Ông Nguyễn Hồng Sơn (75 tuổi, ở tổ dân phố Hiếu An, phường Bình Định) cho biết sau cơn bão số 13, gia đình bị vỡ kính cửa, tốc mái tôn phía sau và hư hại 2 chậu cây cảnh. Chi phí sửa chữa phần mái và la phông khoảng 600.000 đồng, còn kính cửa gia đình tự khắc phục. Sau bão, địa phương phát giấy kê khai thiệt hại. Ban đầu, ông Sơn nghĩ việc kê khai chỉ nhằm thống kê tình hình, không nghĩ sẽ được hỗ trợ thiệt hại bão lũ.
Đến ngày 24.5, ông được thông báo đến trụ sở thôn Khánh Hòa, cách nhà khoảng 5 km, để nhận tiền hỗ trợ. Theo ông Sơn, ông có mặt từ gần 14 giờ nhưng chờ đến khoảng 16 giờ vẫn chưa nhận được tiền. Do mắc bệnh hiểm nghèo, sức khỏe yếu và phải ngồi chờ lâu dưới thời tiết nắng nóng, ông đành trở về nhà.
Vài ngày sau, người cháu mang tiền hỗ trợ về và cho biết gia đình ông được nhận 2.600 đồng. Tuy nhiên, theo phản ánh, người chi trả chỉ đưa 2.000 đồng với lý do “không có tiền lẻ”.
“Gia đình rất bức xúc. Đi lại mấy cây số, ngồi chờ cả buổi chiều chỉ để nhận 2.600 đồng mà cuối cùng còn nhận thiếu”, ông Sơn nói.
Theo gia đình ông Sơn, mức hỗ trợ bão lũ được tính theo diện tích thiệt hại, trong đó mỗi chậu cây cảnh hư hỏng được hỗ trợ khoảng 1.300 đồng.
Vợ chồng ông Sơn đều là giáo viên nghỉ hưu gần 20 năm nay. Sau khi nghỉ hưu, vợ chồng ông thường xuyên tham gia thiện nguyện nên rất trân trọng sự quan tâm, hỗ trợ của Nhà nước. Tuy nhiên, điều khiến ông băn khoăn là cách thức tổ chức chi trả.
Tương tự, bà Nguyễn Thị Kim Hoàn (47 tuổi) cho biết cơn bão đã khiến mái nhà của gia đình bị tốc hoàn toàn, nhiều cây cối cũng gãy đổ. Sau khi kiểm tra thực tế, địa phương xác định mức hỗ trợ dành cho gia đình bà là 24.000 đồng.
Bà Hoàn cho biết bà đến điểm nhận hỗ trợ từ 13 giờ nhưng phải chờ đến hơn 17 giờ mới được gọi tên. Theo bà, khi chi trả, người phát tiền thông báo không có 4.000 đồng tiền lẻ nên chỉ đưa 20.000 đồng.
Bà Hoàn kể thêm, khi bà bày tỏ không muốn nhận vì số tiền quá ít so với công sức đi lại và thời gian chờ đợi, người phát tiền nói: “Coi như lấy đổ xăng”.
“Nhà cửa hư hỏng sau bão, ai cũng khó khăn. Số tiền hỗ trợ đã ít nhưng cách làm việc như vậy khiến người dân rất tủi thân”, bà Hoàn chia sẻ.
Tại tổ dân phố Hiếu An, 1 hộ được hỗ trợ 1.300 đồng, 6 hộ nhận hỗ trợ 2.600 đồng, 4 hộ gia đình nhận hỗ trợ 3.900 đồng. Còn lại được hỗ trợ từ 9.100 đồng đến hơn 1,5 triệu đồng.
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Hồng Vân (78 tuổi, ở tổ dân phố Hiếu An) cho biết gia đình không nhận được bất kỳ khoản hỗ trợ nào dù bị thiệt hại nặng sau bão. Theo bà Vân, phần mái phía sau, nhà bếp cùng khu vực nhà tắm, chuồng gà hư hỏng, gia đình phải bỏ ra gần 2 triệu đồng để sửa chữa.
Song theo phản hồi từ địa phương, căn nhà chính của gia đình bà không bị ảnh hưởng nên phần thiệt hại ở công trình phụ không thuộc diện hỗ trợ.
Trao đổi với PV Thanh Niên, bà Huỳnh Thị Như Hạnh, Phó trưởng phòng Kinh tế hạ tầng và đô thị, UBND phường Bình Định, cho biết việc lập danh sách và hỗ trợ được thực hiện theo đúng quy trình từ khâu kê khai, tổng hợp, thẩm định đến phê duyệt kinh phí.
Theo bà Hạnh, mức hỗ trợ được tính theo quy định của Nhà nước dựa trên diện tích thiệt hại thực tế. Cụ thể đối với cây mai, bảng giá hỗ trợ là 10 triệu đồng/ha. Vì diện tích thiệt hại của một số hộ rất nhỏ nên số tiền hỗ trợ chỉ vài nghìn đồng, như trường hợp hộ ông Sơn được hỗ trợ 2.600 đồng do diện tích thiệt hại chỉ 0,0003 ha.
Đại diện địa phương cũng cho rằng thông tin người dân phải đi xa để nhận vài nghìn đồng là chưa chính xác. Phường đã thành lập 3 tổ công tác trực tiếp xuống các tổ dân phố để chi trả. Riêng trường hợp ông Sơn, do ông không có mặt nên người quen ký nhận thay và tổ công tác đã tự bỏ thêm tiền để làm tròn từ 2.600 đồng thành 3.000 đồng, khác với ý kiến gia đình là chỉ nhận được 2.000 đồng.
Theo UBND phường Bình Định, đây là đợt hỗ trợ đầu tiên dành riêng cho thiệt hại hoa màu với tổng kinh phí hơn 313 triệu đồng cho 401 hộ dân. Dù mức hỗ trợ của một số hộ rất thấp, người dân vẫn phải ký nhận đầy đủ để hoàn thiện hồ sơ quyết toán theo quy định.
Các bị cáo bị truy tố với các tội danh: chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vụ án xảy ra tại quán bar Paris Night, cơ sở kinh doanh giải trí từng thu hút đông khách ở trung tâm thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận cũ.
Theo cáo trạng của Viện KSND khu vực 10 (thuộc Viện KSND tỉnh Lâm Đồng), Mạnh Trọng Toản (chủ quán bar Paris Night), cùng một số quản lý và nhân viên được xác định đã để tình trạng khách sử dụng ma túy diễn ra trong thời gian dài nhằm duy trì hoạt động kinh doanh và tăng doanh thu.
Cáo trạng nêu, trước thời điểm bị bắt quả tang (đêm 1.5.2025), vào chiều thứ hai hằng tuần, Toản thường họp với các quản lý gồm Trần Mạnh Anh và Phạm Hoàng Minh để trao đổi tình hình hoạt động của quán.
Tại các cuộc họp này, dù biết có nhiều khách đến quán sử dụng ma túy, nhóm quản lý không ngăn chặn mà thống nhất cách xử lý theo hướng nhắc nhở kín đáo nhằm tránh ảnh hưởng đến việc kinh doanh.
Theo đó, khi phát hiện khách sử dụng ma túy, nhân viên không được đuổi khách, không báo cơ quan chức năng và không can thiệp công khai, miễn việc sử dụng diễn ra kín đáo để tránh bị phát hiện.
Chỉ đạo này sau đó được truyền xuống các tổ trưởng, nhân viên phục vụ và bảo vệ. Viện KSND khu vực 10 xác định đây là nguyên nhân khiến tình trạng sử dụng trái phép chất ma túy xuất hiện thường xuyên tại quán bar Paris Night trong thời gian dài.
Theo hồ sơ vụ án, đêm 1.5.2025, khi quán bar Paris Night đang hoạt động, nhiều nhân viên phục vụ khu vực VIP, nhân viên chăm sóc khách hàng và bảo vệ được xác định trực tiếp nhìn thấy khách sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không ngăn chặn.
Đến khoảng 23 giờ 15 cùng ngày, lực lượng Công an tỉnh Bình Thuận (cũ) bất ngờ kiểm tra quán bar Paris Night, phát hiện nhiều nhóm khách sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực bàn VIP nên lập biên bản bắt quả tang.
Từ kết quả điều tra, Viện KSND khu vực 10 truy tố 15 bị cáo, gồm chủ quán, quản lý cùng nhiều nhân viên phục vụ, bảo vệ về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm d khoản 2 điều 256 bộ luật Hình sự.
Bốn bị cáo khác bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 điều 249 bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, 18 bị cáo bị truy tố về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 điều 255 bộ luật Hình sự do tham gia, chuẩn bị địa điểm, tập hợp người sử dụng hoặc trực tiếp tổ chức sử dụng ma túy tại quán bar.
Theo cáo trạng, hành vi của các bị can gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Trước đó, như Thanh Niên đã thông tin, rạng sáng 2.5.2025, khoảng 200 cán bộ, chiến sĩ thuộc Công an tỉnh Bình Thuận bất ngờ bao vây quán bar Paris Night để kiểm tra hành chính. Lực lượng chức năng phát hiện nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy.
Thời điểm kiểm tra, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đại tá Huỳnh Ngọc Liêm, Phó giám đốc Công an tỉnh Bình Thuận (nay là Phó giám đốc Công an tỉnh Lâm Đồng), lực lượng công an đã khống chế gần 50 vệ sĩ, vô hiệu hóa hoạt động của quán để phục vụ công tác kiểm tra.
Kết quả xác định có 42/154 khách trong quán dương tính với ma túy.
Mở rộng điều tra, lực lượng công an khám xét khẩn cấp nơi ở của Mạnh Trọng Toản (57 tuổi, ở tỉnh Nghệ An), chủ quán bar Paris Night và thu giữ nhiều đồ vật liên quan đến việc mua bán, cung cấp ma túy.
Ngay trong rạng sáng 2.5.2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận đã bắt khẩn cấp Mạnh Trọng Toản và Trần Mạnh Anh (40 tuổi, ở phường Phú Thủy, thành phố Phan Thiết cũ), người được xác định trực tiếp điều hành hoạt động và liên quan nguồn cung cấp ma túy cho khách tại quán bar.
Đây là những chỉ tiêu quan trọng trong chương trình bảo vệ môi trường giai đoạn 2026 - 2030 được Ban Chấp hành Đảng bộ TP.HCM thông qua tại hội nghị lần thứ 7, diễn ra ngày 6.7.
Theo tờ trình của Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM, việc ban hành chương trình nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương về bảo vệ môi trường, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của TP.HCM sau khi mở rộng địa giới hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Thành phố hướng đến mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững, nâng cao chất lượng môi trường sống, xây dựng đô thị xanh, hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Điểm đáng chú ý của chương trình là xây dựng hệ thống 22 chỉ tiêu làm căn cứ đánh giá kết quả thực hiện đến năm 2030.
Trong đó, thành phố đặt mục tiêu 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các cơ sở thuộc diện bắt buộc phải lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải, khí thải tự động, truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý.
Lĩnh vực giao thông cũng được đặt mục tiêu chuyển đổi mạnh khi toàn bộ xe buýt và taxi sử dụng năng lượng sạch, góp phần giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện chất lượng không khí.
Đối với xử lý nước thải, thành phố phấn đấu khoảng 80% lượng nước thải đô thị được thu gom, xử lý tập trung đạt quy chuẩn trước khi xả ra môi trường.
Ở lĩnh vực chất thải rắn, mục tiêu được đặt ra là trên 90% rác sinh hoạt được tái chế hoặc xử lý bằng công nghệ hiện đại, giảm dần tỷ lệ chôn lấp. Đồng thời, 100% chất thải nguy hại và chất thải y tế phải được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn môi trường.
Chương trình cũng hướng đến việc thay đổi thói quen tiêu dùng khi 100% trung tâm thương mại, siêu thị, khách sạn và khu du lịch sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường để thay thế nhựa dùng một lần.
Ngoài ra, TP.HCM đặt mục tiêu duy trì độ che phủ rừng khoảng 11%; nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu tiêu thụ điện lên khoảng 15 - 18%, hướng đến 25%; đồng thời bảo đảm 100% người dân khu vực đô thị được tiếp cận thông tin, tuyên truyền về bảo vệ môi trường.
Để hoàn thành các mục tiêu trên, TP.HCM sẽ rà soát, phân vùng môi trường trên toàn địa bàn, kiểm soát chặt các nguồn phát thải, từng bước di dời các cơ sở sản xuất không đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường hoặc không còn phù hợp với quy hoạch phát triển đô thị.
Song song đó là đầu tư mở rộng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung; cải tạo các tuyến sông, kênh, rạch ô nhiễm; tăng cường kiểm soát chất lượng không khí và nguồn nước tại các khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao.
Một định hướng lớn được nhấn mạnh là chuyển từ xử lý chất thải sang phát triển kinh tế tuần hoàn. Theo đó, TP.HCM sẽ đầu tư các khu xử lý chất thải tập trung theo công nghệ hiện đại, đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng từ rác, hạn chế tối đa việc chôn lấp trực tiếp.
Thành phố cũng khuyến khích phát triển khu công nghiệp sinh thái, mô hình sản xuất sạch hơn, nông nghiệp tuần hoàn nhằm giảm phát sinh chất thải ngay từ quá trình sản xuất.
Những ngày nhiệt độ ngoài trời vượt 40 độ C, nhiều tài xế công nghệ, công nhân xây dựng hay người bán hàng rong phải tìm bóng râm nghỉ giữa giờ để tránh kiệt sức. Việc tạm dừng công việc giúp họ bảo vệ sức khỏe, nhưng đồng thời cũng đồng nghĩa với việc mất đi một phần thu nhập.
Nghiên cứu "An sinh xã hội thích ứng cho người lao động tiếp xúc với nắng nóng cực đoan" do Viện Phát triển bền vững, Đại học Kinh tế quốc dân phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) thực hiện công bố ngày 19/6, cho thấy 30,3% lao động ngoài trời được khảo sát phải giảm thời gian làm việc do nắng nóng. Trung bình mỗi người mất 2,4 giờ làm việc mỗi ngày, trong đó người bán hàng rong chịu tác động lớn nhất.
Kết quả khảo sát 734 lao động ngoài trời tại Hà Nội và TP HCM cho thấy nắng nóng làm giảm thu nhập của 46,4% người được hỏi. Trong khi đó, 66,2% cho biết phải phát sinh thêm chi phí để thích ứng với thời tiết khắc nghiệt. Nhiều người đang chịu tác động kép: kiếm được ít hơn nhưng lại phải chi tiêu nhiều hơn cho nước uống, đồ bảo hộ chống nắng, thuốc men, thiết bị làm mát cá nhân.
Không chỉ ảnh hưởng đến sinh kế, nắng nóng còn tác động trực tiếp đến sức khỏe người lao động. 94% người được khảo sát cho biết từng gặp ít nhất một vấn đề sức khỏe liên quan đến nắng nóng khi làm việc ngoài trời. Một phần năm số người được hỏi cho biết từng gặp trên bốn vấn đề sức khỏe.
Theo các nhà nghiên cứu, những tác động này diễn ra trong bối cảnh các đợt nắng nóng tại Việt Nam xuất hiện thường xuyên, kéo dài và khắc nghiệt hơn. Phân tích dữ liệu từ 156 trạm khí tượng trên cả nước trong giai đoạn 1961-2025 cho thấy xu hướng nóng lên rõ rệt, không chỉ ở nhiệt độ trung bình mà còn ở tần suất và cường độ các đợt nắng nóng cực đoan.
Tại các đô thị lớn, tác động càng trở nên rõ nét do hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, mật độ xây dựng cao và sự tập trung của lực lượng lao động phi chính thức. Khảo sát cho thấy 45,3% lao động ngoài trời tại Hà Nội phải giảm thời gian làm việc do nắng nóng, cao hơn nhiều so với mức 18,1% tại TP HCM. Đây là dấu hiệu cho thấy các đợt nắng nóng cực đoan đang tạo áp lực ngày càng lớn đối với sinh kế của người lao động ở khu vực đô thị phía Bắc.
Bà Francesca Nardini, Phó trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, cho rằng nắng nóng đang trở thành thách thức mang tính cấu trúc đối với đời sống và sinh kế của người lao động. Trong bối cảnh đó, an sinh xã hội là một trong những công cụ quan trọng nhất để tăng cường khả năng chống chịu, bảo vệ người lao động không chỉ trước các cú sốc kinh tế mà còn trước những rủi ro ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra những khoảng trống đáng kể trong hệ thống an sinh hiện nay. Hơn 41% lao động ngoài trời được khảo sát cho biết chưa từng nhận bất kỳ hình thức hỗ trợ nào. Những người có nhận hỗ trợ chủ yếu tiếp cận các biện pháp cứu trợ khẩn cấp thay vì chính sách phòng ngừa hoặc bảo vệ dài hạn.
Theo PGS.TS Lê Quang Cảnh, trưởng nhóm nghiên cứu, người lao động ngoài trời là nhóm chịu tác động lớn nhất từ nhiệt độ gia tăng nhưng nhiều người vẫn đứng ngoài các cơ chế bảo vệ chính thức. "Nắng nóng đang trở thành một vấn đề an sinh xã hội, không chỉ là vấn đề môi trường hay y tế công cộng", ông nói.
Từ kết quả nghiên cứu, các chuyên gia đề xuất phát triển các trung tâm làm mát công cộng, điểm cung cấp nước uống và hạ tầng "Nước - Nghỉ ngơi - Bóng râm" dành cho lao động ngoài trời. Đồng thời, cần tăng cường cảnh báo nắng nóng, xây dựng quy trình ứng phó theo ngưỡng nhiệt độ và mở rộng các cơ chế an sinh đối với nhóm lao động phi chính thức.