Tính toán của các chuyên gia năng lượng, doanh nghiệp, công ty lắp đặt điện mặt trời mái nhà cho thấy, các hộ gia đình có mức tiêu thụ điện năng khoảng 600 kWh/tháng trở lên là có thể đầu tư điện mặt trời mái nhà kết hợp với pin lưu trữ hiệu quả.
Chuyên gia Nguyễn Huy Hoạch lí giải, đây là mức tiêu thụ điện mà nhu cầu điện buổi tối thường đạt khoảng 8 – 10 kWh mỗi ngày và là điều kiện cần để pin lưu trữ phát huy giá trị. Cụ thể, điện mặt trời được sản xuất vào ban ngày, trong khi phần điện có giá trị cao nhất lại nằm ở buổi tối – thời điểm phụ tải lớn và chi phí hệ thống cao nhất. Khi có pin lưu trữ, điện năng được “dịch chuyển” sang đúng thời điểm này, làm tăng đáng kể hiệu quả kinh tế. “Ngưỡng 600 kWh/tháng không phải là khuyến nghị, mà là điều kiện để điện mặt trời mái nhà kết hợp với pin lưu trữ trở thành giải pháp thực sự cho hệ thống điện”, ông lưu ý.
Cụ thể, với mức tiêu thụ khoảng 600 kWh/tháng, đầu tư một hệ thống điện mặt trời mái nhà công suất khoảng 5 kWp kết hợp pin lưu trữ 10 kWh hiện nay có chi phí khoảng 100 – 120 triệu đồng. Với cấu hình này, hộ gia đình có thể giảm khoảng 70 – 90% lượng điện mua từ lưới, tương đương tiết kiệm 1,8 – 2,2 triệu đồng mỗi tháng. Thời gian hoàn vốn dao động từ 4 – 5 năm.
Đặc biệt, khi mức tiêu thụ tăng lên 800 – 1.000 kWh/tháng, hiệu quả sẽ rõ rệt hơn bởi hệ thống được khai thác gần tối đa, giúp rút ngắn thời gian hoàn vốn xuống còn 3 – 4 năm. “Điều này cho thấy điện mặt trời mái nhà kết hợp lưu trữ không phải là giải pháp đại trà, mà phù hợp nhất với nhóm tiêu thụ trung bình và cao”, TS Nguyễn Huy Hoạch nhấn mạnh.
Ngoài ra, với bảng giá điện tính lũy kế, nhóm hộ tiêu thụ điện năng trên 600 kWh/tháng thường phải trả tiền điện ở các bậc giá cao hơn, do đó mỗi kWh điện tiết kiệm được mang lại giá trị kinh tế lớn hơn.
Kinh Tế
Cải tạo chung cư cũ, TP.Hà Nội đưa ra nhiều đề xuất phương án tái định cư

Theo UBND Tp.Hà Nội, việc cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị trên địa bàn thành phố sẽ được triển khai theo nhiều nhóm dự án, gồm: chỉnh trang công trình hoặc cụm công trình; bảo vệ, tu bổ công trình; tái thiết khu vực đô thị; cải tạo, chỉnh trang đô thị hỗn hợp và cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư.
Chính sách bồi thường từng trường hợp
Với các dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị, UBND thành phố đề xuất nhiều chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Trường hợp thứ nhất, chủ sở hữu nhà đất bị thu hồi thuộc phạm vi dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị nhằm mục đích phục vụ hạ tầng xã hội, công trình công cộng được ưu tiên bồi thường giao đất ở tái định cư.
Trường hợp thứ hai, bị thu hồi nhà đất để triển khai dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị nhằm mục đích tái thiết một khu vực đô thị được xem xét bố trí tái định cư tại chỗ.
Trường hợp thứ ba, bị thu hồi nhà đất để thực hiện các dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị đủ điều kiện được bố trí tái định cư mà không có nhu cầu mua nhà tái định cư hoặc trường hợp không đủ điều kiện được bố trí tái định cư nhưng khó khăn về nhà ở, thì được lựa chọn mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội mà không phải bốc thăm.
Trường hợp thứ tư, bị thu hồi nhà đất thuộc dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị trong thời gian chờ bố trí tái định cư được UBND thành phố xem xét bố trí tạm cư vào quỹ nhà tái định cư trên địa bàn thành phố. Nếu người bị thu hồi đất tự lo chỗ ở tạm thời thì được thanh toán bằng tiền, mức chi không thấp hơn theo quy định của thành phố.
Bên cạnh đó, thành phố cũng sẽ thực hiện chính sách hỗ trợ thưởng tiến độ bàn giao mặt bằng; hỗ trợ ổn định sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ di chuyển mồ mả.
Người dân được lựa chọn 4 hình thức tái định cư
Khi triển khai dự án cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, UBND thành phố đề xuất các chính sách hỗ trợ người bị thu hồi căn hộ như sau:
Người bị thu hồi căn hộ được lựa chọn 1 trong 4 phương án tái định cư gồm: tái định cư tại chỗ; nhận nhà tái định cư tại địa điểm khác; nhận tiền bồi thường; hoặc kết hợp nhận nhà và tiền.
Căn hộ tái định cư được bố trí có diện tích, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn hoặc tương đương căn hộ cũ.
Trường hợp diện tích tái định cư lớn hơn diện tích được bồi thường thì người dân thanh toán phần chênh lệch cho chủ đầu tư.
Thành phố ưu tiên bố trí quỹ nhà tái định cư tại chỗ đối với người có công; người khuyết tật; hộ nghèo, cận nghèo; gia đình chính sách; hộ gia đình có nhiều thế hệ cùng sinh sống.
Trong thời gian thực hiện dự án, người bị thu hồi căn hộ được chủ đầu tư bố trí nhà tạm cư hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà. Bên cạnh đó, người bị thu hồi căn hộ còn được hỗ trợ di dời, ổn định đời sống và sản xuất kinh doanh.
Được biết, hiện thành phố có khoảng 2.160 nhà chung cư, tập thể cũ, hầu hết được xây dựng từ 50–60 năm trước nên đã xuống cấp. Hiện thành phố đang tập trung kiểm định, đánh giá để xây dựng phương án cải tạo phù hợp, bảo đảm an toàn cho người dân và phòng ngừa rủi ro.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

UBND TP.Hà Nội đang lấy ý kiến dự thảo nghị quyết của HĐND thành phố về mức bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đang được tham vấn ý kiến.
Theo dự thảo, Hà Nội đề xuất tăng mức bồi thường bằng tiền lên bằng 1,5 lần so với quy định khi thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội (cơ quan soạn thảo), giai đoạn từ 1/7/2024 đến nay, khi áp dụng các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án lớn, quan trọng của thủ đô, nhìn chung nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân.
Tuy nhiên, các quy định này cũng tạo ra sự không thống nhất, chưa công bằng với người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi để thực hiện các dự án không phải là dự án lớn, dự án quan trọng của thủ đô.
Từ thực tiễn trên, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho rằng, việc ban hành nghị quyết mới (thực hiện quy định tại điểm c khoản 2 Điều 24 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16) là cần thiết; đảm bảo hành lang pháp lý thống nhất thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố.
Đề xuất này nhằm "không phân biệt" giữa việc thu hồi đất để thực các dự án lớn, quan trọng của thủ đô và các dự án khác. Chính sách mới cũng đảm bảo tính thống nhất, công bằng với người sử dụng đất.
Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội giải thích rằng việc ban hành các chính sách đặc thù về bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất trên địa bàn giúp đáp ứng yêu cầu về huy động nguồn lực đất đai trong kỷ nguyên mới.
Theo cơ quan này, chính sách đặc thù cũng sẽ thúc đẩy đầu tư, phát triển hạ tầng, đẩy nhanh giải phóng mặt bằng và triển khai dự án đúng tiến độ.
Trong năm 2026, Hà Nội đã lên kế hoạch thu hồi hơn 24.800 ha đất cho 3.133 dự án để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng.
Hiện, trên địa bàn thành phố đang giải phóng khoảng 1.428 dự án, trong đó có 1.281 dự án vốn ngân sách và 147 dự án vốn ngoài ngân sách. Trong số này, có 27 công trình, dự án lớn, quan trọng, trọng điểm góp phần tháo gỡ điểm nghẽn, phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô.
Từ nay đến 2030, Thủ đô đã lên kế hoạch thu hồi 24.824 ha đất cho 3.133 dự án để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng. Trong đó, hơn 1.000 dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách để đầu tư các công trình hạ tầng giao thông, trên 350 dự án dùng đất cho giáo dục.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM phối hợp với Trung tâm Climatwords (ĐH Monash Úc) ngày 10.7 tổ chức Hội thảo Khu công nghiệp (KCN) Net Zero.
Phát biểu tại hội thảo, Phó tổng giám đốc Công ty CP đầu tư và phát triển điện Becamex VSIP (BV Power) Nguyễn Lý Trung cho rằng: "KCN có điện xanh không?" là câu hỏi đầu tiên mà nhiều nhà đầu tư nước ngoài đặt ra bởi các dự án đầu tư nước ngoài đều hướng đến sản xuất xuất khẩu".
Theo ông Trung, các KCN nếu không có giải pháp năng lượng xanh, nhà đầu tư hoàn toàn có thể chuyển qua chỗ khác hoặc thậm chí lựa chọn một quốc gia khác. Điều đó cho thấy năng lượng xanh đang trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng trong thu hút đầu tư. Không chỉ điện sạch, các doanh nghiệp còn quan tâm chứng chỉ năng lượng tái tạo (I-REC), các yêu cầu về giảm phát thải carbon và lộ trình đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. "Một tín hiệu rất tích cực là cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) đang ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt, Thông tư số 29/2026 của Bộ Công thương đã mở rộng đối tượng tham gia khi hạ ngưỡng khách hàng tiêu thụ điện lớn từ 200.000 kWh/tháng xuống còn 20.000 kWh/tháng đối với mô hình đấu nối bằng đường dây riêng", ông Trung nói và nhấn mạnh điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng mang lại hai lợi ích lớn. Vừa bổ sung nhanh nguồn điện tại chỗ, góp phần giải quyết tình trạng thiếu điện cục bộ ở các KCN tập trung, vừa giúp giảm tải cho lưới điện truyền tải quốc gia. Chẳng hạn, một dự án điện mặt trời công suất khoảng 50 MW, thời gian thi công chỉ khoảng 6 tháng nên có thể đưa nguồn điện vào vận hành rất nhanh.
Tuy vậy, để dòng điện xanh "chảy" hiệu quả nhất vào KCN, ông Trung kiến nghị cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế DPPA theo hướng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn để nhiều doanh nghiệp trong KCN có thể tiếp cận nguồn điện xanh. "Chúng tôi đề xuất khuyến khích phát triển các nguồn điện tái tạo tại chỗ, kết hợp điện mặt trời mái nhà, các trang trại điện mặt trời liền kề KCN và hệ thống lưu trữ năng lượng nhằm bổ sung nguồn điện cục bộ, giảm áp lực lên lưới điện quốc gia và nâng cao năng lực thu hút đầu tư. Bên cạnh đó, doanh nghiệp mong muốn sớm hình thành hệ sinh thái chuyển đổi xanh đồng bộ, bao gồm dịch vụ kiểm toán năng lượng, kiểm kê khí nhà kính, hỗ trợ doanh nghiệp đạt các chứng chỉ năng lượng tái tạo và từng bước xây dựng tổ chức cấp chứng chỉ trong nước", ông Trung nhấn mạnh và cho biết công ty đang triển khai các hệ thống điện mặt trời mái nhà, trong thời gian tới sẽ phát triển mô hình điện mặt trời trang trại (solar farm) đặt liền kề các KCN, kết hợp hệ thống pin lưu trữ.
Tương tự, đại diện Công ty CP cao su Phước Hòa nói có 10 dự án điện mặt trời với tổng công suất dự kiến 391,3 MWp sẽ cung cấp điện sạch trực tiếp cho các KCN Tân Bình, Bắc Tân Uyên 2, Bắc Tân Uyên 4, Nam Tân Uyên mở rộng, Bàu Bàng 4 và Cụm công nghiệp Bố Lá, đáp ứng một phần nhu cầu phụ tải của khu vực, qua đó góp phần xây dựng các KCN xanh, tự chủ năng lượng. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, đại diện Công ty Phước Hòa kiến nghị sớm hoàn thiện cơ chế DPPA, đặc biệt chính sách cho hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS), thị trường tín chỉ carbon và cơ chế ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy phát triển mô hình KCN Net Zero.
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Phạm Bình An, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, phân tích: Sau khi mở rộng địa giới, TP.HCM hiện có 66 KCN và dự kiến tăng lên 105 khu với tổng diện tích khoảng 50.000 ha. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về chuyển đổi mô hình phát triển.
Ông Trần Văn Bích, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM, bổ sung: TP.HCM sau hợp nhất đã hình thành một không gian công nghiệp quy mô lớn nhất cả nước khi hội tụ đầy đủ 3 trụ cột gồm công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến - chế tạo và công nghiệp nền tảng như năng lượng, hóa dầu, luyện kim, cảng biển. Đây là lợi thế mà rất ít địa phương có được, tạo tiền đề để xây dựng chuỗi giá trị công nghiệp hoàn chỉnh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Cùng với đó, TP còn có dư địa phát triển rất lớn với 116 KCN có tổng diện tích hơn 48.000 ha, rất thuận lợi để quy hoạch các KCN thế hệ mới theo hướng sinh thái, công nghệ cao, phát thải thấp và gắn với hệ thống logistics hiện đại. Tuy nhiên, TP.HCM cũng đang đối mặt với không ít thách thức. Đó là tỷ lệ lấp đầy tại nhiều KCN, quỹ đất sạch ngày càng hạn chế, trong khi hạ tầng logistics vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Đặc biệt, một số ngành công nghiệp nặng vẫn có cường độ phát thải khí nhà kính cao, đòi hỏi quá trình chuyển đổi mạnh mẽ hơn trong thời gian tới…
Khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM cho thấy nhóm ngành phát thải trong KCN của TP chỉ chiếm khoảng 12% giá trị sản xuất công nghiệp, nhóm phát thải cao chiếm gần 18%, trong khi các ngành phát thải trung bình và thấp chiếm gần 70%. "TP chưa có cơ chế chuyên biệt khuyến khích doanh nghiệp giảm phát thải, chưa hình thành cơ chế tài chính xanh hoặc thị trường carbon để tạo động lực đầu tư. Các chính sách hỗ trợ vẫn chủ yếu dựa trên lĩnh vực ưu tiên, chưa gắn với kết quả giảm phát thải hay các tiêu chí ESG và mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Bên cạnh đó, việc thiếu hệ thống đo lường và giám sát phát thải, thiếu tiêu chí định lượng cũng khiến hiệu quả chính sách chưa được đánh giá đầy đủ…", ông Bích phân tích.
Từ đó, Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM đưa ra 8 điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ, gồm chính sách chưa theo kịp mô hình tăng trưởng mới; thiếu cơ chế thúc đẩy đổi mới công nghệ; liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn yếu; chuyển đổi công nghiệp xanh còn chậm; chưa gắn với quy hoạch không gian công nghiệp vùng; hạ tầng công nghiệp và logistics còn nhiều hạn chế; thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao; và cơ chế tài chính cho công nghiệp xanh còn chưa đáp ứng yêu cầu.
Tin Gốc: Thanh Niên

