Ngày 16.5, Cơ quan CSĐT Công an TP.Hải Phòng đã ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Lê Ánh Nhật (ca sĩ Miu Lê, 35 tuổi, trú tại TP.HCM) và Vũ Khương An (31 tuổi, trú tại TP.HCM) để điều tra về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Đồng thời, cơ quan điều tra cũng khởi tố bị can đối với Trần Minh Trang (30 tuổi, trú tại Hà Nội) về hành vi không tố giác tội phạm.
Theo điều tra ban đầu, khoảng 12 giờ 30 ngày 10.5, sau khi nhận được tin báo của quần chúng, Công an đặc khu Cát Hải kiểm tra khu vực bãi tắm Tùng Thu và phát hiện có 6 người đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Những người liên quan gồm: Vũ Khương An, Trần Đức Phong, Đoàn Thị Thúy An, Trần Minh Trang, Lê Ánh Nhật (ca sĩ Miu Lê) và Vũ Thái Nam. Qua kiểm tra, tất cả đều dương tính với chất ma túy.
Khám xét khẩn cấp cơ sở lưu trú Titibeach tại khu vực bãi tắm Tùng Thu, lực lượng công an thu giữ 5,35 gram ketamine; 0,4 gram ketamine và cocaine cùng nhiều dụng cụ liên quan việc sử dụng ma túy.
Trước đó, ngày 14.5, Cơ quan CSĐT Công an TP.Hải Phòng đã khởi tố vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy; khởi tố, bắt tạm giam Trần Đức Phong, Vũ Thái Nam và Đoàn Thị Thúy An.
Mở rộng điều tra, công an tiếp tục tạm giữ hình sự Đặng Huy Việt (42 tuổi, trú tại Hà Nội), để điều tra hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Công an TP.Hải Phòng cho biết đang tiếp tục mở rộng điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng liên quan theo quy định pháp luật.
Tin Gốc: Thanh Niên

Ngày 2/4, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, vay, trả nợ công và đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030. Văn kiện xác định mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới, đồng thời nâng cao vị thế, uy tín quốc tế.
Kết luận đánh giá giai đoạn 2021-2025, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tăng trưởng bình quân khoảng 6,2%/năm, riêng năm 2025 đạt 8,02%; đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu chủ yếu. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, lạm phát, bội chi ngân sách và nợ công được kiểm soát; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Cùng với đó, hạ tầng được đẩy mạnh đầu tư, nhiều dự án lớn được triển khai; an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục được củng cố.
Tuy nhiên, Trung ương cũng chỉ rõ những hạn chế khi nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc, năng suất và sức cạnh tranh còn thấp; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo đóng góp chưa nhiều cho tăng trưởng; thể chế, cơ chế, chính sách còn điểm nghẽn, trong khi khả năng huy động nguồn lực, đặc biệt từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài, chưa tương xứng. Một bộ phận người dân còn khó khăn, công tác tổ chức thực thi ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu.
Trên cơ sở đó, Trung ương xác định quan điểm phát triển là bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước và huy động sức mạnh của toàn xã hội với mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với ổn định vĩ mô. Nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi và tăng cường giám sát, kiểm tra.
Phương thức quản lý nhà nước được yêu cầu chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đồng thời đổi mới tư duy đánh giá pháp luật theo hướng từ "tốt trong văn bản" sang "tốt trong cuộc sống". Môi trường đầu tư được đặt mục tiêu vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028, qua đó tạo nền tảng cho tăng trưởng cao và bền vững.
Về tài chính - ngân sách, Trung ương yêu cầu bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương, nâng cao chất lượng nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; điều hành bội chi trong phạm vi mục tiêu giai đoạn 2026-2030, bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia.
Công tác quản lý nợ công phải chủ động, chặt chẽ, linh hoạt về công cụ và kỳ hạn vay, gắn với phát triển thị trường vốn, bảo đảm tính bền vững và giảm áp lực huy động vốn. Đầu tư công được định hướng tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các dự án quan trọng quốc gia, liên vùng, tạo lan tỏa lớn; giảm số lượng dự án, khắc phục tình trạng dàn trải và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Kết luận cũng nhấn mạnh việc tiếp tục đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước theo chuẩn mực quốc tế, đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn, nâng cao hiệu quả và vai trò dẫn dắt của khu vực này. Kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng, cần được tạo điều kiện tiếp cận bình đẳng các nguồn lực; phát triển các tập đoàn kinh tế lớn có năng lực cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài được điều chỉnh theo hướng có chọn lọc, chuyển từ ưu đãi thuế sang ưu đãi theo kết quả, chú trọng chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước. Thị trường trong nước được xác định là điểm tựa quan trọng cho tăng trưởng, đi cùng các chương trình kích cầu tiêu dùng quy mô lớn và hiệu quả; đồng thời đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chuỗi cung ứng và kênh dẫn vốn.
Các chính sách tài khóa, tiền tệ và vĩ mô khác phải được phối hợp chặt chẽ, linh hoạt, bảo đảm cung ứng vốn cho nền kinh tế và kiểm soát lạm phát, với yêu cầu kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống. Hệ thống ngân hàng tiếp tục được hiện đại hóa, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, nâng cao chất lượng tín dụng và tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước phù hợp với thông lệ quốc tế.
Khuyến khích đầu tư vào công nghệ chiến lược, công nghệ số
Trung ương xác định chuyển mạnh mô hình tăng trưởng sang dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Nền công nghiệp quốc gia được xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành nền tảng như năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, vận tải đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, công nghệ số và sinh học.
Các nút thắt về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được tháo gỡ, hoàn thiện cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược, công nghệ số; phát triển hạ tầng số, dữ liệu và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Nông nghiệp tiếp tục được cơ cấu lại theo chuỗi giá trị, gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và phát triển kinh tế nông thôn. Chính sách đất lúa được nghiên cứu điều chỉnh theo hướng linh hoạt chuyển đổi diện tích kém hiệu quả nhưng vẫn quản lý chặt chẽ để bảo đảm an ninh lương thực. Kinh tế biển, kinh tế cửa khẩu được thúc đẩy phát triển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Nguồn nhân lực được nâng cao thông qua đổi mới giáo dục, phát triển đào tạo nghề, tăng cường năng lực ngoại ngữ và từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Cả nước phấn đấu đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc, đồng thời tập trung đầu tư tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến đường sắt đô thị, cảng biển, cảng hàng không và hạ tầng số đồng bộ, hiện đại, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tận dụng tối đa công năng sử dụng của trụ sở làm việc hiện có, hạn chế tối đa việc xây dựng mới trụ sở, trung tâm hành chính trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn khó khăn. Chủ trương này nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực công, tránh dàn trải đầu tư và giảm áp lực lên cân đối tài chính quốc gia.
Các cơ quan, địa phương chịu trách nhiệm về sự cần thiết khi quyết định đầu tư xây dựng trụ sở mới, bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, không làm ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển quan trọng khác, đồng thời tăng cường kiểm soát để phòng, chống lãng phí, tiêu cực trong đầu tư công.
Vũ Tuân
Nguồn: https://vnexpress.net/viet-nam-dat-muc-tieu-vao-nhom-30-nen-kinh-te-lon-nhat-the-gioi-5057828.html

Theo đó, chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và giữ chức Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam nhiệm kỳ 2025 - 2030 đối với ông Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.
Ông Nguyễn Phi Long, Ủy viên Ban Chấp hành T.Ư Đảng, Phó bí thư thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể T.Ư, Phó chủ tịch Ủy ban T.Ư Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì hội nghị.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, ông Nguyễn Phi Long đánh giá cao sự đoàn kết, thống nhất của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng ủy Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam dưới mái nhà chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông Nguyễn Phi Long mong muốn Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam - nơi đại diện tiếng nói của văn nghệ sĩ cả nước phát huy tốt vai trò đoàn kết giới văn nghệ sĩ, đóng góp phản biện xã hội ở các lĩnh vực chuyên môn, bảo vệ quyền, lợi ích của hội viên và là cầu nối cho Đảng, Nhà nước trong đề xuất cơ chế, chính sách phù hợp đối với văn nghệ sĩ.
“Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng ủy Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, cá nhân đồng chí Bí thư, Phó Bí thư cần lấy Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam làm kim chỉ nam cho hoạt động của mình. Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam cần đi đầu trong việc đề xuất tham mưu chính sách, chiến lược, làm những công việc xứng tầm để hiện thực hóa Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam”, ông Nguyễn Phi Long nói.
Phát biểu tiếp thu và nhận nhiệm vụ, ông Đỗ Hồng Quân, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự tín nhiệm, tin tưởng, giao nhiệm vụ của Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể T.Ư.
"Tôi nhận thức sâu sắc rằng việc Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ là sự tín nhiệm và tin tưởng dành cho tôi. Đối với tôi, đó là trọng trách và niềm vinh dự rất to lớn”, ông Đỗ Hồng Quân cho biết.
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 30/6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Báo Dân trí trân trọng giới thiệu Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại hội nghị.
Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương,
Thưa toàn thể các đồng chí đảng viên, cán bộ lão thành, nhân dân cả nước và cộng đồng doanh nghiệp tham dự Hội nghị,
Chúng ta đã nghe đồng chí Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ giới thiệu những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 10 và các ý kiến tham luận. Tôi đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của các cơ quan trong quá trình xây dựng Nghị quyết; ghi nhận những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm tại Hội nghị hôm nay và sự quan tâm theo dõi Hội nghị của đông đảo cán bộ, đảng viên, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và Nhân dân.
Nghị quyết số 10 ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Bộ Chính trị ban hành trên cơ sở tổng kết gần 40 năm thực hiện chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng. Đây là nghị quyết thể hiện sự thay đổi trong tư duy phát triển, không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn mà đã chủ động lựa chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tôi lắng nghe ý kiến góp ý của các địa phương, các ngành và các bạn quốc tế, càng nhận thấy rõ, vốn rất quan trọng, nhưng không phải chỉ có vốn mà rất cần công nghệ nước ngoài, điều này cũng đã được thể hiện trong nội dung Nghị quyết.
Từ Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, qua nhiều lần sửa đổi, hợp nhất và hoàn thiện Luật đầu tư, Việt Nam từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập, xây dựng môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, minh bạch và ổn định hơn. Quá trình đó đã đưa Việt Nam từ một nền kinh tế khép kín, thiếu vốn và phụ thuộc nhiều vào viện trợ quốc tế trở thành nền kinh tế có độ mở cao, hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Từ chỗ thương mại quốc tế chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ vào cuối những năm 1980, đến nay Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm hơn 180% GDP, trong đó FDI chiếm khoảng 75%). Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng, xuất khẩu, công nghiệp hóa, tạo việc làm, tiếp nhận công nghệ và phương thức quản trị hiện đại.
Ngày nay, Việt Nam đã ở một vị thế khác. Chúng ta không còn đặt câu hỏi làm thế nào để có thêm vốn nước ngoài nữa, thay vào đó chúng ta phải trả lời câu hỏi hóc búa hơn: làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế.
Chúng ta cần nhìn thẳng vào những hạn chế trong hoạt động thu hút FDI:
- Tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển và đào tạo nhân lực chất lượng cao chưa đạt như kỳ vọng.
- Nhiều dự án đầu tư nước ngoài vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp, sử dụng nhiều đất đai, lao động phổ thông, năng lượng giá rẻ, tiêu chuẩn môi trường thấp, hoặc dựa nhiều vào ưu đãi, chưa tạo được năng lực mới cho nền kinh tế.
- Một số địa phương còn cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng dự án, dựa trên ưu đãi đất đai, thuế, phí mà chưa chú trọng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm năng lượng, đóng góp ngân sách, chuyển giao công nghệ, phát triển doanh nghiệp trong nước và bảo đảm môi trường, an ninh kinh tế. Nhiều khu vực vẫn còn là vùng trũng trong thu hút đầu tư nước ngoài (như Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, miền núi phía Bắc).
Để khắc phục những hạn chế này, Nghị quyết 10 đặt ra những mục tiêu và yêu cầu cao hơn nhiều: phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đến năm 2030: Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và khả năng tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Đồng thời, đặt ra nhiều chỉ tiêu cụ thể khác.
Để đạt được những mục tiêu cao này đòi hỏi chúng ta phải nhận thức sâu sắc toàn bộ nội dung Nghị quyết để hành động quyết liệt hơn, nhanh hơn và thực chất hơn trong tư duy về đầu tư nước ngoài. Đó là:
- Phải chủ động tiếp cận, lựa chọn, dẫn dắt và sử dụng hiệu quả các dòng vốn quốc tế để bồi đắp năng lực quốc gia.
- Phải tính toàn hiệu quả thu hút bằng năng suất và chất lượng của vốn, trình độ công nghệ sử dụng, số việc làm chất lượng cao, đào tạo kỹ sư, nhà quản trị Việt Nam, kết nối doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng, tạo thêm giá trị gia tăng, tham gia các hoạt động đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
- Chúng ta không chỉ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính mà phải tổ chức theo liên kết cụm ngành, chuỗi giá trị, hệ sinh thái công nghiệp, đổi mới sáng tạo và không gian liên vùng.
- Chúng ta không cạnh tranh bằng cách hạ thấp tiêu chuẩn hay đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh và an ninh kinh tế lấy tăng trưởng trước mắt mà phải cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, hạ tầng hiện đại, nhân lực chất lượng cao, chi phí tuân thủ thấp, dịch vụ công chuyên nghiệp và môi trường kinh doanh ổn định, có thể dự báo.
- Một điều cần phải lưu ý là triển khai Nghị quyết 10 gắn chặt với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ chính trị, nhất là Nghị quyết số 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79 về phát triển kinh tế nhà nước. Mục tiêu của thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là phải biến các nguồn lực đó thành năng lực của nền kinh tế Việt Nam. Muốn vậy, doanh nghiệp tư nhân trong nước phải có điều kiện tham gia, học hỏi và từng bước vươn lên trong chuỗi giá trị. Kinh tế nhà nước phải đầu tư và dẫn dắt ở những lĩnh vực nền tảng, chiến lược, tạo hạ tầng và dư địa phát triển cho các khu vực khác. Cả 3 khu vực kinh tế trên không phát triển rời rạc mà phải hợp tác và cùng cộng hưởng trong một chiến lược chung.
Chính sách thuế tối thiểu toàn cầu (GMT) không còn cho phép các nước hào phóng với ưu đãi thuế nữa, nhất là khi chúng ta muốn thu hút các tập đoàn đa quốc gia toàn cầu. Một số nước trong khu vực ASEAN đẩy mạnh thu hút dự án về bán dẫn, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, điện tử, năng lượng sạch, tài chính quốc tế và đang rất thành công như Singapore, Indonesia, Malaysia, Thái Lan.
Việt Nam cần đầu tư thật tốt cho hạ tầng, năng lượng sạch, nâng cấp chất lượng thể chế, kiến tạo độ tin cậy của chính sách, đào tạo kỹ năng lao động, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường vốn, cải thiện chất lượng hệ sinh thái nhà cung ứng, v.v…
Trên tinh thần đó, tôi đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 08 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác. Chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết lâu dài đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam. Đồng thời, phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ, ngành phải rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh và thị trường. Kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương. Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp. Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và phục vụ doanh nghiệp. Không chỉ giải quyết thủ tục nhanh hơn, mà phải giúp nhà đầu tư dự báo được chính sách, nhìn rõ triển vọng và yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng. Ngược lại, dự án chậm triển khai, sử dụng đất lãng phí, gây ô nhiễm, chuyển giá, vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng cam kết phải bị xử lý nghiêm. Tùy theo mức độ vi phạm, nếu cần thiết thì thu hồi ưu đãi, thu hồi đất hoặc chấm dứt dự án.
Thứ tư, phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết. Các bộ, ngành, địa phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà cung ứng, tăng cường kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và cơ hội hợp tác. Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Không có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, kỹ thuật viên và nhà quản trị giỏi thì không thể thu hút, giữ chân các dự án công nghệ cao, cũng không thể chuyển từ gia công, lắp ráp sang thiết kế, nghiên cứu, sản xuất sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Các địa phương có Khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao phải chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, cụm liên kết và các dự án chiến lược. Phải tạo điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia, người lao động. Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển Khu công nghiệp manh mún, dàn trải, thiếu kết nối, thiếu nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. (Xác định rõ đối tác cần mời, ngành cần thu hút, địa điểm dự án và các điều kiện cần chuẩn bị về đất đai, điện, hạ tầng, nhân lực, chính sách và nhà cung ứng). Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện, khuyến khích để nhà đầu tư mở rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước.
Cần cơ cấu lại và nâng cao năng lực cơ quan xúc tiến đầu tư ở cả Trung ương và địa phương.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Nghị quyết 10 không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho khu vực. Quá trình này phải gắn với an ninh tài chính, an toàn hệ thống, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro về dòng vốn, rửa tiền, đầu cơ, thao túng thị trường.
Thưa các đồng chí và các bạn,
Nghị quyết 10 chỉ đi vào cuộc sống khi được tổ chức thực hiện quyết liệt, thực chất, lấy kết quả làm thước đo. Mỗi bộ, ngành phải có chương trình hành động cụ thể, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm. Mỗi địa phương phải xây dựng chiến lược thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, lợi thế, điều kiện phát triển và khả năng liên kết vùng. Không thể để địa phương nào cũng chạy theo cùng một loại dự án, nơi nào cũng muốn làm cảng biển, sân bay, trung tâm dữ liệu hay khu công nghệ cao mà không dựa trên quy hoạch, nguồn lực, hạ tầng và lợi thế so sánh.
Phải quy hoạch tổng thể, phải phân công, phân cấp rõ ràng, gắn với điều phối hiệu quả. Trung ương định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, điều phối liên vùng, sàng lọc dự án lớn và giám sát thực hiện. Địa phương phải chủ động, sáng tạo, nhưng không được cạnh tranh bằng cách phá vỡ quy hoạch, hạ thấp tiêu chuẩn hoặc đánh đổi lợi ích lâu dài. Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo từng ngành, địa phương; Cần chú trọng thống kê dự án đầu tư nước ngoài về: trình độ công nghệ, giá trị gia tăng, liên kết với doanh nghiệp nội địa, tình trạng sử dụng đất, đóng góp ngân sách, đào tạo nhân lực, môi trường, v.v… Việc đánh giá cán bộ, cơ quan, địa phương trong thu hút đầu tư cũng phải dựa trên các tiêu chí đó.
Thưa các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,
Cảm ơn các bạn đã chọn Việt Nam chúng tôi là quê hương thứ hai, đã sống và làm việc tại Việt Nam, đã đầu tư tại Việt Nam. Các bạn đã hưởng ứng rất tích cực Nghị quyết 10 của chúng tôi mặc dù nghị quyết này mới ban hành ngày 8/6/2026, đến nay mới được 22 ngày và chính thức triển khai ngày hôm nay. Tôi nghe những phát biểu và đặc biệt là cũng còn rất nhiều các nhà đầu tư khác chưa phát biểu ở đây. Nhưng tôi đã cảm nhận được Nghị quyết này cũng đã đáp ứng được các nhu cầu, cũng như giải quyết được một số những kiến nghị của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay. Cảm ơn các bạn về những đề xuất rất thực tế để triển khai. Tôi đề nghị Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên, Bộ Khoa học và Công nghệ và các địa phương có chương trình để phối hợp, triển khai nghiên cứu những đề xuất, kiến nghị của các nhà đầu tư nước ngoài. Chúng tôi rất hoan nghênh các bạn tiếp tục đầu tư tại Việt Nam, hợp tác cùng phát triển, lợi ích cùng chia sẻ hài hòa. Chúng tôi đảm bảo môi trường thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh, làm việc và sống an toàn, thành công nhất ở Việt Nam.
Thưa các đồng chí và các bạn,
Chúng ta bước vào giai đoạn phát triển thế hệ mới với một tâm thế mới. Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra giá trị mới. Chúng ta hoan nghênh các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam làm ăn lâu dài, tuân thủ pháp luật, tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động, cộng đồng và đất nước, cùng chia sẻ công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tinh thần của Nghị quyết 10 rất rõ: thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Tôi đề nghị toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong, ngoài nước phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, biến chủ trương đúng đắn thành những dự án tốt, doanh nghiệp mạnh, chuỗi giá trị mới, việc làm chất lượng cao và năng lực mới cho đất nước.
Đó là cách thiết thực nhất để tiếp tục viết nên một chương mới của công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển; đưa Việt Nam tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tin Gốc: Dân Trí

