Ngày 2/4, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia, vay, trả nợ công và đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030. Văn kiện xác định mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới, đồng thời nâng cao vị thế, uy tín quốc tế.
Kết luận đánh giá giai đoạn 2021-2025, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng bình quân khoảng 6,2%/năm, riêng năm 2025 đạt 8,02%; đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu chủ yếu. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, lạm phát, bội chi ngân sách và nợ công được kiểm soát; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Cùng với đó, hạ tầng được đẩy mạnh đầu tư, nhiều dự án lớn được triển khai; an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục được củng cố.
Tuy nhiên, Trung ương cũng chỉ rõ những hạn chế khi nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc, năng suất và sức cạnh tranh còn thấp; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đóng góp chưa nhiều cho tăng trưởng; thể chế, cơ chế, chính sách còn điểm nghẽn, trong khi khả năng huy động nguồn lực, đặc biệt từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài, chưa tương xứng. Một bộ phận người dân còn khó khăn, công tác tổ chức thực thi ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu.
Trên cơ sở đó, Trung ương xác định quan điểm phát triển là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước và huy động sức mạnh của toàn xã hội với mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với ổn định vĩ mô. Nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi và tăng cường giám sát, kiểm tra.
Phương thức quản lý nhà nước được yêu cầu chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời đổi mới tư duy đánh giá pháp luật theo hướng từ “tốt trong văn bản” sang “tốt trong cuộc sống”. Môi trường đầu tư được đặt mục tiêu vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng cao và bền vững.
Về tài chính – ngân sách, Trung ương yêu cầu bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; điều hành bội chi trong phạm vi mục tiêu giai đoạn 2026-2030, bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia.
Công tác quản lý nợ công phải chủ động, chặt chẽ, linh hoạt về công cụ và kỳ hạn vay, gắn với phát triển thị trường vốn, bảo đảm tính bền vững và giảm áp lực huy động vốn. Đầu tư công được định hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các dự án quan trọng quốc gia, liên vùng, tạo lan tỏa lớn; giảm số lượng dự án, khắc phục tình trạng dàn trải và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Kết luận cũng nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước theo chuẩn mực quốc tế, đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn, nâng cao hiệu quả và vai trò dẫn dắt của khu vực này. Kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng, cần được tạo điều kiện tiếp cận bình đẳng các nguồn lực; phát triển các tập đoàn kinh tế lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài được điều chỉnh theo hướng có chọn lọc, chuyển từ ưu đãi thuế sang ưu đãi theo kết quả, chú trọng chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Thị trường trong nước được xác định là điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng, đi cùng các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn và hiệu quả; đồng thời đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng và kênh dẫn vốn.
Các chính sách tài khóa, tiền tệ và vĩ mô khác phải được phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế và kiểm soát lạm phát, với yêu cầu kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Hệ thống ngân hàng tiếp tục được hiện đại hóa, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, nâng cao chất lượng tín dụng và tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước phù hợp với thông lệ quốc tế.
Khuyến khích đầu tư vào công nghệ chiến lược, công nghệ số
Trung ương xác định chuyển mạnh mô hình tăng trưởng sang dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Nền công nghiệp quốc gia được xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành nền tảng như năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, vận tải đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, công nghệ số và sinh học.
Các nút thắt về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được tháo gỡ, hoàn thiện cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược, công nghệ số; phát triển hạ tầng số, dữ liệu và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Nông nghiệp tiếp tục được cơ cấu lại theo chuỗi giá trị, gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và phát triển kinh tế nông thôn. Chính sách đất lúa được nghiên cứu điều chỉnh theo hướng linh hoạt chuyển đổi diện tích kém hiệu quả nhưng vẫn quản lý chặt chẽ để bảo đảm an ninh lương thực. Kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu được thúc đẩy phát triển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Nguồn nhân lực được nâng cao thông qua đổi mới giáo dục, phát triển đào tạo nghề, tăng cường năng lực ngoại ngữ và từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Cả nước phấn đấu đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc, đồng thời tập trung đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, các tuyến đường sắt đô thị, cảng biển, cảng hàng không và hạ tầng số đồng bộ, hiện đại, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tận dụng tối đa công năng sử dụng của trụ sở làm việc hiện có, hạn chế tối đa việc xây dựng mới trụ sở, trung tâm hành chính trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn khó khăn. Chủ trương này nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực công, tránh dàn trải đầu tư và giảm áp lực lên cân đối tài chính quốc gia.
Các cơ quan, địa phương chịu trách nhiệm về sự cần thiết khi quyết định đầu tư xây dựng trụ sở mới, bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, không làm ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển quan trọng khác, đồng thời tăng cường kiểm soát để phòng, chống lãng phí, tiêu cực trong đầu tư công.
Tối nay 14.5, ông Nguyễn Văn Sinh, Chủ tịch UBND xã Ba Động (tỉnh Quảng Ngãi), cho biết khoảng 14 giờ cùng ngày, 2 cặp vợ chồng ở xã Ba Vinh đi làm rẫy keo tại khu vực giáp ranh giữa xã Ba Động và xã Ba Vinh thì bất ngờ gặp mưa giông kèm sấm sét. Hậu quả, chị P.T.A (43 tuổi, ở thôn Nước Y, xã Ba Vinh) bị sét đánh tử vong tại chỗ.
Một số người đi cùng đã đưa thi thể nạn nhân về nhà lo hậu sự.
Cũng trong chiều 14.5, trên địa bàn xã Sơn Linh (Quảng Ngãi) xảy ra vụ sét đánh tử vong 1 người khác. Nạn nhân là anh Đ.V.N (29 tuổi, ở xóm Gò Ngoài, thôn Làng Rê, xã Sơn Linh). Anh N. bị sét đánh trúng khi đang khai thác keo tại thôn Làng Lùng.
Bà Sang Thị Minh Ngọc, Chủ tịch UBND xã Sơn Linh, cho biết thời điểm xảy ra vụ việc, anh N. đang làm keo cùng nhiều người khác. Sau khi sự việc xảy ra, chính quyền địa phương đã cử lực lượng đến hỗ trợ gia đình nạn nhân. “Gia đình nạn nhân thuộc diện khó khăn, địa phương sẽ tổ chức thăm hỏi, động viên và hỗ trợ gia đình lo hậu sự”, bà Ngọc thông tin.
Theo ghi nhận, thời điểm này người dân tại nhiều xã miền núi Quảng Ngãi đang bước vào cao điểm thu hoạch keo lá tràm nên thường xuyên làm việc ngoài trời, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn khi xuất hiện mưa giông.
Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Ngãi cho biết, chiều 14.5, trên địa bàn tỉnh xuất hiện mây đối lưu gây mưa rào và giông tại nhiều khu vực ven biển và miền núi. Cơ quan khí tượng cảnh báo trong cơn giông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh.
Ngành chức năng khuyến cáo người dân hạn chế làm việc ngoài trời, không trú mưa dưới cây lớn hoặc khu vực trống trải khi xuất hiện giông sét nhằm tránh những tai nạn đáng tiếc.
Ông Nguyễn Hồng Sơn (75 tuổi, ở tổ dân phố Hiếu An, phường Bình Định) cho biết sau cơn bão số 13, gia đình bị vỡ kính cửa, tốc mái tôn phía sau và hư hại 2 chậu cây cảnh. Chi phí sửa chữa phần mái và la phông khoảng 600.000 đồng, còn kính cửa gia đình tự khắc phục. Sau bão, địa phương phát giấy kê khai thiệt hại. Ban đầu, ông Sơn nghĩ việc kê khai chỉ nhằm thống kê tình hình, không nghĩ sẽ được hỗ trợ thiệt hại bão lũ.
Đến ngày 24.5, ông được thông báo đến trụ sở thôn Khánh Hòa, cách nhà khoảng 5 km, để nhận tiền hỗ trợ. Theo ông Sơn, ông có mặt từ gần 14 giờ nhưng chờ đến khoảng 16 giờ vẫn chưa nhận được tiền. Do mắc bệnh hiểm nghèo, sức khỏe yếu và phải ngồi chờ lâu dưới thời tiết nắng nóng, ông đành trở về nhà.
Vài ngày sau, người cháu mang tiền hỗ trợ về và cho biết gia đình ông được nhận 2.600 đồng. Tuy nhiên, theo phản ánh, người chi trả chỉ đưa 2.000 đồng với lý do "không có tiền lẻ".
"Gia đình rất bức xúc. Đi lại mấy cây số, ngồi chờ cả buổi chiều chỉ để nhận 2.600 đồng mà cuối cùng còn nhận thiếu", ông Sơn nói.
Theo gia đình ông Sơn, mức hỗ trợ bão lũ được tính theo diện tích thiệt hại, trong đó mỗi chậu cây cảnh hư hỏng được hỗ trợ khoảng 1.300 đồng.
Vợ chồng ông Sơn đều là giáo viên nghỉ hưu gần 20 năm nay. Sau khi nghỉ hưu, vợ chồng ông thường xuyên tham gia thiện nguyện nên rất trân trọng sự quan tâm, hỗ trợ của Nhà nước. Tuy nhiên, điều khiến ông băn khoăn là cách thức tổ chức chi trả.
Tương tự, bà Nguyễn Thị Kim Hoàn (47 tuổi) cho biết cơn bão đã khiến mái nhà của gia đình bị tốc hoàn toàn, nhiều cây cối cũng gãy đổ. Sau khi kiểm tra thực tế, địa phương xác định mức hỗ trợ dành cho gia đình bà là 24.000 đồng.
Bà Hoàn cho biết bà đến điểm nhận hỗ trợ từ 13 giờ nhưng phải chờ đến hơn 17 giờ mới được gọi tên. Theo bà, khi chi trả, người phát tiền thông báo không có 4.000 đồng tiền lẻ nên chỉ đưa 20.000 đồng.
Bà Hoàn kể thêm, khi bà bày tỏ không muốn nhận vì số tiền quá ít so với công sức đi lại và thời gian chờ đợi, người phát tiền nói: "Coi như lấy đổ xăng".
"Nhà cửa hư hỏng sau bão, ai cũng khó khăn. Số tiền hỗ trợ đã ít nhưng cách làm việc như vậy khiến người dân rất tủi thân", bà Hoàn chia sẻ.
Tại tổ dân phố Hiếu An, 1 hộ được hỗ trợ 1.300 đồng, 6 hộ nhận hỗ trợ 2.600 đồng, 4 hộ gia đình nhận hỗ trợ 3.900 đồng. Còn lại được hỗ trợ từ 9.100 đồng đến hơn 1,5 triệu đồng.
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Hồng Vân (78 tuổi, ở tổ dân phố Hiếu An) cho biết gia đình không nhận được bất kỳ khoản hỗ trợ nào dù bị thiệt hại nặng sau bão. Theo bà Vân, phần mái phía sau, nhà bếp cùng khu vực nhà tắm, chuồng gà hư hỏng, gia đình phải bỏ ra gần 2 triệu đồng để sửa chữa.
Song theo phản hồi từ địa phương, căn nhà chính của gia đình bà không bị ảnh hưởng nên phần thiệt hại ở công trình phụ không thuộc diện hỗ trợ.
Trao đổi với PV Thanh Niên, bà Huỳnh Thị Như Hạnh, Phó trưởng phòng Kinh tế hạ tầng và đô thị, UBND phường Bình Định, cho biết việc lập danh sách và hỗ trợ được thực hiện theo đúng quy trình từ khâu kê khai, tổng hợp, thẩm định đến phê duyệt kinh phí.
Theo bà Hạnh, mức hỗ trợ được tính theo quy định của Nhà nước dựa trên diện tích thiệt hại thực tế. Cụ thể đối với cây mai, bảng giá hỗ trợ là 10 triệu đồng/ha. Vì diện tích thiệt hại của một số hộ rất nhỏ nên số tiền hỗ trợ chỉ vài nghìn đồng, như trường hợp hộ ông Sơn được hỗ trợ 2.600 đồng do diện tích thiệt hại chỉ 0,0003 ha.
Đại diện địa phương cũng cho rằng thông tin người dân phải đi xa để nhận vài nghìn đồng là chưa chính xác. Phường đã thành lập 3 tổ công tác trực tiếp xuống các tổ dân phố để chi trả. Riêng trường hợp ông Sơn, do ông không có mặt nên người quen ký nhận thay và tổ công tác đã tự bỏ thêm tiền để làm tròn từ 2.600 đồng thành 3.000 đồng, khác với ý kiến gia đình là chỉ nhận được 2.000 đồng.
Theo UBND phường Bình Định, đây là đợt hỗ trợ đầu tiên dành riêng cho thiệt hại hoa màu với tổng kinh phí hơn 313 triệu đồng cho 401 hộ dân. Dù mức hỗ trợ của một số hộ rất thấp, người dân vẫn phải ký nhận đầy đủ để hoàn thiện hồ sơ quyết toán theo quy định.
330.000 trường hợp, chiếm 95% tổng số ca vi phạm là người đi xe môtô, xe gắn máy, còn lại là ôtô, xe thô sơ và các phương tiện khác. Thống kê theo nồng độ cồn cho thấy phần lớn tài xế vi phạm ở mức 1 (chưa vượt quá 0,25 mg/lít khí thở). Số ca vi phạm ở mức 3 (vượt quá 0,4 mg/lít khí thở) tăng cao.
Ngoài ra, gần 5.700 trường hợp không chấp hành yêu cầu kiểm tra nồng độ cồn, trong đó có 59 tài xế ôtô.
Về độ tuổi, người vi phạm từ 36 đến 55 chiếm tỷ lệ cao nhất với 59,26%. Nhóm thanh niên từ 18 đến 35 tuổi chiếm 28,12%. Người trên 55 tuổi chiếm 12,09% và dưới 18 tuổi chiếm 0,53%.
Thời gian ghi nhận vi phạm nhiều nhất là từ 18h đến 24h, chiếm đến 72,08%. Khung giờ từ 12h đến 18h chiếm 19,12%.
Thời gian qua, cảnh sát giao thông trên toàn quốc đang siết chặt kiểm tra nồng độ cồn bằng cách áp dụng triệt để nguyên tắc "không có vùng cấm, không có ngoại lệ" và liên tục thay đổi phương thức tuần tra. Toàn bộ quá trình dừng xe, đo nồng độ cồn và xử lý đều được ghi âm, ghi hình bằng camera chuyên dụng của ngành để đảm bảo tính minh bạch, ngăn chặn hành vi can thiệp hoặc xin xỏ.
Tuy nhiên, theo Cục CSGT, mức phạt đã tăng, song tình trạng vi phạm nồng độ cồn chưa có xu hướng giảm do thói quen uống rượu bia của một bộ phận người dân. Số lượng vi phạm nồng độ cồn bị phát hiện trong 5 tháng vừa qua còn cao hơn 6 tháng đầu năm 2025 với 310.058 trường hợp. Có ngày cao điểm, lực lượng chức năng lập biên bản xử lý hơn 3.800 trường hợp vi phạm nồng độ cồn.
Theo Nghị định 168/2024, tùy theo mức độ vi phạm nồng độ cồn tài xế ôtô có thể bị phạt từ 6 đến 40 triệu đồng, đồng thời bị tước giấy phép lái xe tối đa 24 tháng. Các trường hợp vi phạm nồng độ cồn ở mức 1 bị trừ 4 điểm, mức 2 bị trừ 10 điểm trực tiếp trên hệ thống giấy phép lái xe. Mức xử phạt với xe máy là từ 2 đến 10 triệu đồng.