“Nghĩ đến cảnh mở mắt ra đã phải lo trả lãi ngân hàng, muốn thay đổi công việc cũng không dám vì sợ thu nhập không đủ trả nợ, vợ chồng tôi quyết định dừng kế hoạch mua nhà”, Thúy Vân nói.
Khi mới kết hôn ba năm trước, cặp vợ chồng trẻ cũng có kế hoạch mua nhà để “an cư lạc nghiệp” như nhiều gia đình khác. Nhưng giai đoạn 2023-2024, giá căn hộ tại Hà Nội tăng quá nhanh khiến kế hoạch liên tục bị đổ bể. “Có căn chỉ trong vài tháng đã tăng thêm vài trăm triệu đồng. Tiền tích lũy của vợ chồng tôi không thấm vào đâu”, Vân kể.
Hiện tại, thu nhập của gia đình vượt 100 triệu đồng mỗi tháng, gấp gần 5 lần mức trung bình (21,5 triệu đồng) của một hộ ở Hà Nội, vợ chồng cô vẫn không dám tái khởi động kế hoạch mua nhà.
Theo tính toán của Vân, nếu mua một căn hộ 64 m2 giá khoảng 5 tỷ đồng, vợ chồng cô sẽ phải vay ngân hàng 3 tỷ đồng, thời hạn 20 năm. Trong thời gian hưởng ưu đãi lãi suất, mỗi tháng gia đình phải trả khoảng 30 triệu đồng. Vào giai đoạn lãi suất thả nổi, số nợ phải trả có thể tăng lên 35 triệu đồng mỗi tháng.
Năm ngoái, vợ chồng cô mua ôtô phục vụ đi lại. Họ thuê một căn hộ một phòng ngủ rộng 43 m2 với giá hơn 10 triệu đồng mỗi tháng, gồm cả điện, nước và phí dịch vụ. Con gái ba tuổi học trường tư tốn hơn 7 triệu đồng mỗi tháng. Tổng chi phí nuôi con hơn 20 triệu đồng. “Rõ ràng là phương án đi thuê nhà dễ thở hơn nhiều”, Vân nói. “Tôi có thể mua sắm theo sở thích, ăn uống theo nhu cầu và đi du lịch vài lần mỗi năm nhờ không gánh nợ”.
Với cách tính tương tự, vợ chồng Thu Hương, 32 tuổi, ở phường An Khánh, TP HCM cũng chọn thuê căn hộ 56 m2 trong khu chung cư có hồ bơi, phòng gym và khu thể thao, giá 20 triệu đồng mỗi tháng.
Bạn bè khuyên họ vay mua nhà vì số tiền thuê không ít. Tuy nhiên, căn hộ hai phòng ngủ tương đương căn đang thuê có giá bán khoảng 4,5 tỷ đồng. Nếu vay 3,5 tỷ đồng mua nhà, trong 20 năm, mỗi tháng, họ phải trả nợ hơn 40 triệu đồng. “Tôi sẽ phải gánh khoản nợ này suốt 1/3 cuộc đời”, cô nói.
Nếu dồn tiền trả nợ sớm, hai vợ chồng buộc phải hy sinh nhiều nhu cầu hiện tại, chưa kể, một đứa trẻ chào đời, gánh nặng sẽ tăng thêm. “Nghĩ đến nợ, chúng tôi tạm thời ở thuê cho nhẹ đầu”, cô nói.
Hiện tại, căn hộ ở thuê cách công ty chồng Hương khoảng một km, cách nơi làm việc của vợ 4 km. Nếu thay đổi công việc, cô có thể thoải mái chọn thuê căn hộ khác cạnh chỗ làm mới. “Ở thuê giúp không gian sống luôn bám sát nhu cầu thực tế thay vì cố định vào một nơi lâu dài rồi dần không còn phù hợp”, Hương nói.
Sau giờ làm, hai vợ chồng đi tập gym, chơi pickleball hoặc đưa thú cưng đi dạo. Điều Hương thích nhất khi ở nhà thuê là không phải lo sửa chữa hay bảo trì. Thiết bị nào trong nhà hỏng, cô chỉ cần nhấc máy gọi công ty phụ trách cho thuê, sẽ được xử lý ngay.
Hai vợ chồng dành ngân sách cho du lịch nước ngoài vài chuyến mỗi năm, đầu tư cho sở thích cá nhân và trải nghiệm sống. Sắp tới họ sẽ chuyển sang căn rộng hơn để có thêm phòng xông hơi và không gian cho hai con mèo chạy nhảy.
Ngày càng nhiều gia đình trẻ từ bỏ kế hoạch mua nhà để chọn thuê như vợ chồng Thúy Vân, Thu Hương. Nghiên cứu của Hội Môi giới bất động sản Việt Nam (Vars) cho thấy, hơn 60% người trẻ dưới 35 tuổi tại các đô thị lớn (Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng) ưu tiên thuê nhà, coi đây là giải pháp tối ưu để giảm gánh nặng tài chính và tận hưởng sự tự do trong bối cảnh giá bất động sản leo thang.
Theo dữ liệu từ Numbeo – nền tảng thống kê chi phí sinh hoạt lớn trên thế giới, Việt Nam nằm trong top 10 thế giới về mức độ khó tiếp cận nhà ở. Các chuyên gia cho biết giai đoạn 2023-2024 người dân cần khoảng 23 năm thu nhập để mua nhà, con số này tăng lên 26 năm vào 2025 và hiện đã vượt 30 năm do giá bất động sản tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập. Mức này cao gấp đôi mặt bằng bình quân toàn cầu.
Doanh nhân Lê Quốc Kiên, người có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản ở TP HCM, cho rằng phần lớn người trẻ hiện làm việc trong khu vực trung tâm đô thị. Với 10-15 triệu đồng tiền thuê mỗi tháng, họ có thể sống trong căn hộ đầy đủ tiện ích và di chuyển thuận tiện đến nơi làm việc. “Nhiều người chấp nhận ở thuê tiện nghi còn hơn sở hữu một căn nhà quá xa nơi làm việc”, ông nói.
Lối sống độc lập, kết hôn muộn cũng là nguyên nhân khiến người trẻ chọn ở thuê, khi giá nhà đắt đỏ, không có trợ giúp từ người thân, mua nhà thành bất khả thi.
Chuyên gia Phan Dũng Khánh, Giám đốc Tư vấn Đầu tư tại Công ty Chứng khoán Maybank cho rằng tư duy “an cư lạc nghiệp” của người Việt khiến nhiều gia đình vô thức gắn toàn bộ kế hoạch tài chính và cuộc sống vào một tài sản cố định.
Ngoài ra, khi mang áp lực vay mua nhà, họ thường phải chọn công việc an toàn để duy trì dòng tiền trả nợ, từ đó hạn chế cơ hội thử sức với các hướng đi mới hoặc đầu tư mạo hiểm để làm giàu. Ngược lại, những người ít áp lực nợ vay có xu hướng dành tiền cho trải nghiệm, học tập và đa dạng kênh đầu tư nhằm mở rộng cơ hội thu nhập dài hạn.
“Không có kết luận đúng hay sai khi đi thuê nhà. Mục tiêu cuối cùng vẫn là sống hạnh phúc, chứ không phải gồng gánh một tài sản”, ông Khánh nói.
Ở chiều ngược lại, PGS Nguyễn Đức Lộc, Viện Nghiên cứu Đời sống xã hội (Social Life) lo ngại cảm giác ở tạm có thể làm suy giảm tính gắn kết cộng đồng. Nếu xu hướng đi thuê nhà kéo dài, các đô thị lớn có nguy cơ trở thành “thành phố của những người tạm trú”, nơi các mối quan hệ láng giềng và kết nối xã hội ngày càng lỏng lẻo.
Ông cũng cho rằng không “an cư” góp phần khiến nhiều người trẻ trì hoãn kết hôn, ngại sinh con hoặc lựa chọn sinh ít con hơn.
Theo chuyên gia, các chính sách nhà ở hiện nay chưa chú ý đủ đến nhu cầu sống lâu dài của các hộ gia đình trẻ. Nhiều căn hộ cho thuê hoặc nhà ở xã hội có diện tích nhỏ, thiếu không gian sinh hoạt cộng đồng, trường học, khu vui chơi hay tiện ích phục vụ trẻ em.
Mỗi tháng, vợ chồng Thúy Vân mua hai chỉ vàng để dành và một khoản tiền gửi ngân hàng. Họ cũng có thể chi tiền cho khóa học tiếng Anh hay phát triển bản thân khi có nhu cầu. “Khi nào tích lũy được khoảng 70% giá trị căn hộ tôi mới mua. Nếu vẫn không đủ, tôi sẽ tiếp tục ở thuê và dành tiền mua đất ở quê dưỡng già”, Vân nói.
Trong bối cảnh thị trường lao động cạnh tranh, vậy doanh nghiệp có nên chi trả cho trải nghiệm phỏng vấn của ứng viên, và nếu có thì đâu là giới hạn hợp lý?
Câu chuyện bắt đầu từ chia sẻ của một ứng viên nhận 100.000 đồng hỗ trợ sau buổi phỏng vấn trực tiếp. Dù số tiền không quá lớn nhưng đủ để tạo ấn tượng, bởi nó chạm đến thực tế quen thuộc, ứng viên cũng phải bỏ ra chi phí và công sức từ bước đầu tìm việc.
Đáng chú ý, một tài khoản được cho là nhân sự công ty sau đó xác nhận đây là chính sách có thật và vẫn đang được áp dụng.
Nhiều ý kiến trái chiều nhanh chóng xuất hiện. Một số người cho rằng đây là cách thể hiện sự tôn trọng cần thiết, giúp ứng viên cảm thấy được ghi nhận. Ngược lại, không ít ý kiến đặt câu hỏi liệu doanh nghiệp có đang làm quá bước vốn dĩ thuộc về trách nhiệm cá nhân khi tìm việc.
Nhiều người chia sẻ trải nghiệm tương tự, cho thấy đây không phải là trường hợp cá biệt.
Một số doanh nghiệp đã triển khai các hỗ trợ cho ứng viên đến phỏng vấn, như chi phí đi lại, tặng voucher hoặc quà nhỏ mang dấu ấn thương hiệu. Với các vị trí yêu cầu cao, mức hỗ trợ được mở rộng, bao gồm chi phí di chuyển liên tỉnh, lưu trú, thậm chí tổ chức các buổi phỏng vấn kết hợp tham quan môi trường làm việc.
Ở quy mô quốc tế, việc hỗ trợ chi phí phỏng vấn thường gắn với các tiêu chí cụ thể, được quy định rõ ràng trong quy trình tuyển dụng.
Có nơi, ứng viên ở cách địa điểm phỏng vấn trên 50 km sẽ được hoàn trả chi phí đi lại và hỗ trợ lưu trú theo quy định. Cũng có trường hợp không chỉ dừng ở hỗ trợ chi phí, mà còn đầu tư vào toàn bộ trải nghiệm tuyển dụng, từ khâu chuẩn bị, sắp xếp lịch đến phản hồi sau phỏng vấn, nhằm tạo cảm nhận tích cực ngay cả với những ứng viên không trúng tuyển.
Vì vậy, những khoản hỗ trợ này không phải là chi tiết phát sinh, mà đang dần trở thành một phần trong chiến lược cạnh tranh nhân lực của doanh nghiệp.
Nếu chỉ nhìn bề ngoài, khoản hỗ trợ trong quá trình phỏng vấn có thể được xem là chi tiết nhỏ. Nhưng ở chiều sâu hơn, việc doanh nghiệp lựa chọn có hay không, triển khai đến đâu, lại phản ánh rõ cách họ nhìn nhận tuyển dụng, là khoản chi phí cần tối ưu, hay cơ hội để xây dựng hình ảnh và thu hút nhân tài.
Mức độ đầu tư này thường không đồng đều giữa các vị trí. Theo ông Trần Đăng Quân (trưởng phòng nhân sự một công ty dệt may tại TP.HCM), với nhóm lao động phổ thông, tốc độ và chi phí vẫn là ưu tiên.
Ngược lại, ở nhóm nhân sự có kinh nghiệm hoặc cấp quản lý, những hỗ trợ trong quá trình phỏng vấn có thể tác động đến quyết định tham gia và mức độ thiện cảm với doanh nghiệp.
Tuy vậy, chi phí không phải là yếu tố quyết định duy nhất. Điều ứng viên quan tâm hơn là cách doanh nghiệp tổ chức quy trình tuyển dụng. "Một quy trình rõ ràng, giao tiếp minh bạch giúp tạo cảm giác chuyên nghiệp và đáng tin cậy, nếu có điểm thiếu nhất quán dễ khiến ứng viên rút lui, ngay cả khi có hỗ trợ chi phí", ông Quân nói.
Ở góc độ vận hành, bà Nguyễn Thảo Vy (phụ trách tuyển dụng tại một công ty vận tải), cho rằng điểm mấu chốt nằm ở cách doanh nghiệp thiết kế hành trình cho ứng viên. Với các vị trí có mức cạnh tranh cao, từng khâu như liên hệ, sắp xếp lịch, tổ chức phỏng vấn đều cần được chuẩn bị có chủ đích.
"Chi phí đi lại có thể chỉ là phần nhỏ. Quan trọng hơn là thông điệp doanh nghiệp tôn trọng thời gian và công sức của ứng viên. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc họ có tiếp tục theo đuổi cơ hội hay không", bà nhận định.
Nhưng không ít ý kiến cho rằng việc đầu tư vào trải nghiệm tuyển dụng không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả tương xứng. Trong những ngành có nguồn cung lao động dồi dào, hoặc với các vị trí không đòi hỏi chuyên môn cao, lợi ích từ việc nâng cấp trải nghiệm có thể không rõ rệt, thậm chí trở thành gánh nặng chi phí nếu triển khai dàn trải.
Trong bối cảnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng thay vì chạy theo một chuẩn mực trải nghiệm chung, doanh nghiệp cần xác định mức độ đầu tư phù hợp với đặc thù ngành nghề, quy mô và chiến lược nhân sự. Khi được định vị đúng, trải nghiệm tuyển dụng sẽ không còn là yếu tố mang tính phong trào, mà trở thành lợi thế thực chất trong cạnh tranh nhân lực.
Ngày 28-4, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (1-5-1886 - 1-5-2026), và tuyên dương chủ tịch Công đoàn cơ sở xuất sắc tiêu biểu trong đối thoại và thương lượng tập thể năm 2026.
Tại buổi lễ, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khẳng định Công đoàn Việt Nam đã khẳng định rõ nét vai trò là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động. Hoạt động của Công đoàn ngày càng thiết thực, hiệu quả, có chiều sâu, đi vào thực chất.
"Mỗi năm, hàng vạn cuộc đối thoại được tổ chức, kịp thời giải quyết hàng nghìn ý kiến, kiến nghị của đoàn viên, người lao động.
Nhiều thỏa ước lao động tập thể được ký kết, góp phần cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao thu nhập và phúc lợi cho đoàn viên, người lao động", Chủ tịch Quốc hội nêu.
Dịp này, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị các cấp công đoàn quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, tập trung cho mục tiêu nâng cao năng suất lao động, tăng trưởng hai con số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo…
Công đoàn tiếp tục phát huy vai trò xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh thực sự tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đóng góp xứng đáng vào phong trào công nhân quốc tế. Đội ngũ cán bộ Công đoàn thể hiện bản lĩnh, nhiệt huyết, trách nhiệm, gắn bó với người lao động, nắm chắc tình hình phát triển của doanh nghiệp.
Chủ tịch Quốc hội lưu ý các cấp Công đoàn đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, chú trọng nâng cao hiệu quả đối thoại, thương lượng tập thể, đồng thời đề xuất, xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật liên quan đến công nhân lao động và tổ chức Công đoàn…
Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh quy định ngày 1-5 là Ngày Quốc tế Lao động - ngày công nhân lao động được nghỉ làm việc có hưởng lương. Từ đó, Quốc tế Lao động luôn được tổ chức trang trọng, gắn với tháng 5 - Tháng Công nhân.
Tháng Công nhân, theo Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyễn Anh Tuấn, là cao điểm chăm lo đời sống công nhân, người lao động, khơi dậy tinh thần đoàn kết, thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.
Phát huy tinh thần đấu tranh, bảo vệ quyền lợi của người lao động 140 năm về trước, tổ chức Công đoàn và đội ngũ ở cơ sở đang tiếp tục bảo vệ quyền lợi người lao động thiết thực, hiệu quả, trong đó có đối thoại và thương lượng tập thể.
Qua đó người lao động và chủ sử dụng lao động lắng nghe ý kiến của nhau, giải quyết phát sinh trong quan hệ lao động, bảo vệ quyền lợi của người lao động…
"Thỏa ước lao động tập thể được ký kết làm gia tăng lợi ích, phúc lợi cho người lao động, đó là tiền lương, tiền thưởng, nghỉ thêm giờ, bữa ăn ca, điều kiện làm việc, các hỗ trợ khác, giúp nâng cao đời sống người lao động", ông Tuấn nêu.
Đây cũng là một xu hướng được thế giới ghi nhận, khi các quán cà phê tại các đô thị lớn không chỉ đơn thuần phục vụ đồ uống, nhưng trở thành nơi làm việc, gặp gỡ và kết nối, với định nghĩa là "không gian thứ ba", bên cạnh nhà và văn phòng làm việc. Khái niệm "không gian thứ ba" do nhà xã hội học Mỹ Ray Oldenburg đề xuất, nhấn mạnh vai trò của các không gian công cộng trong việc thúc đẩy tương tác và gắn kết cộng đồng.
Với công việc làm từ xa cho một công ty nước ngoài, Vũ Minh (24 tuổi, ngụ tại phường An Hội Đông, TP.HCM) cho biết thường hay đến các quán cà phê xung quanh khu vực để làm việc khoảng 4 - 5 ngày/tuần.
"Công ty không có văn phòng ở Việt Nam, trong khi làm ở nhà thì mình thấy không hiệu quả. Ra quán ngồi để có không gian hơn, đôi khi còn thuận tiện gặp thêm bạn bè hay đối tác", bạn trẻ này chia sẻ với Tuổi Trẻ.
Đáp ứng nhu cầu này, nhiều quán cà phê tại các đô thị lớn không chỉ đơn thuần bán đồ uống, nhưng trở thành nơi làm việc, gặp gỡ và kết nối, hay được định nghĩa là "không gian thứ ba", bên cạnh nhà và văn phòng làm việc.
Theo ghi nhận tại TP.HCM cho thấy mô hình "cà phê làm việc" đã xuất hiện từ nhiều năm nay, trước khi trở thành xu hướng. Ông Đoàn Long (chủ quán Daily Coffee tại phường Vườn Lài) cho biết đã theo đuổi mô hình "cà phê tổ kén" từ năm 2017.
"Khi đó TP.HCM bắt đầu có các chuỗi đồ uống lớn, nhưng mình không đi theo hướng cạnh tranh với các chuỗi này. Mình định vị mô hình của mình là quán dành cho sinh viên, với chi phí hợp lý hơn, cung cấp cho các bạn một chỗ vừa nghỉ ngơi, vừa tụ tập bạn bè học bài và làm việc", ông Long nói thêm.
Daily Coffee định vị là quán "cà phê tổ kén", mở cửa 23/7. Ông Long cho biết ngoài những khách hàng đến để làm việc, quán còn có tệp khách đến vào khoảng 21h, nghỉ ngơi qua đêm, sáng hôm sau dậy sớm đi làm.
Cùng là mô hình cà phê cho khách ngồi lâu, ông Nguyễn Đình Quý (nhà sáng lập chuỗi WorkFlow Space) nhận diện khách hàng của mình là "thế hệ làm việc tự chủ" - những người có thể chủ động về thời gian và địa điểm làm việc, bao gồm freelancer, chuyên gia độc lập hoặc người khởi nghiệp. "Họ cần có một nơi thoải mái để làm như một quán cà phê, nhưng cũng phải có một sự chuyên nghiệp nhất định như co-working space (không gian làm việc chung)", ông Quý nói.
Theo dõi thị trường đồ uống Việt Nam qua nhiều năm, báo cáo mới nhất của iPOS phân loại phân khúc trung cấp của thị trường đồ uống Việt Nam là các hàng quán có giá đồ uống trung bình 30.000 - 70.000 đồng/món.
Trong năm 2025, tỉ trọng nhóm khách chi tiêu từ 35.000 đồng trở lên tăng từ 47,7% lên 57,5%, cho thấy thị trường đồ uống đang bị kéo lên bởi nhu cầu "mua không gian, mua chỗ ngồi", mua trải nghiệm và định vị bản thân, thay vì chỉ mua sản phẩm. Đối với nhiều khách hàng, như Khánh Vân (24 tuổi, nhân viên văn phòng tại TP.HCM), với các quán đồ uống có khoảng giá từ 50.000 đồng trở lên, nhu cầu ngồi lại gần như là bắt buộc.
Về giá thành, ông Long cho biết giá một món đồ uống ở Daily Coffee vào năm 2017 có giá từ 29.000 đồng trở lên, trong khi quán có trang bị máy lạnh, bàn ghế để khách thoải mái ngồi lại lâu. Sau gần 10 năm, giá món nước thấp nhất tại cửa hàng này hiện từ 49.000 đồng.
"Khách hàng của mình thường 18 - 35 tuổi, có khả năng chi trả trong khoảng giá này. Một tuần họ có thể ghé quán 1 - 2 lần. Khách có thể ngồi 8 - 10 tiếng đồng hồ", ông Long nói thêm.
Theo chủ quán cà phê này, giá một món đồ uống mắc hay rẻ sẽ còn tùy vào nhu cầu của mỗi người, nhưng mức giá đưa ra sẽ cần phải đảm bảo được chi phí duy trì, vận hành quán. Ông Long chia sẻ khoản đầu tư vào bàn ghế, không gian cho dòng khách ngồi lại lâu là rất lớn, việc vận hành cũng phức tạp khi phải có nhân viên hiện diện gần như 24/24h và phải dọn dẹp thường xuyên.
Đối với mô hình của WorkFlow Space, ông Quý cho biết ngoài hoạt động như một mô hình cà phê kết hợp không gian làm việc thường thấy, chuỗi cũng bán thêm các "gói" để khách hàng lựa chọn thêm các tiện ích như phòng làm việc riêng, phòng họp... ngay tại quán.
Theo ông Quý, thương hiệu tiếp cận khách hàng theo hướng "thành viên", tạo điều kiện về không gian và chi phí để khách có thể ghé đến thường xuyên và xem khoản chi trả này như chi phí hằng ngày.
"Mô hình này sẽ có giá trị vòng đời khác với các chuỗi thức uống như trà sữa, vì gắn với nhu cầu làm việc và sự phát triển của khách hàng. Ban đầu có thể sẽ hơi kén khách, nhưng tệp khách của mình sẽ bền vững, lâu dài", ông Quý phân tích.