậm deadline.
Ranh giới giữa công việc và cuộc sống cá nhân của tôi ngày càng biến mất. Có những tối tôi vừa ăn cơm vừa nhìn điện thoại vì sợ sếp nhắn. Có những ngày cuối tuần đáng lẽ được nghỉ ngơi thì laptop lại sáng đèn từ sáng đến khuya. Tôi từng đưa con đi chơi nhưng đầu óc vẫn nghĩ về bảng số liệu chưa làm xong. Thậm chí, ngay cả lúc nằm ngủ, tôi vẫn giật mình vì nhớ ra một email chưa trả lời. Cứ thế, tôi sống trong trạng thái căng thẳng kéo dài suốt nhiều năm mà không hề hay biết.
Áp lực công việc ngày nay không còn đơn thuần là “làm nhiều”, mà là cảm giác không bao giờ được nghỉ ngơi thật sự. Công nghệ giúp chúng ta kết nối nhanh hơn, nhưng cũng khiến công việc bám theo con người mọi lúc mọi nơi. Chỉ cần điện thoại còn kết nối internet, người lao động như tôi gần như không thể thoát khỏi công việc.
>> Tôi 10 năm cống hiến nhưng công ty xem là điều hiển nhiên
Nhiều người nói rằng áp lực là điều bình thường khi đi làm, ai cũng phải chịu. Tôi không phủ nhận doanh nghiệp cần doanh thu, cần hiệu suất để tồn tại. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ nhiều công ty đang đẩy áp lực vượt quá giới hạn chịu đựng của người lao động.
Có giai đoạn tôi phải làm việc liên tục từ sáng đến hơn 10 giờ đêm trong nhiều tuần. Hết báo cáo tháng lại đến kế hoạch quý, hết chỉ tiêu doanh số lại đến đánh giá hiệu suất. Mỗi năm KPI lại tăng, nhưng thời gian nghỉ ngơi của tôi thì ngày càng ít đi. Chúng tôi luôn được yêu cầu phải “cố thêm chút nữa”, “nỗ lực thêm chút nữa”, nhưng không ai hỏi chúng tôi đã mệt đến mức nào?
Tôi từng chứng kiến đồng nghiệp bật khóc trong nhà vệ sinh vì áp lực công việc. Có người phải uống thuốc ngủ vì mất ngủ kéo dài. Có người mới ngoài 30 tuổi đã mắc bệnh dạ dày, rối loạn lo âu, huyết áp cao. Nhưng sáng hôm sau, tất cả vẫn phải mặc đồng phục, cười nói bình thường và tiếp tục chạy deadline như chưa có chuyện gì xảy ra.
Phải chăng xã hội đang dần xem sự kiệt sức như một biểu hiện của chăm chỉ? Người ta tung hô những ai làm việc xuyên đêm, trả lời email ngoài giờ hay không nghỉ phép suốt nhiều năm. Nhưng ít ai tự hỏi liệu đó có phải là một cuộc sống lành mạnh hay không? Tôi từng tự hào vì mình “cày việc” giỏi, nhưng giờ đây không còn thấy điều đó đáng tự hào nữa.
Đổi lại cho những năm tháng lao lực tuổi trẻ là sức khỏe giảm sút rõ rệt. Tôi thường xuyên đau đầu, mất ngủ và lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi. Có những ngày tan làm về nhà, tôi không còn đủ năng lượng để trò chuyện với vợ con. Con tôi nhiều lần muốn bố chơi cùng nhưng tôi chỉ muốn nằm im vì quá kiệt sức. Tôi nhận ra mình đang dành phần lớn năng lượng cho công ty, còn gia đình lại chỉ nhận được phần mệt mỏi còn sót lại. Đó là điều khiến tôi day dứt nhất.
Khi kinh tế khó khăn, ai cũng lo mình tụt lại phía sau. Vì sợ mất việc, nhiều người như tôi vẫn chấp nhận làm thêm ngoài giờ, chấp nhận bị giao việc cả cuối tuần, chấp nhận sống trong trạng thái căng thẳng kéo dài. Chúng tôi không dám từ chối vì còn gánh nặng gia đình, tiền nhà, tiền học cho con và vô số áp lực cơm áo khác.
Nhưng con người không phải cỗ máy. Tôi nghĩ nhiều doanh nghiệp đang nhầm lẫn giữa hiệu suất và sự cống hiến mù quáng. Một nhân viên làm việc 14 tiếng mỗi ngày chưa chắc hiệu quả hơn một người được nghỉ ngơi đầy đủ và làm việc trong trạng thái cân bằng. Khi con người quá mệt mỏi, họ dễ mất sáng tạo, giảm năng suất và dần mất động lực với công việc.
Tôi vẫn đang phải tiếp tục làm việc, vẫn cố gắng hoàn thành trách nhiệm của mình. Nhưng càng lớn tuổi, tôi càng mong các doanh nghiệp nhìn người lao động bằng sự thấu hiểu hơn. Bởi phía sau những bảng KPI và deadline là những con người bằng xương bằng thịt, cũng biết mệt, biết áp lực và cũng cần được sống chứ không chỉ tồn tại để làm việc.
Tôi làm môi giới nhà đất, vừa có người khách muốn đi xem một căn hộ tới ba lần. Nhận xét của vị khách khiến tôi bất ngờ: "Chị thích căn này. Có điều hơi đắn đo vì ba lần đến xem đều thấy hàng xóm mở cửa. Họ nói chuyện ồn ào, có lần lại kho cá sực mùi hành lang".
Tôi thấy khá nhiều căn hộ để cửa mở suốt ngày. Vì thế nên những chung cư có căn hộ nằm lệch nhau, cửa ra vào không đối diện nhau thường cao cấp hơn và dễ bán hơn.
Một số người ở chung cư thường có thói quen mở cửa cho thoáng. Nhưng cũng có người cho rằng tiếng ồn, mùi thức ăn và sự riêng tư đều bị ảnh hưởng.
Sống ở chung cư, việc mở cửa cả ngày là bình thường hay mất lịch sự, làm phiền hàng xóm?
Là một giáo viên dạy lái xe tại TP HCM với hơn 16 năm thâm niên, tôi xin mạn phép bày tỏ quan điểm cá nhân dưới góc nhìn của một người trong cuộc, đồng hành cùng bao thế hệ học viên bên tay lái. Để làm tốt bất kỳ công việc nào, người thực hiện cũng cần hội tụ đủ ba yếu tố: kiến thức, kỹ năng, thái độ. Và công việc lái xe cũng không là ngoại lệ.
Cục CSGT vừa có đề xuất tăng số câu hỏi lý thuyết trong sát hạch, cấp giấy phép lái xe lên 50 câu và điểm đạt tối thiểu là 45/50. Theo tôi, đây là một quy định rất đúng đắn. Nó buộc người học phải nâng cao tầm hiểu biết về Luật Giao thông đường bộ thay vì học mẹo, học vẹt. Giả định mỗi câu có ba đáp án thì xác suất để chọn được đáp án đúng ngẫu nhiên của một câu sẽ là 1/3. Khi bộ đề sát hạch lý thuyết có 50 câu (điểm đạt tối thiểu là 45/50) thì xác suất để có kết quả đạt phần thi lý thuyết sẽ giảm đi đáng kể (gần như bằng 0) nếu thí sinh không chịu khó ôn luyện.
Việc tăng quãng đường sát hạch đường trường cũng là hoàn toàn chính xác, nó giúp cho người học tự kiểm tra lại bản thân xem có tích lũy đủ lượng kiến thức, kỹ năng lái xe hay chưa để thực hiện "bước nhảy" từ "tập lái" sang "tự lái".
Phần thi sát hạch 11 bài liên hoàn trong sa hình hiện nay theo tôi có tính ứng dụng rất cao. Từ bài xuất phát, nhường đường cho người đi bộ, dừng xe ngang dốc, qua đường vòng quanh co cho đến ghép xe... tất cả đều là nền tảng cốt lõi giúp học viên rèn luyện kỹ năng trong nhiều tình huống giao thông khác nhau. Tuy nhiên, áp lực từ hệ thống chấm điểm tự động đôi khi lại mang tính chất "đánh đố" hơn là ứng dụng thực tế.
>> 'Tách thi lý thuyết thành chứng chỉ riêng trước khi sát hạch lái xe'
Có ba điểm nghẽn lớn trong sân sát hạch mà tôi luôn trăn trở:
Thứ nhất, những lỗi trừ điểm "máy móc": Tại bài thi "xuất phát", nếu thí sinh tắt đèn xi-nhan chậm sau tiếng tín hiệu nhận bài sẽ bị trừ ngay 5 điểm. Trong thực tế, việc bật xi-nhan lâu hơn một chút khi nhập làn không gây nguy hiểm, thậm chí còn giúp xe phía sau nhận diện tốt hơn. Thiết nghĩ, nên kéo dài biên độ thời gian, ví dụ như khi xe đã vào bài "nhường đường cho người đi bộ" mà vẫn chưa tắt xi-nhan thì mới bị trừ điểm. Điều tương tự cũng nên áp dụng cho bài dừng xe nhường đường cho người đi bộ hoặc dừng xe nơi đường sắt - cần có một biên độ sai số hình học hợp lý cho cản trước của xe, thay vì bắt học viên phải canh chuẩn xác từng milimet với vạch cảm ứng trên mặt đường.
Thứ hai, hệ lụy từ việc "canh ống hơi" ở bài ghép xe: Hiện nay, bài thi ghép xe dọc và ngang được chấm điểm dựa trên việc bánh xe có chèn qua ống hơi giới hạn hay không? Để đối phó, học viên buộc phải chỉnh gương chiếu hậu cụp hẳn xuống để nhìn thấy bánh xe và ống hơi suốt quá trình lùi.
Thứ ba, hệ lụy của cách học đối phó này rất rõ ràng: Học viên mất hoàn toàn cảm nhận không gian và chiều dọc hai bên thân xe ở tầm cao (nơi dễ va quệt với các xe khác ngoài đời thực). Người học bị đóng khung tư duy lùi xe theo kiểu "canh dấu" cố định trên sân thi (ví dụ: vai ngang điểm giữa, đánh hết lái...). Hậu quả là sau khi nhận GPLX, phần lớn tài xế mới đều "mất gốc" kỹ năng lùi xe thực tế. Họ lại phải tốn tiền, tốn thời gian thuê xe bổ túc tay lái để học lại từ đầu cách lùi xe trong các hầm chung cư hay bãi đỗ xe thương mại.
Để việc sát hạch thực sự phục vụ cho kỹ năng lái xe an toàn của người dân, tôi xin được phép kiến nghị nên thay đổi tư duy thiết kế bài thi. Thay vì dùng hệ thống ống hơi ngầm trên mặt đất, hãy thử nghiệm mô hình giả lập (ví dụ đặt các cọc tiêu hoặc khối mô hình tượng trưng cho hai chiếc xe đang đỗ hai bên ở bài ghép xe). Khi đó, học viên buộc phải giữ gương chiếu hậu ở tầm nhìn ngang chuẩn, quan sát không gian xung quanh như thực tế.
Tăng độ khó để nâng cao chất lượng người lái là việc phải làm. Nhưng tăng độ khó nên đi liền với việc tăng tính thực tiễn, chứ không nên vô tình làm tăng thêm các "mẹo" để vượt qua máy móc. Có như vậy, "bước nhảy" từ "tập lái" sang "tự lái" của học viên mới thực sự trọn vẹn và an toàn.
Trên một diễn đàn, tôi thấy một người nước ngoài chia sẻ về giá sách ở Việt Nam. Người này chia sẻ rằng: "Sống ở Sài Gòn 8 ngày, sống thoải mái với chỉ 70 đôla" nhưng mua sách in đắt kinh khủng.
"Mình mua tầm 7-8 cuốn mà gần tốn 3,5-4 triệu đồng. Chẳng có cuốn nào mình mua dưới 350 nghìn đồng cả". Và người này đặt câu hỏi:
Cùng mấy cuốn sách đó, ở nước mình mua rẻ hơn một nửa, thậm chí còn rẻ hơn nữa ấy". Sao sách ở đây lại đắt thế?
Đầu tiên, tôi nghĩ rằng sách mà bạn người nước ngoài này mua là sách ngoại văn, nên việc đắt đỏ là điều dễ hiểu.
Tuy nhiên, tôi lại đồng tình rằng giá sách ở ta vẫn còn cao so với thu nhập. Đơn cử như một cuốn sách tôi mua gần đây chỉ có 138 trang, dịch lại những câu triết lý của nước ngoài, hàm lượng chữ trong một trang rất ít, nhưng bán với giá gần 70 nghìn đồng. Tôi đọc chưa tới một buổi chiều là đã hết và hiện giờ nó nằm im trong giá sách.
Chỉ khi nào rủng rỉnh tiền tôi mới dám đi nhà sách, vì mỗi lần vào mua 2-3 cuốn là tốn hơn 500-600 nghìn đồng. Nếu đi hiệu sách cũ thì giá cũng không rẻ hơn bao nhiêu.
Cá nhân tôi nghĩ rằng giá sách ở Việt Nam còn đắt so với thu nhập, ít nhất là một người đi làm bình thường chứ chưa nói đến học sinh, sinh viên. Bạn có nghĩ giống tôi không?