ThS.BS Phạm Thị Mộng Đào, Trưởng khoa Thận Nhân tạo, Bệnh viện Gia An 115, cho biết mỡ máu cao không chỉ gây hại cho hệ tim mạch mà còn ảnh hưởng đáng kể đến chức năng thận, nhất là khi kèm các rối loạn chuyển hóa như tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng acid uric hoặc béo phì.
Mỡ máu cao thúc đẩy quá trình xơ vữa mạch máu, trong đó có động mạch thận, làm giảm lưu lượng máu nuôi thận và ảnh hưởng dần đến chức năng lọc. Ngoài ra, rối loạn chuyển hóa kéo dài cũng làm tăng nguy cơ tổn thương vi mạch và gây viêm mạn tính mạch máu tại thận.
Quá trình này thường diễn ra âm thầm trong thời gian dài, người bệnh khó nhận biết sớm nếu không kiểm tra định kỳ. Phần lớn trường hợp tổn thương thận giai đoạn sớm hầu như không có biểu hiện rõ ràng. Nhiều người chỉ phát hiện khi chức năng thận đã giảm hoặc suy thận giai đoạn cuối.
Vì vậy, ngay cả khi chưa có triệu chứng, người có mỡ máu cao – đặc biệt nếu kèm tăng huyết áp, tăng đường huyết, tăng acid uric hoặc thừa cân – nên kiểm tra sức khỏe định kỳ để tầm soát sớm nguy cơ tổn thương thận.
Những dấu hiệu nào cho thấy thận có thể đang bị ảnh hưởng?
Ở giai đoạn đầu, bệnh thận thường diễn tiến khá “im lặng”. Khi tổn thương rõ hơn, người bệnh có thể gặp các biểu hiện như mệt mỏi kéo dài; phù chân, mí mắt hoặc mặt; tiểu đêm nhiều lần; huyết áp khó kiểm soát. Ngoài ra, nước tiểu có bọt nhiều hoặc sẫm màu bất thường
Nếu xuất hiện các dấu hiệu trên, người bệnh nên đi khám sớm.
Ngoài xét nghiệm máu đánh giá chức năng thận như creatinine, eGFR, việc kiểm tra nước tiểu định kỳ – đặc biệt là đạm trong nước tiểu (protein niệu) – rất quan trọng để phát hiện sớm tổn thương thận.
Ai cần tầm soát thận sớm hơn khi bị mỡ máu cao?
Người có mỡ máu cao kèm theo tăng huyết áp, tăng đường huyết hoặc đái tháo đường, tăng acid uric, thừa cân – béo phì, có tiền sử bệnh thận hoặc bản thân từng sinh non, nhẹ cân khi sinh, nên được tầm soát sớm và theo dõi thường xuyên hơn.
Đây là nhóm có nguy cơ cao xuất hiện tổn thương thận do hội chứng chuyển hóa và các bệnh lý mạch máu đi kèm.
Làm gì để bảo vệ thận khi đã bị mỡ máu cao?
Điều quan trọng là kiểm soát toàn diện các yếu tố nguy cơ chuyển hóa, không chỉ riêng mỡ máu.
Người bệnh nên điều chỉnh chế độ ăn theo hướng giảm chất béo xấu, hạn chế đường và thực phẩm chế biến sẵn, tăng rau xanh, cá và các loại hạt. Đồng thời, duy trì vận động đều đặn, kiểm soát cân nặng và ngủ đủ giấc.
Nếu được chỉ định thuốc hạ mỡ máu, cần dùng đúng hướng dẫn và tái khám định kỳ. Ngoài ra, kiểm soát tốt huyết áp, đường huyết và acid uric cũng góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chức năng thận lâu dài.
Dùng thuốc hạ mỡ máu có ảnh hưởng đến thận không?
Phần lớn thuốc chữa hạ mỡ máu, đặc biệt là statin, được đánh giá là an toàn đối với thận khi sử dụng đúng chỉ định và có theo dõi phù hợp. Ở nhiều trường hợp, kiểm soát tốt mỡ máu còn giúp giảm nguy cơ tổn thương mạch máu và làm chậm tiến triển bệnh thận.
Tuy nhiên, người bệnh không nên tự ý dùng thuốc hoặc tự ngưng thuốc. Trong quá trình điều trị, cần tái khám định kỳ để theo dõi chức năng gan, thận và các chỉ số liên quan. Một số tác dụng phụ hiếm gặp như đau cơ nhiều, mệt mỏi bất thường hoặc nước tiểu sẫm màu cần được lưu ý và đi khám sớm để được đánh giá kịp thời.
Mỡ bụng không chỉ ảnh hưởng đến vóc dáng mà còn làm tăng nguy cơ béo phì, tiểu đường và bệnh tim mạch. Đây cũng là vùng mỡ khó giảm nhất dù đã điều chỉnh chế độ ăn uống.
Tuy nhiên, một thói quen đơn giản sau bữa ăn có thể hỗ trợ kiểm soát lượng mỡ tích tụ ở vòng eo, theo trang NDTV (Ấn Độ).
Một nghiên cứu đăng trên tạp chí Scientific Reports vào năm 2025 cho thấy đi bộ với tốc độ bình thường trong khoảng 10 phút sau mỗi bữa ăn giúp làm chậm sự gia tăng đường huyết trong 2 giờ tiếp theo.
Tác động này góp phần hạn chế quá trình tích trữ chất béo trong cơ thể, đặc biệt ở vùng bụng.
Hoạt động tiêu hóa ảnh hưởng trực tiếp đến cách cơ thể xử lý và sử dụng năng lượng từ thực phẩm.
Đi bộ nhẹ nhàng sau bữa ăn giúp thức ăn di chuyển thuận lợi hơn trong hệ tiêu hóa, từ đó hỗ trợ cơ thể hấp thu và sử dụng dinh dưỡng hiệu quả.
Thói quen này còn giúp giảm cảm giác đầy bụng, chướng hơi sau khi ăn. Đây là tình trạng thường xuất hiện khi ăn quá nhanh hoặc kết hợp thực phẩm chưa phù hợp.
Nghiên cứu đăng trên International Journal of General Medicine vào năm 2011 khẳng định đi bộ sau bữa ăn có thể hỗ trợ giảm cân. Các chuyên gia cho biết nên chờ khoảng 10 phút sau khi ăn rồi mới bắt đầu đi bộ để hệ tiêu hóa có thời gian hoạt động ổn định hơn. Thói quen này đặc biệt có lợi cho người mắc tiểu đường hoặc tiền tiểu đường vì giúp hạn chế tình trạng tăng đường huyết đột ngột sau bữa ăn.
Sau khi ăn, cơ thể bắt đầu phân giải và sử dụng các chất dinh dưỡng từ thực phẩm. Nếu năng lượng dư thừa không được sử dụng hiệu quả, cơ thể sẽ chuyển thành mỡ dự trữ.
Đi bộ sau bữa ăn giúp duy trì hoạt động trao đổi chất, hỗ trợ cơ thể xử lý nguồn năng lượng vừa nạp vào.
Nhờ đó, lượng chất béo tích tụ ở vùng bụng có thể được kiểm soát tốt hơn khi duy trì đều đặn.
Cảm giác đầy hơi hoặc tích tụ khí trong đường ruột thường xuất hiện sau bữa ăn. Đi bộ nhẹ nhàng giúp kích thích nhu động ruột hoạt động hiệu quả hơn, từ đó giảm cảm giác khó chịu và nặng bụng.
Đi bộ là hình thức vận động đơn giản, dễ thực hiện và phù hợp với hầu hết mọi người.
Nghiên cứu đăng trên BMC Cardiovascular Disorders vào năm 2025 cho thấy đi bộ sau bữa ăn giúp tăng cường tuần hoàn máu trong cơ thể. Thói quen này còn hỗ trợ kiểm soát các rối loạn chuyển hóa, yếu tố thường đi kèm với tình trạng mỡ bụng kéo dài.
Theo bà Tapasya Mundhra, chuyên gia dinh dưỡng lâm sàng và chuyên gia dinh dưỡng toàn diện (Ấn Độ), đi bộ sau bữa ăn giúp ngăn đường huyết tăng cao và cải thiện quá trình trao đổi chất, từ đó có thể làm giảm tích tụ mỡ theo thời gian.
Để đạt hiệu quả tốt, nên chờ khoảng 10 đến 15 phút sau khi ăn rồi bắt đầu đi bộ với tốc độ chậm đến vừa phải. Thời gian đi bộ lý tưởng là từ 10 đến 15 phút. Các chuyên gia cũng khuyến cáo không nên tập luyện cường độ cao ngay sau bữa ăn vì có thể gây khó chịu cho hệ tiêu hóa.
Những lợi ích ban đầu có thể xuất hiện sau 1 đến 2 tuần duy trì đều đặn. Sự thay đổi rõ hơn ở vùng bụng thường được nhận thấy sau khoảng 4 đến 6 tuần khi kết hợp cùng chế độ ăn cân đối và uống đủ nước mỗi ngày.
Tại BV K, BN được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô vảy (loại ung thư khởi phát từ tế bào bề mặt của lưỡi) ở bờ lưỡi bên phải. Khối sùi loét ở bờ lưỡi phải có kích thước 2 x 2,5 cm; kích thước u 26 x 10 mm. Ung thư chưa di căn hạch, chưa thâm nhiễm các vùng lân cận.
TS Ngô Xuân Quý, Trưởng khoa Ngoại Đầu - cổ (BV K), thông tin: Ở bệnh ung thư lưỡi, các tế bào ung thư ít đáp ứng với xạ trị hay hóa chất, nên phẫu thuật có vai trò lớn trong điều trị. Trường hợp BN nói trên, bên cạnh cắt u và toàn bộ vùng liên quan đến khối u, phẫu thuật viên còn vét hạch cổ phải, nhằm loại bỏ triệt để các hạch bạch huyết xung quanh có nguy cơ bị tế bào ung thư di căn, ngay cả khi trên hình ảnh siêu âm chưa nhìn thấy rõ tổn thương. Ung thư lưỡi giai đoạn bệnh khu trú, nếu được điều trị đúng phác đồ thì tỷ lệ chữa khỏi rất cao: 70 - 80%.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của phẫu thuật ung thư lưỡi là cấu trúc giải phẫu. Lưỡi có hệ thống mạch máu phức tạp và chứa nhiều dây thần kinh quan trọng giúp điều khiển vị giác, cảm giác và vận động. Sau khi cắt bỏ 1/2 lưỡi phải (với trường hợp BN trên), người bệnh đối mặt nguy cơ khuyết hổng lớn ở khoang miệng. Nếu chỉ khâu đóng thông thường, lưỡi sẽ bị co kéo, biến dạng nghiêm trọng, khiến người bệnh gặp khó khăn lớn trong ăn uống, phát âm.
Do đó, các bác sĩ đã áp dụng kỹ thuật tạo hình vi phẫu - kỹ thuật tiên tiến nhất trong tạo hình cho người bệnh sau phẫu thuật. Bác sĩ lấy vạt da cánh tay của BN để tạo hình lưỡi, vạt được thiết kế vừa vặn, đảm bảo tốt chức năng nói, nuốt, không ảnh hưởng đến đường thở, không phải mở khí quản. Dưới kính hiển vi phẫu thuật phóng đại, các phẫu thuật viên có thể quan sát chi tiết, nối từng mạch máu, sợi thần kinh siêu nhỏ của vạt mô đó với mạch máu vùng cổ để nuôi sống phần lưỡi mới tái tạo. 5 ngày sau ca phẫu thuật thành công, BN đã có thể tự ăn uống qua đường miệng, nói chuyện khá tốt với người xung quanh.
"Trước đây, 3/4 bệnh nhân ung thư vú đến khám ở giai đoạn muộn, nhưng hiện nay, tỷ lệ này đã đảo ngược, với khoảng 3/4 bệnh nhân được phát hiện sớm, giúp tỷ lệ khỏi bệnh tăng cao", PGS Lê Hồng Quang, Trưởng khoa Ngoại vú, Bệnh viện K, nói tại Hội thảo quốc tế Ung thư vú năm 2026 với sự tham gia của hàng trăm nhà khoa học trong nước và các chuyên gia quốc tế hôm 22/4 tại Hà Nội.
Ung thư vú là một trong những bệnh ung thư thường gặp và có tỷ lệ tử vong cao. Theo GLOBOCAN 2022, Việt Nam ghi nhận 24.563 ca mắc mới, đứng đầu trong các loại ung thư ở nữ giới, chiếm 28,9%; số ca tử vong là 10.008. Đáng chú ý, so với nhiều quốc gia khác, tỷ lệ mắc bệnh ở người trẻ tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, đây là căn bệnh có thể điều trị khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm, điều trị kịp thời và đúng phương pháp.
Tỷ lệ bệnh nhân phát hiện bệnh sớm có do ý thức tầm soát bệnh. Ngoài ra những tiến bộ mới nhất trong sàng lọc, chẩn đoán cũng giúp phát hiện những tổn thương nhỏ nhất, giúp bệnh nhân được tiếp cận với điều trị sớm nhất.
GS.TS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K, cho hay bên cạnh việc chẩn đoán sớm được, điều trị ung thư vú tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Các kỹ thuật xạ trị hiện đại giúp giảm biến chứng, trong khi phẫu thuật tạo hình, tái tạo vú không chỉ phục hồi hình thể mà còn mang lại sự tự tin, ổn định tâm lý cho phụ nữ sau điều trị. Nhờ vậy, người bệnh không chỉ được kéo dài thời gian sống mà còn cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống.
Gần đây, trí tuệ nhân tạo (AI) cũng được tích hợp vào quá trình chẩn đoán và điều trị, hỗ trợ bác sĩ nâng cao độ chính xác, cập nhật kiến thức và xây dựng các phác đồ tham khảo. AI còn giúp việc hội chẩn đa chuyên khoa trở nên nhanh chóng, linh hoạt hơn. Nhờ những tiến bộ này, điều trị ung thư vú ngày càng được cá thể hóa, tối ưu hóa cho từng người bệnh.
Tại hội thảo, GS Anees B.Chagpar (Khoa Phẫu thuật, Trường Đại học Yale, Mỹ) cho biết, phẫu thuật ung thư vú hiện hướng tới hai mục tiêu chính. Thứ nhất là kiểm soát khối u, nếu như giai đoạn 1950-1960, bệnh nhân thường phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú thì hiện nay xu hướng là phẫu thuật bảo tồn, chỉ cắt một phần tuyến vú hoặc cắt rộng khối u. Trong tương lai, thậm chí có thể không cần phẫu thuật trong một số trường hợp.
Mục tiêu thứ hai là đánh giá và kiểm soát hạch bạch huyết. Trước đây, việc vét hạch nách được thực hiện rộng rãi nhưng hiện nay xu hướng chuyển sang sinh thiết hạch cửa. Nếu hạch âm tính thì không cần vét hạch, còn trong một số trường hợp dương tính vẫn có thể kiểm soát bệnh mà không cần can thiệp rộng. Trong tương lai, có thể tiến tới giảm thiểu hoặc loại bỏ cả sinh thiết hạch cửa ở một số nhóm bệnh nhân.
Phụ nữ được khuyến cáo nên tầm soát ung thư vú ở độ tuổi từ 40 trở lên. Dấu hiệu cảnh báo ung thư vú gồm: Sờ có khối u ở vú, hoặc vùng xung quanh như dưới nách; vú thay đổi về hình dạng và kích thước vùng da ở ngực; núm hoặc quầng vú xuất hiện vảy, đỏ hoặc sưng. Ngoài ra, các dấu hiệu khác như núm vú bị tụt, đau nhức; tiết dịch hoặc dịch có lẫn máu ở đầu vú.