Trong nhiều giờ lái xe một mình, Luis Sanchez thường giết thời gian bằng cách nghe đài. Tại các trạm dừng xe tải và nhà kho, Sanchez gặp gỡ những tài xế khác, nhiều người trong số họ là người nhập cư giống như anh.
“Việc chúng tôi không về nhà diễn ra như cơm bữa”, Sanchez, người nhập cư vào Mỹ từ El Salvador và đang sống gần Fort Worth, bang Texas, nói. “Đôi khi chúng tôi phải đánh đổi gia đình vì công việc”.
Sanchez đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kể từ khi anh ấy xin bằng lái xe thương mại 20 năm trước: giấy phép lao động hợp lệ, số an sinh xã hội hợp pháp và tự hào tuyên bố mình có thành tích lái xe an toàn hoàn hảo. Nhưng giờ đây, anh không còn kế sinh nhai.
Sanchez là một trong hàng nghìn tài xế xe tải nhập cư đã mất hoặc không thể gia hạn bằng lái xe thương mại trong năm qua như một phần của chiến dịch trấn áp nhập cư của chính quyền Tổng thống Donald Trump. Những giấy phép này là điều kiện bắt buộc để họ có thể lái xe đầu kéo và xe tải hạng nặng.
Chiến dịch siết kiểm soát này bắt đầu khi chính quyền Tổng thống Trump viện dẫn hai vụ tai nạn chết người liên tiếp gây chấn động dư luận, liên quan đến các tài xế xe tải mà cơ quan chức năng cho rằng không phải là thường trú nhân hợp pháp.
Tháng 8/2025, Bộ An ninh Nội địa cùng Cơ quan Thực thi Di trú và Hải quan bắt Harjinder Singh, tài xế xe tải người Sikh, với cáo buộc quay đầu xe trái phép trên đường cao tốc Turnpike ở Florida, gây ra tai nạn nghiêm trọng. Cảnh sát Florida cho biết Singh nhập cảnh trái phép vào Mỹ năm 2018.
Video từ buồng lái cho thấy khi đang di chuyển trên cao tốc Turnpike gần Fort Pierce, Singh đã điều khiển xe đầu kéo ngoặt trái để tìm cách quay đầu qua lối đi “chỉ dành cho xe công vụ”.
Cú rẽ ngoặt của Singh đã khiến thùng xe đầu kéo chắn gần như toàn bộ các làn đường cùng chiều. Một chiếc minivan màu đen di chuyển với tốc độ cao đã không kịp phanh, lao vào gầm xe đầu kéo, toàn bộ ba người trên xe thiệt mạng, cả đoạn cao tốc ùn tắc nghiêm trọng. Tài xế Singh đang đối mặt ba cáo buộc ngộ sát.
Chỉ hơn hai tháng sau, một tài xế khác, được Bộ Giao thông Vận tải Mỹ xác định là người xin tị nạn, bị cáo buộc gây ra vụ tai nạn liên hoàn khiến ba người thiệt mạng ở California.
“Giấy phép lái xe tải hạng 40 tấn đang được cấp cho những tài xế nước ngoài nguy hiểm, thường là người nhập cư bất hợp pháp. Điều này đe dọa trực tiếp đến sự an toàn của mọi gia đình trên đường, và tôi sẽ không dung thứ cho điều đó”, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Mỹ Sean Duffy tuyên bố hồi tháng 9 năm ngoái, sau vụ tai nạn ở Florida.
Ông Duffy sau đó đã thực hiện các bước để giải quyết vấn đề an toàn đường cao tốc và đường bộ như xử lý các “nhà vận chuyển tắc kè hoa”, các đội xe tải sử dụng nhiều biển số đăng ký để trốn tránh quy định và yêu cầu an toàn. Bộ Giao thông Vận tải Mỹ cũng đã đóng cửa hàng trăm “lò cấp bằng lái xe thương mại” giả.
Cơ quan Quản lý An toàn Vận tải Đường bộ Liên bang (FMCSA) ban hành một số quy định mới, trong đó có siết chặt việc cấp và gia hạn giấy phép lái xe thương mại cho người không phải là thường trú nhân. Theo đó, chỉ những người có thị thực tạm thời H-2A và H-2B, cũng như E-2, được gia hạn và cấp bằng lái.
Chính quyền cũng yêu cầu một số bang hạ cấp giấy phép lái xe thương mại có ngày hết hạn dài hơn giấy phép lao động của tài xế, cùng với các vấn đề khác.
FMCSA cho biết quy định này được thiết kế để giải quyết vấn đề “tài xế nước ngoài không đủ điều kiện gây ra mối đe dọa an toàn đáng kể”, viện dẫn hàng loạt vụ tai nạn xe hơi chết người.
Việc ra lệnh cấm tất cả tài xế xe tải không phải thường trú nhân lái xe chỉ để giải quyết vấn đề do một số người gây ra “giống như dùng dao mổ trâu để giết gà”, Stephen Burks, một cựu tài xế xe tải và nhà kinh tế ngành vận tải đường bộ tại Đại học Minnesota Morris, nói.
Thượng nghị sĩ Cộng hòa Jim Banks hồi tháng 2 đệ trình một dự luật quy định chỉ cấp bằng lái xe tải thương mại cho công dân Mỹ, thường trú nhân hợp pháp và một số diện visa nhất định, đồng thời hủy bằng lái với những người tạm trú, có hiệu lực trên khắp nước Mỹ.
Dự luật được đặt tên theo Dalilah Coleman, một học sinh lớp một bị thương nặng trong một vụ tai nạn xe tải do tài xế gốc Ấn gây ra vào năm 2024. Tổng thống Trump đã kêu gọi thông qua dự luật này khi ông mời Coleman và cha cô đến nghe Thông điệp Liên bang năm nay. Dự luật hiện chưa được quốc hội đưa ra bỏ phiếu.
Lao động nhập cư mắc kẹt
Người lao động nhập cư bị mắc kẹt trong cuộc xung đột chính trị. Các quy định mới cũng đe dọa sinh kế của một bộ phận lớn tài xế xe tải nhập cư ở Mỹ. Gần 1/6 người có giấy phép lái xe thương mại ở Mỹ là người nước ngoài.
Đại đa số các công ty vận tải đường bộ ở Mỹ là các doanh nghiệp nhỏ, phụ thuộc vào lao động nhập cư trong vận chuyển hàng hóa.
“Tai nạn có thể do bất kỳ ai gây ra, và đã có nhiều người thuộc các quốc tịch khác nhau gây ra. Nhưng chúng tôi lại bị đưa ra để nói kiểu như ‘Những người nhập cư này không biết lái xe'”, một người gốc Ấn giấu tên đang làm nhân viên điều vận xe tải ở California nói.
Mỹ là quốc gia phụ thuộc vào vận tải đường bộ, các tài xế xe tải đã vận chuyển gần 73% hàng hóa của cả nước vào năm 2024, và đây là một ngành công nghiệp vốn đã phải đối mặt với tỷ lệ nghỉ việc cao và thiếu hụt lao động.
Sanchez, người đã nói chuyện với CNN bằng tiếng Anh trôi chảy, cho biết đã 5 tháng kể từ khi anh biết bằng lái xe thương mại của mình bị hạ cấp. Anh đã nộp đơn xin việc ở nhiều nơi nhưng không thành công, vì kinh nghiệm làm việc của anh là trong ngành vận tải đường bộ.
“Họ không chỉ lấy đi bằng lái xe của tôi. Đó là nghề nghiệp của tôi”, anh nói.
Trong khi anh cố gắng tìm việc làm, các khoản nợ ngày càng chồng chất. Anh đã mất hàng nghìn USD từ công việc kinh doanh vận tải đường bộ nhỏ mà anh đã bắt đầu hai năm trước, nhưng giờ đã phải đóng cửa.
“Hiện tại tôi phải thanh toán các hóa đơn bằng thẻ tín dụng. Tôi không còn tiền mặt nữa”, Sanchez nói, cho hay anh vẫn phải chu cấp cho gia đình ở El Salvador.
Phía sau kết quả tưởng như bế tắc đó là một tiến trình ngoại giao kéo dài hơn 20 giờ, với những khoảnh khắc tiến rất gần đến thỏa thuận trước khi sụp đổ. Những gì diễn ra trong "vùng đàm phán khép kín" tại thủ đô Pakistan cho thấy rõ mức độ phức tạp, thiếu tin tưởng và những ranh giới đỏ khó dung hòa giữa hai đối thủ lâu năm.
Ngày 11-4, thủ đô Islamabad của Pakistan bước vào tình trạng an ninh nghiêm ngặt trước thềm đàm phán. Hơn 10.000 nhân viên an ninh được triển khai, các tuyến đường bị phong tỏa, trong khi khách sạn Serena - nơi diễn ra cuộc gặp - được dọn trống hoàn toàn và biến thành một khu vực kiểm soát chặt chẽ.
Theo Hãng tin Reuters, hai phái đoàn đến nơi theo cách thức kín đáo: phía Iran hạ cánh vào đêm muộn, còn phía Mỹ đến vào ngày hôm sau.
Bên trong khách sạn Serena, không gian được chia thành ba khu riêng biệt: khu của Mỹ, khu của Iran và khu trung gian dành cho các cuộc gặp có sự tham gia của phía Pakistan. Điện thoại bị cấm trong phòng họp chính, buộc các quan chức phải ra ngoài để liên lạc về nước.
Ngay từ đầu, cuộc đàm phán đã mang tính đối đầu giữa hai cách tiếp cận: phía Mỹ theo đuổi "hòa bình thông qua sức mạnh", trong khi Iran nhấn mạnh bằng mọi giá sẽ "kháng cự trong danh dự".
Tehran đặt ra các điều kiện rõ ràng: triển vọng hòa bình chỉ có thể xảy ra nếu vấn đề ngừng bắn tại Lebanon được giải quyết và các tài sản bị đóng băng của Iran ở nước ngoài được giải phóng.
Trong khi đó, Washington tập trung vào các mục tiêu cốt lõi như chấm dứt chương trình hạt nhân của Iran và mở lại eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển năng lượng quan trọng toàn cầu.
Dù tồn tại khác biệt sâu sắc, chỉ vài giờ sau khi hai bên đến nơi, các cuộc tiếp xúc trực tiếp vẫn được khởi động. Đây được xem là bước "tan băng" quan trọng sau nhiều năm đối thoại gián tiếp của hai nước.
Các cuộc đàm phán kéo dài 21 giờ đồng hồ, được mô tả là "liên tục nhưng không đồng đều". Phiên đầu tiên diễn ra nhanh chóng, sau đó là những khoảng nghỉ ngắn, nhưng trao đổi vẫn tiếp tục không chính thức.
Nhiều vòng đàm phán nối tiếp, các bản dự thảo được trao đổi, lập trường được nhắc lại trong khi các đoàn liên tục liên lạc về nước để xin chỉ đạo.
Theo các nguồn tin, tiến triển đạt được theo từng phần nhỏ. Bốn nguồn tin cho biết có thời điểm các cuộc đối thoại tiến gần đến một thỏa thuận khung, nhưng cuối cùng đổ vỡ do bất đồng về chương trình hạt nhân, eo biển Hormuz và lượng tài sản mà Iran muốn tiếp cận.
Hai nguồn tin cấp cao từ Iran mô tả bầu không khí "nặng nề và thiếu thiện chí", cho biết dù Pakistan cố gắng làm dịu tình hình, cả hai bên đều không thể hiện ý muốn giảm căng thẳng. Có thời điểm các bên rời phòng, tranh cãi lớn tiếng, trước khi quay lại tiếp tục đàm phán.
Theo các nguồn tin, Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi đã lớn tiếng khi các bên thảo luận về những cam kết đảm bảo hậu chiến: "Làm sao chúng tôi có thể tin các ông khi trong cuộc gặp ở Geneva trước đó, các ông nói Mỹ sẽ không tấn công trong khi ngoại giao vẫn đang diễn ra?".
Thực tế, Mỹ và Israel đã tổ chức tấn công vào Iran chỉ hai ngày sau khi diễn ra vòng đàm phán tại Geneva hôm 26-2.
Đến sáng sớm ngày 12-4 theo giờ địa phương, bầu không khí có phần cải thiện và đã có đề xuất kéo dài đàm phán sang ngày thứ hai, và phía Iran sẵn sàng ở lại. Tuy nhiên, phía Mỹ quyết định kết thúc cuộc gặp, khiến tiến trình dừng lại đột ngột.
Khi công bố kết quả, Phó tổng thống Mỹ JD Vance thừa nhận hai bên "đã có những trao đổi thực chất" nhưng chưa đạt được thỏa thuận. Mỹ cho biết đã đưa ra "đề xuất cuối cùng và tốt nhất", trong khi Iran cho rằng lập trường của Washington là quá mức và thiếu thiện chí.
Dù vậy, cả hai phía đều không xem đây là kết thúc. Tiến trình đối thoại vẫn được tiếp tục, trong khi Iran nhấn mạnh đây là "một quá trình" và đã đặt nền móng cho các cuộc trao đổi trong tương lai.
Do đó, dù cánh cửa đàm phán đã đóng lại, nhưng nó vẫn chưa hề bị khóa.
Reuters hôm 26.5 dẫn thông tin từ website chính thức của Điện Kremlin với nội dung ông Alexander Shokhin, người đứng đầu tổ chức vận động hành lang lớn nhất nước cho các doanh nghiệp Nga, đã trình bày nguyện vọng trên trong cuộc gặp (không đề cập rõ ngày) với Tổng thống Vladimir Putin.
Trong thời gian qua, ngành công nghiệp Nga, từ lọc dầu, trữ dầu, các nhà máy phân bón và cảng, phải đối mặt với làn sóng gia tăng các cuộc tấn công của UAV Ukraine.
Chính quyền Moscow trước đó đã đồng ý cho những công ty an ninh tư nhân nhận thầu bảo vệ các cơ sở công nghiệp được sử dụng súng trường tự động cỡ nòng 7,62 mm, như AK-47. Bên cạnh đó, Điện Kremlin cũng cho phép huy động lực lượng quân dự bị gia nhập các đơn vị phụ trách bảo vệ nhà máy, cơ sở sản xuất.
Tuy nhiên, trước áp lực đến từ các UAV Ukraine, ông Shokhin trình bày với Tổng thống Putin rằng các doanh nghiệp Nga không chỉ cần các dòng vũ khí hạng nhẹ như súng cỡ nòng 7,62 mm, mà còn cần thêm những dòng vũ khí lớn hơn, bao gồm các hệ thống tác chiến điện tử, thiết bị laser và những vũ khí cỡ nòng khác.
"Các doanh nghiệp sẵn sàng chi tiền tài trợ cho nỗ lực trang bị này, nhưng cần có cơ chế quy định rõ ràng việc triển khai", theo ông Shokhin, người đứng đầu Liên minh các nhà công nghiệp và doanh nhân Nga.
Ông Shokhin cũng đề xuất với Tổng thống Putin cân nhắc cho doanh nghiệp hoãn thi hành những khoản phạt do chậm nộp thuế và các khoản khác nộp cho ngân sách nhà nước trong lúc các công ty phải sửa chữa những cơ sở bị hư hại sau khi trúng đòn tấn công của UAV Ukraine.
Theo Hãng tin AP ngày 31-5, phát biểu tại một hội nghị của lực lượng đặc nhiệm Mỹ ở bang Florida, Đô đốc Frank Bradley - Tư lệnh Bộ Chỉ huy tác chiến đặc biệt Mỹ (SOCOM) - cho biết quân đội phải "rất thận trọng" khi đưa AI vào các hoạt động quân sự.
Ông Bradley nói trong tương lai AI có thể hỗ trợ xác định mục tiêu tấn công, nhưng con người vẫn phải bảo đảm công nghệ này chỉ được sử dụng đúng mục đích và không gây thiệt hại ngoài dự kiến.
Những phát biểu này được đưa ra trong bối cảnh Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth đang thúc đẩy quân đội đẩy nhanh việc ứng dụng AI.
Ông Hegseth cho rằng Lầu Năm Góc cần được phép sử dụng AI cho mọi mục đích quân sự hợp pháp và không nên bị giới hạn bởi các rào cản mang tính ý thức hệ.
Trong khi đó, Tổng thống Donald Trump cũng nhiều lần nhấn mạnh Mỹ cần duy trì vị thế dẫn đầu thế giới về AI, đặc biệt trước sự cạnh tranh với Trung Quốc.
Theo một quan chức Lầu Năm Góc, AI đang được phát triển để hỗ trợ binh sĩ tìm kiếm, xác định và lựa chọn mục tiêu nhanh hơn, từ đó rút ngắn thời gian triển khai các đòn tấn công.
Tuy nhiên, nhiều lãnh đạo thuộc Bộ Chỉ huy tác chiến đặc biệt Mỹ cho biết họ xem AI chủ yếu là công cụ hỗ trợ con người thay vì thay thế con người.
Ông Andrew Krogman, cố vấn hạ sĩ quan cấp cao của SOCOM, cho rằng AI có thể đảm nhận các công việc hành chính để binh sĩ tập trung hơn vào nhiệm vụ tác chiến.
Bà Melissa Johnson, quan chức phát triển và trang bị công nghệ của SOCOM, cũng cho biết AI có thể giúp giảm bớt các công việc lặp đi lặp lại, qua đó hỗ trợ quá trình ra quyết định của quân nhân.
Theo bà Helen Toner thuộc Trung tâm An ninh và Công nghệ mới nổi của Đại học Georgetown (thủ đô Washington), AI hiện được quân đội Mỹ nghiên cứu cho nhiều mục đích khác nhau, từ xử lý dữ liệu đến hỗ trợ hoạt động trên chiến trường.
Bà cho biết con người vẫn là người đưa ra quyết định cuối cùng, nhưng AI đang giúp quân đội hoạt động với tốc độ và quy mô lớn hơn trước.
Việc ứng dụng AI trong quân đội cũng làm dấy lên tranh cãi giữa Lầu Năm Góc và công ty phát triển AI Anthropic.
Anthropic bày tỏ lo ngại về các nguy cơ như máy bay không người lái tự động hoàn toàn hoặc hệ thống giám sát quy mô lớn được hỗ trợ bởi AI.
Sau bất đồng liên quan đến việc sử dụng chatbot Claude trong các mạng lưới quân sự bí mật, Bộ Chiến tranh Mỹ đã chấm dứt hợp đồng trị giá 200 triệu USD với Anthropic và đưa công ty này vào danh sách rủi ro chuỗi cung ứng.
Anthropic sau đó khởi kiện, cho rằng quyết định trên là hành động trả đũa.
Trong khi đó, Lầu Năm Góc cho biết đang tăng cường hợp tác với các công ty công nghệ khác như Google, OpenAI và SpaceX để phát triển các hệ thống AI phục vụ quân đội.
Theo bà Toner, dù muốn tận dụng sức mạnh của AI, các chỉ huy quân sự Mỹ vẫn đặc biệt quan tâm đến việc tránh những sai sót như xác định nhầm mục tiêu, gây thương vong cho dân thường hoặc bắn nhầm lực lượng đồng minh.