Một tháng qua, Hoàng Hùng Anh, học sinh lớp 12D2, Trường Tiểu học, THCS và THPT FPT Bắc Ninh, liên tục nhận thư báo trúng tuyển và học bổng từ gần 10 trường đại học cho ngành AI và Công nghệ thông tin.
Trong đó, học bổng Trái tim sư tử của Đại học Anh quốc Việt Nam (BUV) lớn nhất với hơn một tỷ đồng. Để giành được suất miễn học phí chương trình Khoa học dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo do Đại học Stirling (Anh) cấp bằng và hỗ trợ chi phí sinh hoạt, Hùng Anh đã vượt qua hàng trăm ứng viên.
Từng tham gia hàng chục cuộc thi lập trình trong nước và quốc tế, đặt chân đến 5 quốc gia ở châu Á và Âu, nam sinh cho hay từ lâu mong muốn được ra nước ngoài học tập.
“Nhưng điều kiện cá nhân và gia đình hiện tại không cho phép, nên em tìm kiếm cơ hội tại những môi trường quốc tế ngay trong nước”, Hùng Anh chia sẻ.
Hùng Anh yêu thích lập trình từ khi vào lớp 6, ở FPT School Hà Nội. Được thầy cô truyền cảm hứng qua các sản phẩm thực tế như app hay web, lại được bố mẹ mua cho một chiếc laptop, nam sinh say sưa tự học môn này.
Chỉ sau nửa năm, Hùng Anh tham gia thi đấu giải lập trình đầu tiên – Coding Olympiad, giành huy chương bạc cấp quốc gia.
Đam mê vừa chớm nở thì biến cố gia đình ập đến cùng đại dịch Covid-19. Bản thân Hùng Anh phải trải qua những đợt điều trị nội trú dài ngày tại bệnh viện, sức khỏe suy giảm. Kinh tế cả nhà sa sút, nam sinh tiếp tục theo học được ở FPT nhờ hỗ trợ của trường. Dù vậy, cậu học trò từng rơi vào chán nản, bỏ tham gia các giải lập trình, tìm dự án trên mạng để nhận làm, kiếm tiền tiêu vặt.
Đến lớp 10, mẹ chuyển về làm ở Bắc Ninh, Hùng Anh cũng chuyển theo. Với sự đồng hành của thầy cô ở trường phổ thông FPT Bắc Ninh, nam sinh tiếp tục theo đuổi đam mê. Hùng Anh có thể học ở bất kỳ đâu dù chiếc laptop đã cũ, cấu hình yếu, được trang bị từ năm lớp 6. Những khi máy trục trặc, em phải xoay xở để không gián đoạn việc học.
Năm đó, chỉ trong học kỳ II, Hùng Anh tham gia hơn 10 giải thi đấu trong và ngoài nước. Có ngày, buổi sáng tham dự Hội thi Tin học trẻ khu vực miền Bắc, tối em ra sân bay đi dự một cuộc thi khác.
Đáng nhớ nhất là kỳ thi Olympic STEM quốc tế lần thứ 4 diễn ra tại Hà Lan với hơn 22.000 học sinh ở 127 quốc gia. Hùng Anh giành huy chương vàng, lọt top 3 quốc tế khối 10 hạng mục Lập trình. Nam sinh đã vượt qua 30 thử thách trong việc lựa chọn và sử dụng các ngôn ngữ lập trình như Python, java script, sử dụng 100% tiếng Anh trong bài thi.
Đó cũng là lần đầu Hùng Anh đặt chân tới châu Âu, được giao giúp đỡ các em trong đoàn, bất ngờ được thầy dẫn đoàn đăng ký thi thêm môn Toán rồi đạt huy chương đồng ở môn này.
Nam sinh sau đó còn tới Singapore, Bỉ, Pháp và Đức nhờ được chọn đi thi đấu. Tính đến nay, Hùng Anh đã tham gia hàng chục kỳ thi lớn nhỏ, nhẩm tính “không dưới 30” giải thưởng.
Dù vậy, Hùng Anh cố gắng giữ kết quả học tập ở trường đạt mức giỏi bởi đây là điều kiện để nhà trường lựa chọn em đi thi. Ở kỳ I lớp 11, do điểm trên lớp không tốt, em bị hạn chế thi đấu để tập trung trở lại việc học.
Đồng hành cùng Hùng Anh suốt hơn 5 năm, thầy Nguyễn Tài Sỹ, Tổ trưởng tổ STEM – Công nghệ, FPT School Bắc Ninh, đánh giá học trò có tư duy logic rất tốt, khả năng tự học cao và rất kiên trì theo đuổi mục tiêu.
“Tôi nhớ có những cuộc thi quốc tế yêu cầu chuẩn bị trong thời gian ngắn nhưng Hùng Anh bình tĩnh và thích nghi rất nhanh”, thầy Sỹ nói. “Đây là phẩm chất không phải học sinh nào cũng có”.
Ngoài các giải thưởng về lập trình, Hùng Anh từng nhiều lần đạt huy chương vàng Tin học quốc tế HKICO tại Singapore, giải nhì học sinh giỏi cấp tỉnh môn Tin học, giải ba cuộc thi nghiên cứu khoa học cấp quốc gia.
Các giải thưởng này giúp Hùng Anh có lợi thế khi đăng ký xét tuyển vào các trường đại học có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Nam sinh tự nhận mình gặp may mắn dù từng phải xin dời buổi phỏng vấn học bổng Trái tim sư tử vì trùng lịch thi giữa kỳ, đồng thời phải xoay xở cùng lúc cho các giải đấu STEM, lập trình và cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia.
Với chiếc máy tính cũ từ năm lớp 6, Hùng Anh sắp bước chân vào môi trường học tập mới với hy vọng phát triển bản thân nhiều hơn. Chàng trai cũng mong sau này có cơ hội học lên cao và làm việc ở nước ngoài.
Tôi từng nghe một người mẹ thở dài: "Không cho con dùng điện thoại thì sợ tụt lại việc học, mà cho dùng thì sợ nó lạc vào những thứ mình không kiểm soát nổi". Đó có lẽ là nỗi niềm không của riêng ai.
Trong những ngày gần đây, đề xuất hạn chế, thậm chí cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội được đưa ra, xuất phát từ những lo ngại rất thật: bắt nạt trực tuyến, lừa đảo, xâm hại, nghiện mạng… Những điều ấy không còn là cảnh báo xa xôi, mà đã hiện diện trong đời sống mỗi gia đình.
Song, nhìn kỹ, ta sẽ thấy mình đang đứng trước một nghịch lý: chính những nền tảng mà người lớn muốn "cấm", lại đang là công cụ học tập quen thuộc của trẻ. Lớp học hôm nay không còn gói gọn trong bốn bức tường. Bài tập được giao qua Zalo, thảo luận nhóm trên Facebook, tài liệu chia sẻ qua các ứng dụng nhắn tin.
Một học sinh nếu bị "cắt mạng", đôi khi cũng đồng nghĩa bị cắt khỏi dòng chảy học tập. Vậy nên, câu chuyện không còn đơn giản là "có nên cấm hay không" mà là câu chuyện của một thời đại mà ranh giới giữa học và chơi, giữa hữu ích và độc hại, không còn rõ ràng.
Tôi nghĩ, nỗi lo của người lớn là có thật. Nhưng phản xạ "cấm" nhiều khi lại là một phản xạ bản năng: khi không kiểm soát được, ta muốn loại bỏ. Thực ra, với không gian số, điều đó gần như không thể.
Trẻ em hôm nay không lớn lên trong một thế giới "có Internet", mà là một thế giới "chính là Internet". Các em không bước vào không gian số, mà đang sống trong đó. Vì vậy cấm đoán không phải là dựng một hàng rào, mà giống như yêu cầu các em không bước ra khỏi một thực tại vốn đã gắn liền với mình.
Và điều đáng nói hơn những gì bị cấm tuyệt đối, thường lại trở nên hấp dẫn hơn. Một đứa trẻ không được giải thích, không được trang bị, chỉ đơn thuần bị ngăn lại, rất dễ tìm cách đi vòng. Dùng tài khoản khác, mượn thiết bị khác, hoặc đơn giản là giấu đi. Khi đó, người lớn không còn kiểm soát được, mà trẻ cũng không có kỹ năng để tự bảo vệ mình.
Theo đó, nguy cơ không biến mất mà chỉ trở nên khó thấy hơn. Thực tế, nếu cấm đoán một cách cứng nhắc, chúng ta còn đối diện với một hệ quả khác: bất bình đẳng.
Một học sinh ở thành phố có nhiều thiết bị, nhiều kênh tiếp cận, có thể dễ dàng tìm cách thay thế. Nhưng một học sinh ở vùng khó khăn, phụ thuộc hoàn toàn vào những nền tảng phổ biến để nhận bài, trao đổi với thầy cô, có thể bị "rơi ra ngoài" chỉ vì một quyết định hành chính. Khi đó, câu chuyện không còn là bảo vệ trẻ em, mà là vô tình tạo thêm khoảng cách.
Nhưng nếu không cấm, thì làm gì? Có lẽ, câu trả lời không nằm ở một biện pháp duy nhất, mà ở một cách tiếp cận khác: từ "bảo vệ bằng rào cản" sang "bảo vệ bằng năng lực". Thay vì cố gắng kiểm soát mọi thứ, hãy giúp trẻ biết cách tự kiểm soát.
Một đứa trẻ biết nhận diện lừa đảo, biết phân biệt thông tin thật/giả, biết dừng lại khi thấy mình đang bị cuốn vào những nội dung vô nghĩa… sẽ an toàn hơn rất nhiều so với một đứa trẻ chỉ đơn thuần bị cấm. Điều này không thể đến từ một bài giảng đạo đức, mà cần được thực hành.
Trong gia đình, cha mẹ không chỉ là người giám sát, mà cần trở thành người đồng hành. Không phải là "đừng dùng", mà là "con đang xem gì vậy?", "con nghĩ gì về điều này?". Một cuộc trò chuyện mở, nhiều khi hiệu quả hơn cả một ứng dụng kiểm soát.
Ở trường học, kỹ năng số không nên chỉ là một khái niệm, mà cần trở thành một phần của giáo dục thực chất: cách ứng xử khi bị bình luận tiêu cực, cách bảo vệ thông tin cá nhân, cách quản lý thời gian sử dụng.
Về phía chính sách, thay vì đặt toàn bộ trách nhiệm lên gia đình và nhà trường, cần buộc các nền tảng công nghệ phải có trách nhiệm hơn: chế độ tài khoản dành riêng cho trẻ em, kiểm soát nội dung, giới hạn thời gian, giảm các thuật toán gây nghiện. Bởi suy cho cùng, một đứa trẻ không thể chống lại cả một hệ thống được thiết kế để giữ chân người dùng.
Có một câu hỏi mà tôi nghĩ chúng ta nên tự đặt ra: chúng ta muốn con mình "không dùng mạng", hay muốn con mình "biết dùng mạng"? Hai điều đó rất khác nhau.
Theo đó, một đứa trẻ không dùng mạng có thể an toàn trong một giai đoạn. Nhưng một đứa trẻ biết dùng mạng - biết chọn lọc, biết dừng lại, biết tự bảo vệ - mới có thể đi đường dài trong một thế giới mà công nghệ là điều không thể tách rời.
Chúng ta không thể đi thay con cả đời, nhưng chúng ta có thể dạy con cách đi. Có thể, thay vì hỏi "có nên cấm hay không", chúng ta nên hỏi một câu khác: con mình đang ở đâu trong thế giới số và mình đã ở đó cùng con chưa?
Điều trẻ cần không phải là một lệnh cấm, mà là một người lớn đủ kiên nhẫn để ngồi xuống, lắng nghe và đi cùng. Trong một thế giới ngày càng nhiều kết nối, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là tắt đi một cánh cửa, mà là dạy nhau cách bước qua nó một cách an toàn.
Sáng nay 30.6, Trường ĐH Hoa Sen tổ chức lễ ra mắt Viện Đo lường khoa học và Chính sách quản trị nghiên cứu (Institute for Scientometrics and Research Administration Policies - SARAP Institute).
Được biết, Viện SARAP có định hướng trở thành đơn vị nghiên cứu và tư vấn chính sách chuyên sâu về đo lường khoa học, chính sách quản trị nghiên cứu, liêm chính nghiên cứu, xếp hạng ĐH và phát triển học thuật trong giáo dục ĐH.
PGS-TS Nguyễn Hữu Huy Nhựt, Hiệu trưởng Trường ĐH Hoa Sen, cho biết Viện SARAP ra đời trong bối cảnh giáo dục ĐH thế giới cũng chưa có nhiều đơn vị, tổ chức xây dựng mô hình kết hợp cả 3 trụ cột đo lường khoa học, liêm chính nghiên cứu và chính sách nghiên cứu. Đặc biệt tại Việt Nam, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng quốc gia. Các cơ sở giáo dục ĐH ngày càng giữ vai trò then chốt trong tạo lập tri thức mới, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
"Viện hướng đến việc đóng góp các luận cứ khoa học, các giải pháp quản trị và các mô hình phát triển phù hợp với bối cảnh Việt Nam và xu thế quốc tế", PGS-TS Huy Nhựt cho hay.
Hiệu trưởng Trường ĐH Hoa Sen cũng nhấn mạnh Viện SARAP của trường cần giúp xã hội hiểu đúng về các bảng xếp hạng như công cụ cải tiến chất lượng thay vì mục tiêu để theo đuổi bằng mọi giá. Theo đó, trường ĐH mạnh không thể chỉ được xây dựng bằng thứ hạng, mà phải dựa trên chất lượng đào tạo thật, chất lượng nghiên cứu thật, dữ liệu thật, liêm chính thật và đóng góp thật cho xã hội.
Viện SARAP có các chương trình nghiên cứu: Chính sách quản trị nghiên cứu khoa học; đo lường khoa học; xếp hạng ĐH; liêm chính và tuân thủ trong nghiên cứu khoa học.
Bên cạnh hoạt động nghiên cứu, Viện SARAP sẽ cung cấp các dịch vụ khoa học và công nghệ như tư vấn, xây dựng chính sách phát triển nghiên cứu khoa học và kiểm soát liêm chính nghiên cứu; đánh giá thành tựu nghiên cứu khoa học theo chuẩn quốc tế cho các trường ĐH và tổ chức; tư vấn chiến lược và giải pháp chuyển giao các sản phẩm nghiên cứu khoa học; đào tạo, cấp chứng nhận về liêm chính nghiên cứu và các vấn đề khác.
Đồng hành cùng Viện SARAP là các chuyên gia, nhà khoa học, cố vấn từ các trường ĐH, trung tâm nghiên cứu trong và ngoài nước.
Theo PGS-TS Nguyễn Hữu Huy Nhựt, sắp tới, Viện SARAP dự kiến công bố các nghiên cứu về đánh giá thành tựu nghiên cứu khoa học của Việt Nam đối với các mục tiêu trong Nghị quyết số 57-NQ/TW trên cơ sở đối sánh với các quốc gia trên thế giới. Đồng thời, viện này đang triển khai các nghiên cứu về hệ thống xếp hạng ĐH, chỉ số đo lường khoa học phục vụ công tác quản trị ĐH, hoạch định chính sách.
Ngày 4/6, thông tin từ Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tỉnh Đắk Lắk, đơn vị đã có báo cáo kết quả thẩm định kinh phí chi trả tiền dạy thêm giờ còn nợ giáo viên của các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh.
Qua rà soát, nhiều địa phương nợ tiền dạy thêm giờ của giáo viên tại các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn từ năm học 2020-2021 đến năm học 2024-2025, với số tiền hơn 38 tỷ đồng.
Theo Sở GD&ĐT tỉnh Đắk Lắk, qua báo cáo, có 23/33 địa phương đã chủ động cân đối ngân sách địa phương để chi trả tiền dạy thêm giờ còn nợ, không có nhu cầu đề nghị ngân sách cấp trên hỗ trợ.
Còn lại 9/33 xã, phường chưa cân đối đủ nguồn kinh phí để trả tiền nợ dạy thêm giờ của giáo viên hơn 14,4 tỷ đồng và cần cấp bổ sung kinh phí từ ngân sách tỉnh.
Để bảo đảm quyền lợi chính đáng của đội ngũ giáo viên, Sở GD&ĐT đề nghị Sở Tài chính tham mưu UBND tỉnh Đắk Lắk quyết định bố trí kinh phí chi trả nhằm giải quyết dứt điểm tình trạng nợ kéo dài.
Trước đó, Sở GD&ĐT tỉnh Đắk Lắk kiến nghị các xã, phường khắc phục tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ tại các cơ sở giáo dục, bảo đảm nguyên tắc "có học sinh phải có giáo viên đứng lớp" nhưng phải phù hợp thực tiễn địa phương, không lãng phí nguồn lực giáo viên, đáp ứng yêu cầu việc dạy học 2 buổi/ngày.
Sở GD&ĐT tỉnh Đắk Lắk kiến nghị Sở Nội vụ tham mưu UBND tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh để xem xét về việc bố trí, bổ sung biên chế giáo viên, nhân viên còn thiếu so với định mức quy định.
Trường hợp chưa bổ sung kịp thời biên chế giáo viên còn thiếu, kiến nghị Sở Nội vụ tham mưu UBND tỉnh giao chỉ tiêu hợp đồng lao động theo Nghị định 111 để các cơ sở giáo dục kịp thời bổ sung đội ngũ giáo viên, nhân viên theo quy định.