Thông tin từ Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện quốc gia (NSMO), trong tuần qua tiêu thụ điện đã liên tiếp lập kỷ lục nhiều ngày liên tiếp.
Trong đó, ngày 15-5 sản lượng điện tiêu thụ toàn quốc đạt khoảng 1,152 tỉ kWh, trong khi công suất cực đại của hệ thống điện quốc gia đạt 54.654 MW vào lúc 14h15.
Trước đó chỉ 2 ngày, vào ngày 13-5, hệ thống điện quốc gia đã ghi nhận mức công suất cực đại đạt 52.487 MW (vào thời điểm 16h10), sản lượng điện toàn quốc ngày đạt 1,103 tỉ kWh – mức cao nhất từ đầu năm cho tới ngày 13-5. Việc hệ thống điện quốc gia liên tục ghi nhận các kỷ lục mới cho thấy áp lực vô cùng lớn đối với công tác cung ứng điện.
Theo dự báo, từ cuối tháng 5-2026 có khả năng xuất hiện đợt nắng nóng gay gắt tại khu vực Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ với nền nhiệt trên 37°C.
Theo dự báo từ Trung tâm Khí tượng thủy văn quốc gia, El Nino (loại hình thời tiết làm tăng nguy cơ hạn hán và nhiều hình thái cực đoan) có xác suất tới 95% quay lại từ tháng 6, kéo theo nguy cơ nắng nóng gia tăng, nhiệt độ tăng cao và thời tiết cực đoan diễn biến khó lường trong mùa hè 2026.
Điều này cũng dẫn tới tiêu thụ điện có thể tiếp tục duy trì ở mức cao, yêu cầu thực hành tiết kiệm điện là thói quen trong sinh hoạt cần được duy trì.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho hay sẽ phối hợp chặt chẽ với NSMO để đảm bảo cung ứng điện an toàn, ổn định, liên tục. Cùng với việc nỗ lực từ ngành điện, người dân, doanh nghiệp và các cơ quan hãy sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, đặc biệt trong các khung giờ cao điểm của hệ thống điện.
Cần sử dụng điều hòa nhiệt độ hợp lý (nên đặt ở mức từ 26-27°C trở lên, kết hợp sử dụng quạt để tăng hiệu quả làm mát), hạn chế sử dụng đồng thời nhiều thiết bị điện công suất lớn trong giờ cao điểm; tắt các thiết bị điện không cần thiết khi không sử dụng, đồng thời tận dụng tối đa ánh sáng và thông gió tự nhiên.
Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định danh mục hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) có rủi ro cao do Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng.
Đáng chú ý, theo dự thảo, trong lĩnh vực giáo dục tập trung vào các hệ thống AI cung cấp nội dung tự học không được kiểm soát cho quy mô người học lớn, hệ thống AI tự động chấm điểm, xếp hạng người học quy mô lớn hoặc sử dụng AI để nhận diện sinh trắc học, giám sát hành vi, cảm xúc người học.
Lĩnh vực y tế là các hệ thống AI đưa ra quyết định phác đồ điều trị, can thiệp xâm lấn, hệ thống chẩn đoán, kê đơn thuốc, phẫu thuật, hỗ trợ robot y tế nhưng không đi kèm trách nhiệm của người hành nghề.
Lĩnh vực ngân hàng gồm hệ thống AI tự động thực hiện giao dịch tài chính giá trị cao, hệ thống AI quyết định cấp tín dụng độc lập và hệ thống AI tự động phong tỏa, ngăn chặn tài khoản mà không có sự kiểm duyệt của con người.
Lĩnh vực giao thông vận tải và hạ tầng kỹ thuật trọng yếu là lĩnh vực có số lượng hệ thống rủi ro cao nhiều nhất, tập trung vào các hệ thống điều khiển phương tiện tự hành cấp độ cao, hệ thống điều độ trung tâm tín hiệu đường bộ, đường sắt, hệ thống giám sát và vận hành hạ tầng kỹ thuật trọng yếu (hầm, cầu, cấp thoát nước, lưới điện).
Các hệ thống giám sát an ninh, nhận diện sinh trắc học tại đầu mối giao thông, hệ thống AI quản lý không lưu tự động, dự báo xung đột quỹ đạo, điều phối slot, lái tự động, phân tích hành lý soi chiếu, nhận diện hành khách và hệ thống chống UAV xâm phạm.
Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký quyết định 23/2026 ban hành danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.
Theo phê duyệt, có 70 công nghệ thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển gồm công nghệ trí tuệ nhân tạo, công nghệ dữ liệu lớn và phân tích dữ liệu, công nghệ tính toán đám mây, tính toán biên, tính toán phân tán và tính toán hiệu năng cao, công nghệ Internet vạn vật (IoT).
Công nghệ chuỗi khối (blockchain), công nghệ lượng tử, công nghệ năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, lưu trữ năng lượng tiên tiến, công nghệ quan trắc, dự báo và cảnh báo sớm thiên tai tích hợp AI theo thời gian thực, công nghệ vi sinh thế hệ mới…
Quyết định cũng phê duyệt 100 sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.
Như hệ thống, thiết bị, phần mềm nhận dạng, phân tích, dự báo, điều khiển dựa trên trí tuệ nhân tạo và dữ liệu, phần mềm cá nhân hóa lộ trình học tập dựa trên dữ liệu lớn, hệ thống, thiết bị giáo dục và đào tạo thông minh cho STEAM.
Phương tiện bay không người lái, phương tiện giao thông sử dụng năng lượng mới, thân thiện môi trường, thuốc sinh học ứng dụng trong y – dược và nông nghiệp; vắc xin, sinh phẩm y tế, sinh phẩm chẩn đoán thế hệ mới…
Báo cáo tài chính quý I/2025 hé lộ một xu hướng đáng chú ý trong cách các "ông lớn" quản trị nguồn tiền: thay vì để tiền mặt "nằm im", nhiều tập đoàn đã chủ động rót vốn vào các kênh đầu tư ngắn hạn như cho vay đối tác hoặc gửi tiết kiệm có kỳ hạn 3-12 tháng, động thái phản ánh rõ nét tác động của môi trường lãi suất đang biến động.
Tập đoàn Vingroup (mã chứng khoán: VIC) tiếp tục giữ ngôi vị quán quân về quy mô tiền và tương đương tiền, đạt gần 73.908 tỷ đồng tính đến ngày 31/3. Điểm đáng lưu ý là trong khi lượng tiền mặt thực tế nắm giữ có xu hướng giảm, khoản cho vay đối tác lại được bơm thêm đáng kể, tăng từ 9.477 tỷ đồng lên hơn 11.775 tỷ đồng, cho thấy tập đoàn đang tích cực tối ưu hóa dòng tiền nhàn rỗi.
Cùng xu hướng với công ty mẹ, Vinhomes ghi nhận lượng tiền mặt giảm gần 19%, từ 56.900 tỷ đồng đầu năm còn 46.125 tỷ đồng vào cuối quý I. Phần tiền rút ra không "bốc hơi" mà được chuyển hóa thành đầu tư ngắn hạn, tăng từ 7.814 tỷ đồng lên 10.288 tỷ đồng, chủ yếu thông qua kênh cho vay đối tác.
Xếp thứ ba là Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (mã chứng khoán: BSR) với tổng tiền và tương đương tiền đạt 46.548 tỷ đồng. Trong quý, doanh nghiệp này đã bổ sung hơn 3.800 tỷ đồng tiền gửi ngân hàng, bước đi thận trọng nhưng cho thấy định hướng ưu tiên an toàn thanh khoản đi kèm sinh lời ổn định.
Đứng ngay sau là Thế Giới Di Động (mã chứng khoán: MWG) với hơn 46.385 tỷ đồng, giảm nhẹ hơn 1% so với đầu năm. Riêng danh mục đầu tư ngắn hạn duy trì ở mức 41.831 tỷ đồng, gần như không đổi so với cùng kỳ.
Vinamilk (mã chứng khoán: VNM) tiếp tục gia tăng tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn, từ 21.891 tỷ đồng lên 23.002 tỷ đồng - động thái cho thấy "bà hoàng ngành sữa" không bỏ lỡ cơ hội sinh lời từ dòng tiền nhàn rỗi trong bối cảnh lãi suất leo thang. Tương tự, Tập đoàn Hòa Phát (mã chứng khoán: HPG) ghi nhận tổng tiền và tương đương tiền tăng gần 38%, trong đó riêng danh mục đầu tư ngắn hạn - chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn - bật tăng hơn 18%, đạt 24.267 tỷ đồng.
Trong khi phần lớn doanh nghiệp chọn cách "đặt cược" vào lãi suất, Tập đoàn FPT (mã chứng khoán: FPT) lại đi theo hướng khác. Lượng tiền mặt nắm giữ của công ty công nghệ này giảm gần một nửa, xuống còn 26.745 tỷ đồng. Song thay vì chuyển sang tiền gửi tiết kiệm, FPT dùng nguồn lực đó để trả nợ, chủ động giảm áp lực chi phí lãi vay. Kết quả, nợ ngắn hạn của tập đoàn đã được kéo giảm mạnh từ 41.525 tỷ đồng xuống còn 25.696 tỷ đồng chỉ trong một quý.
Bức tranh dịch chuyển dòng tiền nói trên không phải ngẫu nhiên. Quý I/2025 chứng kiến mặt bằng lãi suất tăng nóng dưới áp lực thanh khoản, với lãi suất tiền gửi tiết kiệm có lúc chạm ngưỡng 9%/năm, chủ yếu nhờ các chương trình lãi suất cộng thêm và ưu đãi gửi trực tuyến. Mức sinh lời hấp dẫn này đủ sức thay đổi hành vi của cả doanh nghiệp lẫn người dân, khi xu hướng chung đều ghi nhận dòng tiền chảy mạnh vào các kênh gửi ngắn hạn để tranh thủ lãi cao.
Bước sang tháng 4, sau cuộc làm việc giữa các ngân hàng thương mại và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất đã được điều chỉnh hạ nhiệt phần nào. Tuy vậy, theo đánh giá của các chuyên gia, lãi suất tiết kiệm vẫn đang duy trì ở mức hấp dẫn, trong khi lãi suất cho vay tiếp tục neo cao. Kịch bản hạ lãi suất toàn diện, nếu có, nhiều khả năng phải chờ đến sau quý II - khi bức tranh vĩ mô trở nên ổn định hơn.
Công ty cổ phần Phát triển Nông nghiệp Hòa Phát (HPA) vừa công bố báo cáo tài chính quý 1-2026. Trong đó, doanh thu thuần ghi nhận gần 1.764 tỉ đồng, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận sau thuế đạt 345 tỉ đồng, giảm 15,2%.
Doanh nghiệp cho biết lợi nhuận sau thuế giảm sản lượng heo và sản lượng bò bán ra giảm, giá heo hơi giảm so với cùng kỳ.
Thuyết minh chi tiết cho thấy mảng thức ăn chăn nuôi heo vẫn là trụ cột chính khi đạt hơn 916 tỉ đồng, chiếm 51,9% tổng doanh thu thuần. Mảng chăn nuôi heo mang về gần 648 tỉ đồng, chiếm tỉ trọng 36,7%. Chăn nuôi bò và chăn nuôi gia cầm đem về lần lượt gần 429 tỉ đồng (chiếm 24,3%) và 179 tỉ đồng (chiếm 10,1%).
Như vậy trung bình mỗi ngày trong quý 1, Nông nghiệp Hòa Phát thu về 10,2 tỉ đồng từ thức ăn chăn nuôi, 7,2 tỉ đồng từ chăn nuôi heo, 4,8 tỉ đồng từ chăn nuôi bò và gần 2 tỉ đồng từ chăn nuôi gia cầm.
Xét về biên lợi nhuận sau thuế, mảng chăn nuôi heo vượt trội với tỉ suất 33%. Thức ăn chăn nuôi đem về doanh thu lớn nhưng tỉ suất lợi nhuận chỉ đạt 8,7%. Mảng chăn nuôi bò và gia cầm lần lượt có tỉ suất sinh lợi tương ứng 13,3% và 4%.
Sở dĩ mảng heo đạt hiệu suất cao là do Nông nghiệp Hòa Phát đã hoàn thiện mô hình chuỗi giá trị khép kín từ thức ăn chăn nuôi đến trang trại.
Doanh nghiệp đặt mục tiêu nâng quy mô đàn heo lên khoảng 900.000 con vào năm 2030 để chiếm lĩnh thêm thị phần trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang dịch chuyển mạnh mẽ từ mô hình nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung.
Tại ngày 31-3-2026, tài sản ngắn hạn của Nông nghiệp Hòa Phát ghi nhận ở mức 3.440 tỉ đồng, tăng gần 34% so với đầu năm. Trong đó, tiền mặt ở mức 1.371 tỉ đồng, tăng 92% và đầu tư tài chính ngắn hạn ở mức 1.058 tỉ đồng, tăng 86%.
Nguồn tiền này đến từ việc chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), phát hành thành công 30 triệu cổ phiếu HPA với giá 41.900 đồng/cổ phiếu hồi tháng 1. Vốn điều lệ của công ty tăng từ 2.550 tỉ đồng lên 2.850 tỉ đồng. Thặng dư vốn cổ phần tại thời điểm cuối quý 1 ghi nhận gần 912 tỉ đồng.
Thời điểm cuối quý 1-2026, Nông nghiệp Hòa Phát đem 703 tỉ đồng (gấp 3,6 lần đầu năm) gửi ngân hàng kỳ hạn dưới 3 tháng với lãi suất 4,75%/năm. Công ty cũng gửi 1.058 tỉ đồng (gấp 1,9 lần đầu năm) kỳ hạn 3-12 tháng với lãi suất 4,75 - 9,05%.
Lượng tiền mặt lớn này giúp doanh nghiệp thu về 20,5 tỉ đồng từ lãi tiền gửi, tiền cho vay, gấp 2,3 lần quý 1-2025. Trong khi đó, nhờ giảm dư nợ các khoản vay nên lãi vay của Nông nghiệp Hòa Phát còn 9,5 tỉ đồng, giảm 20% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tôi đồng tình với ý kiến của ông Ju Liang ở Đại học Vân Nam trong bài "Kho lạnh bảo vệ nông dân" (Tuổi Trẻ ngày 27-4), thủ phạm lại là một mắt xích tưởng khô khan: kho lạnh tại nguồn.
Nông sản Việt Nam có một nghịch lý đau lòng. Chúng ta đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu thanh long, sầu riêng, cà phê, hồ tiêu; xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt khoảng 8,5 tỉ USD.
Nhưng giá trị thu về mỗi ha canh tác vẫn thấp hơn Thái Lan, thua xa Chile hay New Zealand ở cùng nhóm sản phẩm. Vì sao? Phần lớn câu trả lời nằm ở 24 giờ đầu tiên sau thu hoạch - khoảng thời gian mà trái cây, rau củ bắt đầu "chết" sinh học nếu không được hạ nhiệt kịp thời.
Con số gây sốc: tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch của ngành rau quả Việt Nam ở mức 20 - 40% tùy mặt hàng, theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam tại Hội nghị xúc tiến thương mại tháng 6-2025. Tính ra thiệt hại kinh tế lên tới 3,5 - 4,1 tỉ USD mỗi năm - một khoản "thuế tàng hình" mà ngành nông nghiệp đang âm thầm trả.
Trong khi đó toàn quốc hiện chỉ có khoảng 117 kho lạnh chuyên nghiệp. Tới 90% trong số đó phục vụ đông lạnh sâu cho thủy sản và thịt. Kho mát chuyên dụng (0 - 15oC) cho trái cây tươi - vốn là trái tim của chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu - gần như là khoảng trống trên bản đồ hạ tầng.
Hệ quả là người nông dân buộc phải bán ngay, bán vội. Mỗi đợt "được mùa rớt giá" lại có kêu gọi "giải cứu". Nhưng "giải cứu" là dấu hiệu của một chuỗi cung ứng không có vùng đệm.
Trong kinh tế học vận trù, kho lạnh cho phép nông dân và hợp tác xã giữ hàng lại 3 - 7 ngày - đủ để thương lượng, đủ để đón sóng giá, khớp đơn xuất khẩu. Không có vùng đệm, bên bán mất quyền thương lượng. Đó là "lời nguyền vỉa hè": nông sản chín cây, đồng hồ sinh học đếm ngược từng giờ, và người mua nắm thế thượng phong.
Bài học từ Chile và Nam Phi về táo, nho và cam rất đáng suy ngẫm. Họ không xuất khẩu theo mùa vụ tự nhiên. Họ xuất khẩu theo nhịp điệu do chính họ thiết kế, nhờ hệ thống kho lạnh điều tiết từ trang trại ra cảng. Khi người bán kiểm soát được nhịp độ, quyền định giá tự khắc chuyển dịch.
Thái Lan không vượt Việt Nam về diện tích canh tác trái cây, nhưng vượt xa về giá trị xuất khẩu trên mỗi tấn. Bí quyết nằm ở mô hình các trạm sơ chế và kho mát đặt ngay tại vùng trồng.
Sầu riêng Monthong hái xong được đưa vào buồng tiền làm lạnh trong vài giờ rồi phân loại theo chuẩn xuất khẩu tại chỗ. Chuỗi này không chỉ giữ được phẩm cấp mà còn cho phép Thái Lan truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng - điều kiện sống còn để chinh phục các thị trường khắt khe.
Ấn Độ theo hướng khác. Chương trình Mega Food Parks và các gói tín dụng thuộc Bộ Công nghiệp chế biến thực phẩm hỗ trợ 35 - 50% chi phí đầu tư hạ tầng chuỗi lạnh cho doanh nghiệp nội.
Với vùng như đông bắc Ấn và vùng xa, mức hỗ trợ có thể tới 75%. Cơ chế rõ ràng: Nhà nước không làm kho, nhưng "kích" dòng vốn tư nhân chảy vào khu vực nông thôn - nơi vốn không đủ hấp dẫn với logic thị trường thuần túy.
Trung Quốc thì đi xa hơn nữa. Chỉ riêng một huyện Chu Chí (Thiểm Tây) đã có tới 3.000 kho lạnh phục vụ vùng táo - nhiều hơn tổng số kho lạnh chuyên nghiệp của cả Việt Nam gấp hàng chục lần.
Thứ nhất, Việt Nam cần quy hoạch quỹ đất logistics chuyên biệt tại các vùng trồng trọng điểm - Đồng bằng sông Cửu Long cho trái cây, Tây Nguyên cho cà phê và bơ, Đông Nam Bộ cho rau quả xuất khẩu. Đất cho kho lạnh phải nằm trong quy hoạch hạ tầng nông nghiệp - logistics tích hợp, không bị đẩy sang nhóm "đất thương mại dịch vụ" với giá thuê phi lý khiến bài toán đầu tư vỡ trận ngay từ đầu.
Thứ hai, và là sống còn nhất: giá điện. Kho lạnh tiêu thụ điện gấp 4 - 6 lần kho thường trên cùng diện tích. Nếu ngành sản xuất có giá điện ưu đãi, không có lý do gì hạ tầng cold chain phục vụ nông nghiệp - ngành trực tiếp tạo sinh kế cho hơn 30 triệu người - lại bị áp giá điện kinh doanh. Đây là sự công bằng chính sách.
Thứ ba, tiếp cận vốn. Một gói tín dụng chuyên biệt cho hạ tầng chuỗi lạnh, với lãi suất và thời hạn phù hợp chu kỳ hoàn vốn 7 - 10 năm, hoàn toàn khả thi nếu có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Mô hình bảo lãnh tín dụng qua Quỹ Bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được sử dụng.
Mất một vụ mùa, nông dân thiệt một năm. Mất một thập kỷ không đầu tư kho lạnh tại nguồn, ngành nông sản Việt mất quyền định giá cả một thế hệ. Với 3,5 - 4,1 tỉ USD tổn thất mỗi năm, chúng ta đang trả cho sự trì hoãn một cái giá đủ để xây dựng một hệ thống kho lạnh tại nguồn hoàn chỉnh trên cả nước chỉ trong vòng 5 năm.