Đầu tháng 5, Đại học Stavanger của Na Uy công bố tin tức một ông bố hai con ở quận Austrått (thành phố Sandnes, hạt Rogaland) đã vô tình tìm thấy một bao bọc kiếm bằng vàng ẩn giấu dưới một gốc cây đổ sau cơn bão khi đang đi bộ đường dài.
“Tôi thấy một gò đất nhô cao lên và dùng gậy chọc vào đó, đột nhiên một vật lấp lánh đã xuất hiện và tôi không biết phải làm gì với nó”, người đàn ông nói trong thông cáo.
Hiện vật được ước tính có niên đại từ thế kỷ VI – một thời kỳ biến động do sự sụp đổ của Đế chế La Mã, rộng khoảng 6cm, nặng hơn một ounce được chạm khắc hoa văn tinh xảo. Các nhà nghiên cứu cho rằng bao bọc kiếm này có thể đã thuộc về một thủ lĩnh cai trị tại Hove.
Vào những năm 500, vùng đất Na Uy ngày nay đã trải qua nhiều vụ phun trào núi lửa và thay đổi nhiệt độ đáng kể. Thiên tai có thể đã góp phần gây ra mất mùa và nạn đói cùng thời điểm lục địa này trải qua đại dịch hạch đầu tiên.
Theo một nghiên cứu năm 2024 trên tạp chí Norwegian Archaeological Review, những cuộc khủng hoảng này đã dẫn đến sự suy giảm dân số đáng chú ý trong thế kỷ thứ sáu.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, vào thời điểm bất ổn chính trị và mất mùa, nhiều tộc người sử dụng các vật có giá trị làm lễ vật dâng tặng các vị thần với hy vọng cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn và hiện vật được tìm thấy là một trong số đó.
Giáo sư khảo cổ Håkon Reiersen, Đại học Stavanger cho biết đây là một phát hiện quan trọng vì khả năng tìm được các hiện vật có giá trị như vậy là rất hiếm.
“Đây là lần đầu tiên một hiện vật như vậy được tìm thấy ở hạt Rogaland, và chỉ có 17 phát hiện khác tương tự được tìm thấy ở Bắc Âu cho đến nay”, GS Håkon Reiersen nói.
Ông nói thêm, bao bọc kiếm bằng vàng được tìm thấy đã bị mòn, cho thấy đây là vật được vị thủ lĩnh thường xuyên sử dụng. Đồ vật giá trị này cũng nhấn mạnh vị trí và quyền lực của vị thủ lĩnh trong thời điểm đó.
Hiện vật này dự kiến sẽ được trưng bày tại Bảo tàng Khảo cổ học thuộc Đại học Stavanger.
Tin Gốc: Dân Trí
Khoa Học
Việt Nam lần đầu giải mã gen tế bào gốc ung thư hạch, mở cơ hội điều trị

Loại ung thư nguy hiểm
Theo Viện Hàn lâm Khoa học - Công nghệ Việt Nam, ung thư hạch (u lympho) là bệnh lý ác tính của hệ bạch huyết, xảy ra khi các tế bào lympho phát triển bất thường và mất kiểm soát.
Điều đáng nói là bệnh thường khởi phát âm thầm với những biểu hiện dễ bị bỏ qua như nổi hạch không đau, mệt mỏi hay sụt cân. Dù y học đã có nhiều tiến bộ trong điều trị, hiệu quả vẫn khác nhau rõ rệt giữa các bệnh nhân.
Nguyên nhân được cho là liên quan đến sự khác biệt về gen và tình trạng hoạt động của hệ miễn dịch, những yếu tố chưa được hiểu đầy đủ, đặc biệt trên bệnh nhân Việt Nam.
Trong những năm gần đây, nghiên cứu ung thư hạch đang dần chuyển hướng từ điều trị triệu chứng sang tìm hiểu “gốc rễ” của bệnh ở cấp độ tế bào và di truyền.
Tế bào gốc tạo máu CD34+ là nguồn sinh ra các tế bào miễn dịch cùng với các tế bào như tế bào tua và đại thực bào được xem là những mắt xích quan trọng.
Bên cạnh đó, các gen điều hòa miễn dịch như A20 hay CYLD có thể đóng vai trò quyết định trong việc bệnh tiến triển ra sao và đáp ứng điều trị như thế nào. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa đột biến gen, chức năng tế bào miễn dịch và cơ chế sinh bệnh vẫn còn là khoảng trống lớn.
Xuất phát từ thực tế đó, PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân và nhóm nghiên cứu Viện Sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu vai trò của một số gen điều hòa chức năng tế bào gốc CD34+ và tế bào tua phục vụ công tác điều trị bệnh ung thư hạch".
Nghiên cứu tập trung giải mã các biến đổi gen trên tế bào CD34+ và làm rõ vai trò của các gen điều hòa trong ung thư hạch. Bằng cách kết hợp công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới và chỉnh sửa gen hiện đại, nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ cơ chế bệnh, mở ra hướng tiếp cận điều trị cá thể hóa phù hợp với đặc điểm di truyền của từng bệnh nhân, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị trong tương lai.
Từ phát hiện gen đến gợi mở điều trị trúng đích
Một trong những điểm nổi bật của nghiên cứu là việc giải trình tự hệ gen trên tế bào gốc CD34+, nhóm tế bào rất hiếm nhưng lại được xem là “khởi nguồn” của hệ miễn dịch.
Từ đó, nhóm nghiên cứu đã phát hiện nhiều biến thể gen liên quan trực tiếp đến ung thư hạch, trong đó đáng chú ý là các gen như NCF1, MMP9, VDR và đặc biệt là CNN2, MUC4 những gen xuất hiện với tần suất cao ở bệnh nhân.
Các kết quả này giúp làm rõ hơn bức tranh di truyền của bệnh vốn còn nhiều khoảng trống nhất là trên người Việt Nam.
Nghiên cứu cho thấy, khi hai gen CNN2 và MUC4 hoạt động ở mức thấp, bệnh có xu hướng tiến triển nặng hơn, kèm theo các dấu hiệu như phản ứng viêm tăng hoặc rối loạn các chỉ số máu.
Điều này mở ra khả năng sử dụng các gen này như “tín hiệu cảnh báo sớm”, giúp bác sĩ nhận diện nhóm bệnh nhân nguy cơ cao để có hướng điều trị phù hợp hơn.
Đáng chú ý, việc tập trung vào tế bào CD34+ thay vì chỉ nghiên cứu trực tiếp trên tế bào khối u đã giúp phát hiện những biến thể gen “ẩn” mà trước đây ít được chú ý. Đây được xem là bước tiến quan trọng, góp phần tiếp cận ung thư hạch từ giai đoạn sớm nhất của quá trình hình thành bệnh.
Theo PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân, chính những khác biệt này lý giải vì sao có bệnh nhân đáp ứng điều trị tốt trong khi bệnh nhân khác lại tiến triển nặng hơn. Từ hiểu biết về vai trò của các gen trong hoạt động của hệ miễn dịch, nhóm có thêm cơ sở hướng tới nghiên cứu giải pháp phù hợp hơn cho từng bệnh nhân.
Đặc biệt, nghiên cứu đã chỉ ra rằng gen A20 đóng vai trò như một “công tắc” điều khiển hoạt động của tế bào miễn dịch. Khi gen này hoạt động bất thường, khả năng nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư của tế bào tua và đại thực bào bị ảnh hưởng rõ rệt.
Ngược lại, nếu điều chỉnh được hoạt động của gen A20, hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư có thể được cải thiện.
Một phát hiện đáng chú ý khác là sự khác biệt trong tác động của thuốc hóa trị. Nghiên cứu cho thấy, một số thuốc như Doxorubicin không chỉ tiêu diệt tế bào ung thư mà còn “kích hoạt” hệ miễn dịch tham gia vào quá trình này.
Đặc biệt, khi kết hợp với các thuốc nhắm vào đường tín hiệu như Everolimus, hiệu quả điều trị có thể được tăng cường ở những bệnh nhân có bất thường gen nhất định. Đây là cơ sở quan trọng cho việc phát triển các phác đồ điều trị kết hợp, cá thể hóa theo từng bệnh nhân.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng làm rõ vai trò của gen CNN2 trong việc điều hòa hoạt động của tế bào tua, một trong những “chiến binh” quan trọng của hệ miễn dịch. Gen này ảnh hưởng đến nhiều quá trình như viêm, chết tế bào và khả năng đáp ứng miễn dịch, cho thấy tiềm năng trở thành mục tiêu mới trong điều trị.
Các kết quả đã được công bố trên nhiều tạp chí khoa học uy tín trong và ngoài nước, góp phần khẳng định chất lượng và tính hội nhập quốc tế của công trình. Đồng thời, đề tài cũng tham gia đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu trình độ cao, tạo nền tảng cho các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Việc giải mã các biến đổi gen trong nhóm tế bào này không chỉ giúp làm rõ cơ chế hình thành bệnh mà còn mở ra hướng điều trị trúng đích, cá thể hóa cho từng bệnh nhân trong tương lai.
Tin Gốc: Dân Trí

Hà Nội tập trung hơn 65% nhà khoa học đầu ngành
Hà Nội hiện là địa phương tập trung tiềm lực khoa học công nghệ lớn của cả nước, với khoảng 2.300 tổ chức khoa học và công nghệ, 221 doanh nghiệp khoa học công nghệ, 14 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và hơn 65% nhà khoa học đầu ngành.
Tuy nhiên, thực tế nhiều năm qua cho thấy, tiềm lực lớn chưa đồng nghĩa với kết quả chuyển hóa tương xứng. Không ít nghiên cứu vẫn khó đi đến sản phẩm, công nghệ hoặc giải pháp cụ thể phục vụ phát triển đô thị.
Một trong những nguyên nhân được chỉ ra là hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm, ươm tạo, chuyển giao công nghệ còn thiếu đồng bộ. Liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp chưa đủ chặt chẽ. Việc huy động nguồn lực xã hội cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn hạn chế.
Đặc biệt, thành phố thiếu cơ chế đủ mạnh để lựa chọn nhiệm vụ trọng điểm, giao cho đúng chủ thể có năng lực, khoán theo kết quả và thu hút chuyên gia giỏi.
4 nghị quyết giải điểm nghẽn khoa học công nghệ
Tại kỳ họp chuyên đề đầu tháng 6, HĐND TP Hà Nội đã thông qua 4 nghị quyết nhằm cụ thể hóa Luật Thủ đô, tạo hành lang chính sách mới cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Trong đó, Nghị quyết số 24 quy định một số chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ. Điểm đáng chú ý là cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, khoán kinh phí theo kết quả, sản phẩm; chính sách đối với chuyên gia, nhà khoa học và hỗ trợ chuyển giao công nghệ.
Với nhiệm vụ trọng điểm, thành phố có thể hỗ trợ tối đa 100% kinh phí mua sắm, thuê, vận hành máy móc, thiết bị. Phần kinh phí khoán chi chưa sử dụng hết sau khi hoàn thành nhiệm vụ không bị thu hồi. Đây được xem là điểm mới nhằm giảm tâm lý “làm đúng quy trình hơn làm ra sản phẩm”.
Nghị quyết số 25 tập trung vào phát triển hạ tầng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thành phố sẽ hỗ trợ từ 30% đến 100% chi phí đầu tư, nâng cấp, vận hành trong 3 năm đầu đối với một số loại hạ tầng dùng chung.
Cơ chế này hướng tới việc hình thành các phòng thí nghiệm, trung tâm R&D, cơ sở thử nghiệm, cơ sở ươm tạo, sàn giao dịch công nghệ và nền tảng số dùng chung. Qua đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup, viện, trường có thể tiếp cận thiết bị, dịch vụ thử nghiệm, kiểm định mà không phải tự đầu tư hạ tầng lớn.
Nghị quyết số 26 về thử nghiệm có kiểm soát, hay còn gọi là sandbox. Đây là cơ chế cho phép Hà Nội thử nghiệm công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong phạm vi, thời gian và điều kiện nhất định.
Cơ chế sandbox được kỳ vọng đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nhiều công nghệ mới xuất hiện nhanh hơn tốc độ điều chỉnh của pháp luật. Với quy định này, thành phố có thể kiểm chứng hiệu quả, nhận diện rủi ro trước khi nhân rộng.
Theo Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, dự án thử nghiệm đạt hiệu quả có thể được xem xét ưu tiên mua sắm, đặt hàng, giao nhiệm vụ, đầu tư từ ngân sách thành phố hoặc hỗ trợ phát triển thị trường.
Gần đây, Công ty cổ phần Phenikaa-X đã đề xuất Hà Nội cho phép triển khai sandbox đối với 4 dòng phương tiện tự hành gồm xe buýt mini, robotaxi, xe quét đường và robot giao hàng tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc và khuôn viên Đại học Quốc gia Hà Nội.
Đây là ví dụ cho thấy nhu cầu thử nghiệm công nghệ mới trong môi trường thực tế đang ngày càng rõ nét.
Nghị quyết số 27 quy định một số nội dung và định mức chi quản lý hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước. Quy định này tạo căn cứ để lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí cho các hoạt động như hội đồng, tư vấn, thẩm định, đánh giá, thuê chuyên gia.
Theo tính toán, nhu cầu kinh phí dự kiến khoảng 64,9 tỷ đồng mỗi năm, trong đó ngân sách cấp thành phố khoảng 50,3 tỷ đồng, ngân sách cấp xã khoảng 14,6 tỷ đồng.
Điểm chung của 4 nghị quyết là chuyển cách tiếp cận từ quản lý theo thủ tục sang quản lý theo kết quả. Thay vì chỉ dừng ở nghiên cứu, chính sách mới đặt mục tiêu đưa kết quả khoa học công nghệ vào giải quyết các bài toán cụ thể của Thủ đô.
Nếu được triển khai hiệu quả, các cơ chế đặc thù này có thể giúp Hà Nội thu hẹp khoảng cách giữa tiềm lực nghiên cứu và năng lực ứng dụng, đồng thời tạo thêm không gian cho doanh nghiệp, viện, trường và chuyên gia tham gia vào các nhiệm vụ phát triển thành phố.
Tin Gốc: Dân Trí

Về lý thuyết, một kính viễn vọng không gian đã vượt xa tuổi thọ thiết kế và liên tục suy giảm quỹ đạo sau hơn 20 năm quan sát những vụ nổ dữ dội nhất trong vũ trụ có thể đã đến lúc kết thúc sứ mệnh.
Tuy nhiên, NASA dự kiến chi khoảng 30 triệu USD để kéo dài thời gian hoạt động của Swift - đài quan sát được phóng năm 2004 với thời gian hoạt động thiết kế ban đầu chỉ 2 năm.
Lực cản từ tầng khí quyển trên cao của Trái Đất đang tăng mạnh hơn dự kiến do hoạt động của Mặt Trời, khiến độ cao quỹ đạo của Swift giảm dần và có nguy cơ tái nhập khí quyển vào cuối năm nay.
Sứ mệnh Swift Boost, dự kiến triển khai ngày 30/6, sẽ sử dụng tàu vũ trụ Link do Katalyst Space phát triển.
"Chúng tôi không cho rằng mọi vệ tinh sắp kết thúc vòng đời đều cần được nâng quỹ đạo. Việc chúng quay trở lại khí quyển là một phần tự nhiên của hệ sinh thái không gian", ông Shawn Domagal-Goldman, Giám đốc Ban Vật lý Thiên văn của NASA, cho biết.
Theo ông, Swift là trường hợp đặc biệt nhờ khả năng nhanh chóng chuyển hướng quan sát tới gần như mọi vị trí trên bầu trời để phát hiện các hiện tượng bùng nổ trong vũ trụ.
Lính gác của bầu trời đêm
Được phóng năm 2004 với tổng kinh phí khoảng 250 triệu USD, Swift hoạt động như một đài quan sát chuyên phát hiện các vụ bùng nổ tia gamma ở khoảng cách rất xa.
Các hiện tượng này chỉ kéo dài vài giây nhưng có thể giải phóng lượng năng lượng lớn hơn tổng năng lượng Mặt Trời phát ra trong toàn bộ vòng đời.
Nhờ những đóng góp khoa học quan trọng, sứ mệnh Swift nhiều lần được gia hạn vượt thời gian thiết kế.
Ông Brad Cenko, nhà khoa học phụ trách sứ mệnh, cho biết tên gọi Swift không phải từ viết tắt mà phản ánh khả năng tự động xoay các thiết bị quan sát tia X và tia cực tím tới gần như mọi vị trí trên bầu trời chỉ trong thời gian ngắn.
Năm 2018, NASA đổi tên thành Đài quan sát Neil Gehrels Swift để tưởng nhớ nhà khoa học Neil Gehrels, điều tra viên chính đầu tiên của sứ mệnh.
Theo ông Cenko, vũ trụ luôn biến đổi không ngừng khi gần như mỗi giây đều có một ngôi sao khổng lồ phát nổ ở đâu đó. Vì vậy, nhóm vận hành liên tục cải tiến phương thức điều khiển để Swift có thể phản ứng nhanh với các hiện tượng thiên văn thoáng qua.
Trong khi kính viễn vọng Hubble có thể mất tới hai ngày để chuyển sang mục tiêu mới, Swift chỉ cần vài phút.
Dữ liệu từ Swift góp phần củng cố giả thuyết rằng các nguyên tố nặng như vàng và bạch kim được tạo thành trong những sự kiện năng lượng cực lớn liên quan đến bùng nổ tia gamma, vốn có thể bắt nguồn từ các vụ nổ siêu tân tinh hoặc sự hợp nhất sao neutron.
Năm 2022, Swift ghi nhận vụ bùng nổ tia gamma đặc biệt sáng mang biệt danh BOAT (Brightest Of All Time - sáng nhất mọi thời đại), được xem là sự kiện mạnh nhất từng được quan sát.
Nếu không có biện pháp can thiệp, đài quan sát này sẽ sớm tái nhập khí quyển và bốc cháy.
Sứ mệnh chưa từng có
Swift Boost hiện được lên kế hoạch phóng ngày 30/6, chậm khoảng 3 ngày so với lịch trình ban đầu.
Tên lửa Pegasus XL sẽ được máy bay L-1011 Stargazer đưa lên độ cao thích hợp trước khi tách ra và phóng từ Bãi thử tên lửa Ronald Reagan trên đảo san hô Kwajalein, thuộc quần đảo Marshall.
NASA đã lựa chọn Katalyst Space (bang Arizona) phát triển tàu Link. Công ty chỉ nhận dự án vào tháng 9/2025, tức chưa đầy 9 tháng trước thời điểm phóng.
Trong khoảng thời gian này, Katalyst phải thiết kế, chế tạo và thử nghiệm một tàu vũ trụ hoàn toàn mới, đồng thời bảo đảm khả năng tiếp cận một đài quan sát vốn không được thiết kế để thực hiện thao tác bắt giữ trên quỹ đạo.
Sau khi tiếp cận thành công, Link sẽ nâng quỹ đạo của Swift, giúp kéo dài thời gian hoạt động thêm ít nhất 5 năm.
Đây được xem là một trong những nỗ lực bảo dưỡng trên quỹ đạo táo bạo nhất từ trước đến nay. Ông Cenko thừa nhận áp lực của dự án khiến ông nhiều lần mất ngủ.
"Chắc chắn là như vậy. Tôi đã có không ít đêm không ngủ, nhưng làm việc cùng đội ngũ này cũng mang lại cho tôi sự tự tin rất lớn", ông nói.
Link có kích thước tương đương một chiếc tủ lạnh, được trang bị ba động cơ ion, ba cánh tay robot cùng nhiều cảm biến và hệ thống điều khiển để tiếp cận, giữ và điều khiển Swift.
Theo ông Kieran Wilson, điều tra viên chính của dự án Link, tiến độ phát triển đặc biệt gấp rút chỉ có thể thực hiện nhờ tính cấp bách của nhiệm vụ. Mục tiêu là hoàn tất việc phóng trước khi Swift giảm xuống độ cao không còn phù hợp để tiếp cận.
Nhiều thách thức
Khi được phóng năm 2004, Swift hoạt động ở độ cao khoảng 600km. Do không có động cơ để duy trì quỹ đạo, đài quan sát đang giảm dần độ cao và dự kiến xuống dưới 300km vào khoảng tháng 10.
Nếu điều đó xảy ra, Link có thể không còn đủ thời gian để tiếp cận. Để giảm rủi ro, Katalyst đã thực hiện nhiều thử nghiệm và mô phỏng trên máy tính.
"Chúng tôi dựa rất nhiều vào chuyên môn của NASA để tránh những sai sót cơ bản và tối đa hóa khả năng thành công", đại diện Katalyst cho biết.
Ông Wilson cũng lưu ý vẫn còn nhiều yếu tố tưởng như đơn giản nhưng có thể khiến nhiệm vụ thất bại.
Sau khi phóng, Link sẽ dành vài tuần kiểm tra các hệ thống trước khi tiếp cận Swift. Nếu mọi việc thuận lợi, tàu sẽ dùng các cánh tay robot để giữ đài quan sát rồi từ từ nâng quỹ đạo trong tối đa 3 tháng.
Nếu thành công, đây sẽ là lần đầu tiên một tàu vũ trụ được phát triển trong chưa đầy một năm thực hiện thành công nhiệm vụ bắt giữ và nâng quỹ đạo một đài quan sát đang suy giảm độ cao.
Nếu thất bại, Swift sẽ tiếp tục giảm quỹ đạo và tái nhập khí quyển theo kịch bản đã được dự báo.
Theo ông Cenko, đây là mức rủi ro có thể chấp nhận. Từ tháng 2, nhóm vận hành đã đưa Swift vào chế độ tiêu thụ điện năng thấp và tạm dừng các hoạt động khoa học nhằm làm chậm tốc độ suy giảm quỹ đạo.
Tin Gốc: Dân Trí

