Tác phẩm điện ảnh do đạo diễn Hùng Trần thực hiện, xoay quanh nhóm streamer khám phá biệt thự bỏ hoang của Chú Hỏa (Hứa Bổn Hòa) – doanh nhân người Việt gốc Hoa sống tại Sài Gòn cuối thế kỷ 19. Với số tiền được hứa tăng theo lượt view buổi livestream, cả nhóm háo hức bước vào ngôi nhà cổ, vô tình đánh thức một thế lực tâm linh.
Kịch bản dựa trên giai thoại về “con ma nhà họ Hứa”, xoay quanh một cô gái qua đời vì bệnh phong, linh hồn thường xuất hiện trong biệt thự Chú Hỏa – câu chuyện từng được kể trong sách của nhà văn Sơn Nam. Năm 1973, đạo diễn Lê Hoàng Hoa làm phim kinh dị dựa trên câu chuyện, với sự tham gia của nghệ sĩ Bạch Tuyết, Năm Châu, Thanh Tú, Ba Vân, thu hút đông đảo khán giả. Năm 2018, sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh ra mắt vở cùng tên, nhấn mạnh vào bi kịch tình yêu của đôi nhân vật chính.
Đạo diễn Hùng Trần đặt tiêu chí tác phẩm phải có hướng đi mới, phù hợp với khán giả đương đại. Nhà sản xuất chọn phong cách giả tài liệu (found footage), tương tự nhiều phim kinh dị nước ngoài nổi tiếng, như The Blair Witch Project (Phù thủy rừng Blair), Paranormal Activity, Haunted Changi (Bệnh viện ma ám), The Medium (Bà Đồng), Incantation (Chú nguyền).
Hùng Trần nói gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật khi là một trong những phim Việt đầu tiên theo đuổi thể loại giả tài liệu trên màn ảnh rộng. Êkíp sử dụng 21 máy quay, trong đó có 12 thiết bị được đeo trên người các diễn viên, giúp khán giả có cảm giác theo chân nhân vật, quan sát sự việc xảy ra trong biệt thự.
Dàn diễn viên chủ yếu là gương mặt trẻ, như Nguyễn Minh Thời – từng đóng MV Hongkong1, Nguyễn Công Nương – tham gia Quả tim máu của Victor Vũ. Đoàn phim không ghi hình tại bối cảnh biệt thự thật, mà tái dựng “lầu chú Hỏa” ở địa điểm khác, phù hợp hơn với ý tưởng, điều kiện quay của êkíp. Đạo diễn cùng nhà sản xuất tìm hiểu về kiến trúc Pháp cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, và công trình thực tế của doanh nhân Hứa Bổn Hòa, trước khi dựng lại.
Ngoài Lầu chú Hỏa, nhiều phim Việt cùng ra rạp tháng 6, mở màn cuộc đua phòng vé dịp hè. Mesdames Thanh Sắc do Thanh Hằng đóng chính và đồng sản xuất, xoay quanh Cầm Thanh – một vũ nữ được săn đón thập niên 1960. Cô dần trở thành cái gai trong mắt bà chủ vũ trường Kim Đô (Hồng Ánh). Ma xó có sự góp mặt của nghệ sĩ Hạnh Thúy, Lê Khánh, Avin Lu, Tín Nguyễn, khai thác nỗi sợ từ truyền thuyết, tín ngưỡng dân gian.
Tin Gốc: Vnexpress

Ngày 3/4, qua trang web của Yuki Uchida, cặp sao cho biết đã hoàn tất thủ tục thành hôn. Vợ chồng viết trong thư gửi fan: "Chúng tôi đồng hành nhiều năm, đến nay trở thành người thân. Chúng tôi nguyện tiếp tục nắm tay bước tiếp, trân trọng sự dịu dàng và quan tâm mỗi người dành cho nhau, gắn bó đến đầu bạc".
Hai diễn viên quen nhau năm 1995, khi hợp tác quay quảng cáo, sau đó đóng chung phim Big Wing (2001), bấy giờ cả hai đều đã có người yêu. Năm 2002, Yuki Uchida kết hôn nhưng ly dị ba năm sau đó. Takashi Kashiwabara cũng từng trải qua hôn nhân, ly dị năm 2006.
Năm 2009, Yuki Uchida - Takashi Kashiwabara hẹn hò, tài tử dần vắng bóng màn ảnh, chuyên tâm làm người quản lý cho bạn gái. Họ kín tiếng đời tư, trong lần phỏng vấn năm 2022, Yuki Uchida hiếm hoi nói về bạn đời: "Lúc đầu, tôi mời anh ấy chỉ dẫn diễn xuất, sau đó anh ấy giúp tôi quản lý công việc trên trường quay. Anh ấy hiểu lòng tôi nghĩ gì, là người hiểu rõ các mặt tính cách của tôi nhất".
Yuki Uchida và Takashi Kashiwabara được truyền thông, khán giả gọi là một trong cặp tình nhân đẹp nhất làng giải trí Nhật. Yuki Uchida thành công qua nhiều phim điện ảnh, truyền hình, trong đó có vai nữ chính ở phim điện ảnh Boys Over Flowers 1995 (hay Vườn sao băng). Nhiều fan đánh giá cô là "Sam Thái (Nàng Cỏ) hay nhất màn ảnh", vì diễn xuất tinh tế, vẻ đẹp cuốn hút.
Yuki Uchida còn tạo dựng vị trí cao trong làng phim Nhật qua loạt tác phẩm Naomi & Kanako, Second to Last Love, Bác sĩ bí ẩn, Who Stole My Heart, Juu Nana Sai.
Takashi Kashiwabara gia nhập làng giải trí năm 1993 sau một cuộc thi tìm kiếm tài năng, nổi tiếng qua Love Letter, Mischievous Kiss: Love in Tokyo, Hakusen nagashi, Fate.
Như Anh (theo Yahoo)
Nguồn: https://vnexpress.net/my-nhan-vuon-sao-bang-nhat-ban-ket-hon-5057952.html

Thomas Mann, trong Essays of Three Decades, viết: "Nhà văn là người thấy công việc viết lách khó hơn những người khác". Có lẽ vì vậy, những tiểu thuyết lớn thường không cho người đọc cảm giác tác giả đang cố viết hay. Người đọc không chú ý tới kỹ thuật hay tham vọng văn chương của tác giả, họ chỉ cảm thấy mình đang chạm vào một kinh nghiệm sống thật sự. Nhưng cũng có những cuốn sách để lại cảm giác ngược lại: Chúng ý thức quá nhiều về văn chương, quá nóng lòng nâng trải nghiệm thành ý nghĩa, quá vội vàng biến đau khổ thành cái đẹp. Thuyền của Nguyễn Đức Tùng, với tôi, thuộc trường hợp thứ hai.
Thuyền kể về một người đàn ông Việt lưu vong luôn bị ám ảnh bởi ký ức chiến tranh, hành trình vượt biên và đời sống tha hương sau 1975. Tiểu thuyết được dựng lại qua 55 "chương" hay "đoản khúc"- những mảnh hồi tưởng đứt đoạn về tuổi thơ, gia đình, tình yêu, cái chết và chuyến vượt biển đầy sợ hãi trên một con thuyền chở những con người tuyệt vọng đi tìm tự do, rồi cuối cùng là cảm giác "mất cội rễ" và liên tục sống trong sự giằng co giữa hiện tại và ký ức về Việt Nam.
Nguyễn Đức Tùng có một tham vọng tạo dựng một cuốn tiểu thuyết viết theo "văn học dòng ý thức". Cuốn tiểu thuyết nhiều lần tự ý thức về sự đổ vỡ của tự sự truyền thống. Nhân vật chính trong tiểu thuyết nói: "thời đại chúng ta thiếu mất cấu trúc của một câu chuyện kể". Tuy vậy, người ta thường hiểu sai về văn học dòng ý thức như một thứ tự do của văn chương. Cứ câu dài hơn, liên tưởng nhiều hơn, thời gian đảo lộn hơn thì tưởng rằng đã bước vào địa hạt của James Joyce hay Virginia Woolf. Nhưng văn học dòng ý thức thật ra không phải sự hỗn loạn. Nó có một trật tự khác, kín đáo hơn và khó phát hiện hơn, nơi cấu trúc không còn nằm ở chuỗi sự kiện mà nằm ở kỷ luật của ký ức. Một tác phẩm dòng ý thức lớn luôn có một lực hút xoáy bên trong. Những hình ảnh, hồi tưởng, liên tưởng tượng như tản mạn cuối cùng đều quay trở lại cùng một vùng tối. Người đọc có thể lạc trong thời gian, nhưng không lạc trong cảm xúc văn học.
Điều thú vị là dù mang tham vọng của "văn học dòng ý thức", Thuyền vẫn được tổ chức theo một hải trình rất quen của văn học vượt biển: Rời thành phố, bến mua, vượt biên, hải phận quốc tế, cướp biển, trại tị nạn, định cư, trở về. Một tiểu thuyết dòng ý thức dĩ nhiên vẫn có thể có cốt truyện rõ ràng và tuyến tính ở bề mặt. Nhưng khi phần khung sự kiện còn giữ trật tự ấy, phần nội tâm càng cần tạo ra một thời gian khác: Thời gian của ám ảnh, của ký ức luôn quay lại đúng một điểm đau không thoát ra nổi.
Trong Thuyền, cảm giác ấy khá mờ nhạt. Nguyễn Đức Tùng có cố tạo những kết nối giữa hiện tại và hồi ức: Cú ngã khi nghe điện thoại gợi lại cú ngã cũ trên tàu; cơn đau ở xương sườn kéo về những chiếc xương gãy năm nào. Nhưng những kết nối ấy nhiều khi dừng ở mức kỹ thuật hơn là trở thành áp lực nội tâm thật sự. Người đọc nhìn thấy quá khứ được gọi về, nhưng chưa thật sự cảm thấy nó đang xâm chiếm và làm lệch hiện tại của nhân vật.
Có lẽ vì văn học thuyền nhân đặc biệt cần một thứ thời gian nội tâm mạnh hơn thời gian sự kiện. Vượt biển không chỉ là một chuyến đi. Nó là một trải nghiệm kinh hoàng mà người ta vừa không thể quên vừa không muốn nhớ. Những người sống sót không mang ký ức như mang một câu chuyện đã kết thúc. Họ mang nó như một phần thân thể chưa lành.
Nhà tâm lý học Carl Rogers có câu nói nổi tiếng: "Cái gì càng cá nhân thì càng phổ quát" (what is most personal is most universal). Sau này, Martin Scorsese tiếp nối ý ấy bằng một biến thể khác: "Điều cá nhân nhất cũng là điều sáng tạo nhất" (what is the most personal is the most creative). Đó cũng là một nguyên lý đặc biệt của văn chương: Càng đi sâu vào cái riêng, tác phẩm càng có khả năng chạm tới nhiều người. Nhiều tiểu thuyết lớn hiếm khi bắt đầu từ những ý niệm lớn. Chúng thường bắt đầu bằng một chi tiết rất nhỏ nhưng không thể quên: Một người đàn bà lấy nước tiểu để dỗ con đỡ khát trên thuyền vượt biên, tiếng trực thăng bay ngang khiến một người đàn ông lưu vong nằm úp xuống sàn nhà giữa đêm. Hay cảm giác một thân thể không còn chịu nổi mùi nước biển nhiều năm sau khi đã đặt chân lên đất liền. Người đọc không xúc động vì nhà văn nói "đây là đau khổ". Họ xúc động khi nhìn thấy một con người cụ thể đang chịu đựng nỗi đau ấy. "Personal" vì thế không phải sự bộc bạch về cái tôi. Nó là độ sâu của kinh nghiệm. Một kinh nghiệm càng cụ thể, càng không thể thay thế, càng có khả năng chạm đến cái chung của nhân loại.
Văn học thuyền nhân đặc biệt cần điều đó. Đây là một bi kịch tập thể rất lớn, nhưng văn chương không thể chạm tới lịch sử chỉ bằng những khái niệm như "đau thương", "bạo lực", "mất mát". Nó phải đi qua một thân thể cụ thể, một nỗi đau cụ thể, một ký ức cụ thể. Hầu như tác phẩm nào viết về thuyền nhân cũng có một người đàn bà mất con trên biển. Một đứa trẻ sốt mê man dưới khoang tàu. Một người phụ nữ bị hãm hiếp. Nhiều người đàn ông bị giết. Một đứa trẻ nhiều năm sau vẫn không ngủ được vì tiếng sóng. Nhưng nếu như những bi kịch đã trở thành tập thể ấy không có cái cá nhân, lịch sử rất dễ biến thành phông nền cho suy tưởng.
Đọc Ru của Kim Thúy, The Boat của Nam Lê hay Biển San Hô, Puerto Princesa City của Trần Vũ, người ta thấy ký ức không đứng ngoài để được chiêm ngưỡng. Nó nhập vào thân thể. Nó thành cơn khát, thành đói, thành mặc cảm sống sót, thành những thương tích kéo dài sang cả đời sống lưu vong. Trong Ru, ký ức thuyền nhân được giữ lại qua những chi tiết rất nhỏ: Trẻ nhỏ, mùi dầu, bánh khô, không gian thuyền chật hẹp và một bé gái bị biển nuốt mất. Trong The Boat của Nam Lê người đọc nhớ một đứa trẻ chết đúng lúc nhìn thấy đất liền. Nhớ cơn khát. Nhớ cơn sốt. Nhớ những thân thể bị ép đến giới hạn cuối cùng của sống sót. Ở Pháo thuyền trên dòng Yang-Tse của Trần Vũ, người đọc nhớ khuôn mặt bị chém nát của Toàn, nhớ những vết sẹo, mắt hỏng, mũi biến dạng, một rãnh sẹo kéo qua môi xuống cằm. Chính độ cụ thể ấy làm truyện mở ra một cảm giác rất rộng về bi kịch, mất mát và lịch sử. Những chi tiết ấy không cố trở thành biểu tượng. Chính độ cụ thể và vật chất của chúng mở ra chiều kích phổ quát của bi kịch.
Vì thế, Thuyền tạo ra một nghịch lý khá buồn. Nó viết rất nhiều về cái tôi, nhưng chưa thật sự đủ "personal". Bởi vì ở những cảnh đáng lẽ phải cho người đọc cảm thấy sức nặng của đói khát, cướp biển, chết chóc, mất người yêu hay mất quê hương, cái tôi ấy luôn tự ý thức về chiều sâu của mình để diễn giải cảm xúc của mình bằng những liên tưởng đẹp và những suy tư lớn. Nhưng càng cố vươn tới cái chung của nhân loại, tiểu thuyết lại càng rời xa cái riêng không thể thay thế của kinh nghiệm thuyền nhân. Và khi cái riêng chưa đủ sâu, cái phổ quát thường chỉ còn là một tiếng vọng của ngôn từ. Như khi đang chạy trốn trong hoảng loạn, nhân vật nghĩ: "tình yêu của tôi là tình yêu đối với các chi tiết của sáng tạo và sự trở lại và gìn giữ cuộc đời, một cuộc đời thường xuyên làm bạn tan vỡ. Tôi lắng nghe đất thở... Có một dàn nhạc chơi đâu đó trong trời đất".
Vấn đề không nằm ở chỗ những câu ấy không "văn". Vấn đề nằm ở mối quan hệ giữa cái "văn" và nỗi đau. Trước bi kịch, Thuyền nhiều lần nghiêng về một mỹ cảm buồn đẹp, nơi ký ức vượt biển được làm dịu bằng những hình ảnh như người chết "lướt xuống biển như một con chim én", nước biển trở thành "những giọt lệ của mẹ tôi, tích tụ qua hàng nghìn năm", cho nhân vật nhìn người đánh cá cứu thuyền nhân rồi liên tưởng tới Ông già và biển cả, làm cho kinh nghiệm vượt biển dần rời khỏi cá nhân bi thảm của nó. Tình huống sinh tồn cụ thể liên tục bị kéo sang bình diện khái quát. Chính sự chuyển động quá nhanh từ kinh nghiệm cảm giác sang diễn giải tư tưởng làm cho hiện tại mất đi sức nặng nỗi đau của nó. Người đọc hiểu nhân vật đang nghĩ gì nhiều hơn cảm thấy nhân vật đang sợ hãi ra sao.
Có một khác biệt rất lớn giữa văn chương của ký ức và văn chương của tâm trạng. Ký ức chấn thương thường có tính độc đoán. Nó bắt con người quay đi quay lại cùng một vết thương cho đến khi mọi thứ khác mờ đi. Trong những tác phẩm dòng ý thức lớn, các chi tiết nhỏ luôn bị hút về cùng một vùng tối. Một tiếng nước. Một mùi tóc. Một bài hát. Một ánh đèn. Tất cả cuối cùng đều trở thành dấu vết của cùng một ám ảnh. Ý thức chấn thương hiếm khi hùng biện. Nó đứt đoạn. Nó quay vòng. Nó bị ám mãi bởi một chi tiết rất nhỏ không sao thoát ra được. Ở Trần Vũ, người đọc nhớ những khuôn mặt sẹo, những cơn mê sảng, những thân thể bị lịch sử làm biến dạng. Ở Nam Lê, người đọc nhớ cơn khát và cái chết sát đất liền.
So với kiểu dòng ý thức ấy, Thuyền có rất nhiều liên tưởng, nhưng các liên tưởng ấy chưa được tổ chức bởi một vết thương trung tâm đủ mạnh để tạo áp lực lên toàn bộ ý thức nhân vật. Vì vậy, dòng ý thức ở đây nhiều lúc không còn hiện ra như nhu cầu giải tỏa chấn thương, mà trở thành một hình thức tự trình diễn của ý thức. Ý thức trong Thuyền hiếm khi bị đời sống đánh bật khỏi khả năng diễn giải. Nó luôn còn đủ khoảng cách để ngắm nhìn chính mình, để tự bình luận về chiều sâu của mình. Những liên tưởng về âm nhạc, tôn giáo, Hemingway, Dostoevsky, mái trường Vạn Hạnh, tiếng hát Thái Thanh, nhạc Ngô Thụy Miên, thơ Phạm Đình Chương, hay những suy tưởng về tự do, tình yêu, cái chết liên tục xuất hiện như những lớp trữ tình phủ lên ký ức vượt biển. Văn bản nhiều lần tạo cảm giác như đang muốn khẳng định chiều sâu tinh thần của cái tôi tự sự hơn là để kinh nghiệm tự phát lộ. Và khi điều đó xảy ra, dòng ý thức không còn hiện ra như hậu quả của chấn thương nữa. Nó trở thành phong cách.
Nhân vật Liên Hương là ví dụ rõ nhất cho giới hạn ấy. Nàng được đặt ở trung tâm ký ức của cuốn sách, nhưng càng về sau càng hiện ra như một hình bóng trữ tình hơn là một vết thương có khả năng tổ chức toàn bộ đời sống nội tâm nhân vật. Những câu hỏi lặp đi lặp lại như "anh sẽ nhớ em chứ", "anh có đến dự tang lễ của em không", "anh có giận em không" tạo dư vị buồn đẹp nhiều hơn cảm giác bị ám ảnh. Người đọc nhìn thấy nỗ lực giữ lại sự dịu dàng của một mối tình đã mất, nhưng cũng chính sự dịu dàng ấy làm cho ký ức mất đi phần dữ dội và độc đoán vốn có của chấn thương. Các người phụ nữ xuất hiện sau này - như Kyra "thật đẹp, thật dữ dội, thật hoang dại", hay Jen "cứ như vừa bước ra từ một cuốn tiểu thuyết của Virginia Woolf hay từ vườn Lục Xâm trong bài thơ của Cung Trầm Tưởng". Không hề có kết nối với vết thương từ cái chết của nàng, cho dù tác giả đã cố kết nối như trong giấc mơ của Kyra "thấy những người đàn bà bị rượt đuổi. Họ bị bắt. Bị tra tấn. Bị hãm hiếp". Bởi vậy, họ lần lượt đi qua đời nhân vật như những kinh nghiệm tình cảm riêng biệt (mà thực ra như Kyra nói "anh chỉ yêu thân xác của em thôi"), chứ không tạo cảm giác mọi mối quan hệ đều đang bị hút trở lại cùng một mất mát trung tâm trong quá khứ. Vì thế, Liên Hương cuối cùng hiện ra như một biểu tượng của nỗi buồn đẹp, hơn là một vết thương không thể thoát ra.
Một ví dụ đối lập có thể thấy trong Pháo thuyền trên dòng Yang-Tsé của Trần Vũ. Ở đó, dòng ý thức không vận hành như một chuỗi suy tưởng làm đẹp cái tôi, mà như sự trở lại cưỡng bức của chấn thương. Màn vải đen, tiếng đại vĩ cầm, khuôn mặt sẹo của Toàn, tia chớp, bộ phim Pháo thuyền, hình ảnh bào thai, máu, lưỡi lam, phòng tắm - tất cả không phải những hình ảnh được xâu lại vì chúng "đẹp". Chúng bị kéo vào cùng một trường ám ảnh: Hải tặc, thân thể bị hủy hoại, cưỡng bức. Đặc biệt, câu cuối "Chúng tôi còn ở Vũng Tàu hôm qua kia mà!" làm sập toàn bộ trật tự thời gian: Quá khứ trước vượt biên, biến cố trên biển và bạo lực trong hiện tại cùng hiện về như một khoảnh khắc duy nhất. Đó là dòng ý thức có kỷ luật: Rối ở bề mặt, nhưng bị tổ chức bởi một vết thương trung tâm.
Tuy vậy, nếu chỉ đọc Thuyền bằng mỹ học của chấn thương thân thể thì có lẽ cũng chưa hoàn toàn công bằng. Nguyễn Đức Tùng dường như không muốn giữ ký ức vượt biển ở trạng thái sắc lạnh như Trần Vũ. Ông muốn làm dịu nó bằng suy tưởng, bằng âm nhạc, bằng văn hóa, bằng những liên tưởng mang màu sắc cứu rỗi tinh thần. Và có lẽ, đó chính là giá trị riêng của Thuyền: Nỗ lực giữ ký ức vượt biển như một vấn đề tinh thần của người Việt sau 1975, không phải bằng tiếng kêu dữ dội mà bằng một giọng kể chậm, nhiều thương cảm. Nhưng nếu bỏ đi toàn bộ lớp mỹ cảm ấy, phần kinh nghiệm còn lại của cuốn sách lại khá mỏng, gần với một hải trình quen thuộc của văn học thuyền nhân. Vì thế, sự dịu dàng trong Thuyền nhiều khi không chỉ là lựa chọn thẩm mỹ. Có lúc nó trở thành thứ "dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi", một lớp ánh sáng mềm phủ lên những phần đáng lẽ phải sắc, phải đau và thô ráp hơn của ký ức.
Tin Gốc: Vnexpress

Chiều 3-6, ban tổ chức Tuần lễ thời trang quốc tế Việt Nam tổ chức họp báo công bố những điểm mới của mùa xuân hè 2026.
Năm nay có 15 nhà thiết kế và thương hiệu thời trang trong nước và quốc tế tham gia trình diễn gồm: nhà thiết kế Đỗ Mạnh Cường, Adrian Anh Tuấn, Đặng Trọng Minh Châu, Thảo Nguyễn, Nguyễn Minh Tuấn, Angelo Crucian (Ý), Chung Chung Lee (Hàn Quốc), Frederick Lee (Singapore), thương hiệu Môi Điên, CEM, ĐINH, DAS Studios, Slingstone (Hàn Quốc), TANDT (Thái Lan). Trong đó có nhiều nhà thiết kế trẻ, lần đầu tham gia trình diễn.
Nhà thiết kế Tom Trandt (thương hiệu Môi Điên) diễn mở màn và nhà thiết kế Đỗ Mạnh Cường diễn kết màn.
Bà Trang Lê - Chủ tịch Tuần lễ thời trang quốc tế Việt Nam - chia sẻ tuần lễ thời trang năm nay quy tụ nhiều nhà thiết kế trẻ bên cạnh các nhà thiết kế tên tuổi, thể hiện tinh thần chuyển động trong thời trang.
Theo bà, các nhà thiết kế nổi tiếng từng là nhà thiết kế trẻ, Tuần lễ thời trang quốc tế Việt Nam tiếp tục là bệ phóng, trao cơ hội cho nhiều nhà thiết kế trẻ, cũng là bước khởi đầu cho một tinh thần mới.
Qua 20 mùa tổ chức Vietnam International Fashion Week trở thành cầu nối những giá trị sáng tạo, những tài năng tiên phong và các xu hướng thời trang đương đại trong nước lẫn quốc tế.
Nhà thiết kế Tom Trandt cho biết đây là lần đầu anh tham gia Tuần lễ thời trang quốc tế Việt Nam, điều anh áp lực nhất là thời gian. Về bộ sưu tập Nguồn, anh giữ tinh thần sáng tạo theo phong cách từ xưa đến nay, thiết kế độc bản.
Nhà thiết kế Nguyễn Minh Tuấn cũng lần đầu tham gia tuần lễ thời trang này với mong muốn được tiếp thêm nguồn năng lượng từ các nhà thiết kế “lớn”, học hỏi thêm cách tổ chức show diễn.
Từng tổ chức nhiều show diễn ở nước ngoài, nhà thiết kế Đỗ Mạnh Cường cho rằng Tuần lễ thời trang quốc tế Việt Nam là cơ hội cho nhà thiết kế trẻ được trình diễn với chi phí tiết kiệm và hiệu quả trong lan tỏa bộ sưu tập ra quốc tế. Anh "bật mí" chi phí anh tổ chức trình diễn trong Tuần lễ thời trang New York gần 30 tỉ đồng.
Anh đánh giá Việt Nam có nhiều nhà thiết kế tài năng, được nhiều ngôi sao quốc tế biết đến và chọn đầm diện trong các sự kiện quan trọng vì phù hợp, góp phần khẳng định vị thế thời trang Việt trên bản đồ thời trang quốc tế.
Đại diện ban tổ chức cho biết thêm Tuần lễ thời trang quốc tế Việt Nam còn tạo điều kiện cho người mẫu trẻ sải bước trình diễn trên sàn diễn chuyên nghiệp thông qua hoạt động casting.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

