“Đó thực sự là khoảng thời gian kinh hoàng. Tôi thậm chí không muốn nhớ lại”, Kiyota Koji, nhà báo kỳ cựu của đài Asahi TV thuật lại câu trả lời của A tại nhà tù Fuchu ở Tokyo.
Cuộc phỏng vấn được Koji thực hiện cho phóng sự phát sóng trên Asahi TV hồi tháng 3. Người mà ông phỏng vấn là A, một cựu thực tập sinh kỹ thuật khoảng 30 tuổi, đang ngồi tù 3 năm 10 tháng tù vì tội trộm cắp tại nhà tù Fuchu.
Thanh niên Việt Nam này bị xác định liên quan đến đường dây đột nhập nhà dân, trộm tiền mặt, trang sức, gây thiệt hại 6,7 triệu yên. Khi được hỏi đã thực hiện bao nhiêu vụ trộm, A cho biết khoảng chừng 100 vụ, trong đó có 11 vụ bị đưa vào cáo trạng.
“Con số này khiến ngay cả tôi, người nhiều năm theo mảng điều tra án hình sự, cũng cảm thấy bất ngờ”, Koji cho hay.
Phóng sự được Asahi TV thực hiện trong bối cảnh Nhật Bản đang chuẩn bị thay chương trình thực tập sinh kỹ năng bằng chế độ lao động mới từ tháng 4/2027, khiến vấn đề tiếp nhận lao động nước ngoài tiếp tục được chú ý.
Theo nhà báo Koji, 30 phút phóng sự trên truyền hình chưa thể chuyển tải hết những gì ông ghi nhận phía sau song sắt. Ngày 25/5, ông công bố bài viết chi tiết về thực trạng phạm nhân nước ngoài tại nhà tù Fuchu, trong đó có cuộc phỏng vấn phạm nhân A như một lát cắt về những bất cập trong hệ thống tiếp nhận lao động nước ngoài tại Nhật.
Nhà tù Fuchu ở Tokyo có khuôn viên rộng gấp 5,6 lần sân vận động Tokyo Dome, được xem là nhà tù lớn nhất Nhật Bản. Thời điểm ông Koji tác nghiệp, nhà tù có 1.762 phạm nhân đang thụ án, trong đó có 429 người là người nước ngoài, tỷ lệ khoảng 1/4.
Dữ liệu của chính phủ Nhật Bản cho thấy từ năm 2017, phạm nhân người Trung Quốc đứng đầu trong nhóm người nước ngoài thi hành án tại nhà tù Fuchu, tiếp đó là người đến từ Mexico, đảo Đài Loan hay Malaysia.
Tuy nhiên, từ năm 2021, phạm nhân người Việt bắt đầu tăng với 30 người, thuộc nhóm người nước ngoài đông thứ ba tại nhà tù Fuchu. Đến năm 2024, nhóm người Việt vượt qua Trung Quốc, trở thành nhóm đứng đầu với 68 phạm nhân.
Trong nhóm phạm nhân Việt Nam, nhiều người phạm tội trộm cắp như A. Một ngày của A bắt đầu lúc 6h45. Sau khi tù nhân thức dậy, gấp chăn, vệ sinh cá nhân, quản giáo sẽ điểm danh buổi sáng.
Phòng của phạm nhân phân theo từng khu lao động. Sau khi ăn sáng, phạm nhân rời phòng đến xưởng làm việc từ 7h30. A được phân công làm ở xưởng giặt, nơi đòi hỏi phạm nhân phải có hạnh kiểm và thể lực tốt.
Khi phạm nhân Nhật ngày càng già hóa, phạm nhân người nước ngoài trở thành lực lượng khó thay thế trong các khu xưởng lao động. Tại Fuchu, phạm nhân nước ngoài hiện chiếm 7 trong 36 người làm ở bếp và 7 trong 37 người tại xưởng giặt.
“Xã hội Nhật Bản đang phụ thuộc nhiều vào lao động nước ngoài do thiếu nhân lực, và tình trạng tương tự cũng diễn ra phía sau song sắt. Nhà tù vì thế được mô tả như ‘tấm gương phản chiếu xã hội'”, ông Koji giải thích.
A cho biết bắt đầu sa vào phạm tội khi visa hết hạn. “Tôi không tìm được việc trong khi còn nợ nần. Nghe lời bạn bè rủ rê, tôi đi trộm”, A nói.
Nhóm rủ A phạm tội cũng gồm những thực tập sinh Việt Nam bỏ trốn khỏi nơi làm việc, sau đó tập hợp thành đường dây trộm cắp hơn 10 thành viên. Theo quy định khi đó, visa thực tập sinh có thể được gia hạn từng năm, nhưng người lao động phải về nước sau ba năm. A bỏ trốn khỏi nơi thực tập và khi bị bắt đã ở quá hạn lưu trú.
Khoản nợ của A là tiền vay ngân hàng để trang trải chi phí sang Nhật, đến thời điểm phạm tội vẫn còn nợ khoảng 600.000 yên. Chi phí xuất cảnh cao từ lâu được xem là một trong những bất cập lớn nhất của chương trình thực tập sinh kỹ năng ở Nhật Bản.
Theo khảo sát chính thức năm 2022 của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh và Lưu trú Nhật Bản, thực tập sinh Việt Nam phải trả trung bình khoảng 656.000 yen cho cơ quan phái cử trước khi sang Nhật, cao nhất trong các nhóm quốc tịch được khảo sát. Khoảng 80% vay nợ để đi Nhật, với mức nợ trung bình hơn 674.000 yen (khoảng 110 triệu đồng).
A cho biết anh rời công ty thực tập còn do điều kiện làm việc. “Trong hai năm làm thực tập sinh kỹ thuật, tôi thường xuyên bị giám đốc bắt nạt. Trước khi sang, tôi nghĩ mình sẽ được đào tạo kỹ năng nhiều hơn, nhưng đến đây thì chỉ có làm việc, quá nhiều việc. Lương cũng thấp hơn mức đã ký ở Việt Nam. Công việc thì vất vả mà tôi vẫn không trả được nợ, nên tôi bỏ trốn”.
Khi được hỏi tâm trạng lúc phạm tội, A nói: “Ngay cả khi làm điều xấu, tôi vẫn nghĩ nếu mình ở vị trí nạn nhân thì sẽ thế nào. Tôi cũng nghĩ sớm muộn gì mình cũng bị bắt. Giờ nhìn lại, tôi hối hận và tự hỏi vì sao khi đó mình lại làm đến mức ấy”.
Khi được hỏi về tâm lý lo ngại của một bộ phận người Nhật trước các vụ án liên quan thực tập sinh Việt Nam, A nói anh cũng nhận thấy số vụ phạm tội của người Việt xuất hiện nhiều trên tin tức trong tù.
“Nếu ở Việt Nam có người nước ngoài đến phạm tội, tôi cũng sẽ cảm thấy bất an”, A nói, cho biết anh muốn gửi lời xin lỗi tới không chỉ các nạn nhân, mà còn tới tất cả người Nhật. “Người phạm tội đang bị pháp luật trừng phạt, nên tôi mong mọi người nhìn nhận bằng lòng khoan dung”.
Nhà báo Koji nhắc đến việc A bị giám đốc bắt nạt, rồi hỏi trải nghiệm đó có làm thay đổi cách anh nhìn nhận Nhật Bản hay người Nhật không. “Tôi từng nghĩ đây là một đất nước tuyệt vời. Nhưng sang đây, tôi nhận ra Nhật Bản có mặt tốt và cũng có mặt xấu”, A trả lời.
“Đây là câu trả lời khiến người Nhật như tôi cảm thấy rất tiếc”, ông Koji nhận xét.
Phạm nhân nước ngoài gần như chắc chắn bị trục xuất sau khi mãn hạn tù, trừ một số trường hợp còn tư cách lưu trú hợp pháp. Khi còn chưa đầy một năm nữa là ra tù, A nói muốn lập tức tìm việc sau khi về nước để nuôi ba con nhỏ và cha mẹ già, trong bối cảnh gia đình hiện không còn ai khác có thể lao động.
Từ tháng 4/2027, Nhật Bản dự kiến thay chương trình thực tập sinh kỹ năng bằng chế độ Việc làm để phát triển kỹ năng (Ikuseishuro – ESD). Cơ chế mới cho phép người lao động chuyển việc sau ít nhất một năm nếu đáp ứng điều kiện về tiếng Nhật, đồng thời bảo đảm mức lương ngang bằng hoặc cao hơn người Nhật làm cùng công việc.
Chương trình thực tập sinh kỹ năng cũ không giới hạn khoản phí người lao động phải trả cho công ty phái cử. Với chế độ ESD, Nhật Bản đề xuất khống chế khoản phí này ở mức không quá hai tháng lương, nhằm giảm gánh nặng nợ nần cho lao động nước ngoài.
Để đảm bảo minh bạch, Nhật Bản đề xuất ký thỏa thuận hợp tác song phương với các nước phái cử, trong đó quy định cơ chế về mức phí này. Các công ty, tổ chức phái cử phải công khai tiêu chuẩn tính toán các khoản “phí xuất cảnh” thu từ người lao động ESD.
Tuy nhiên, các nội dung cụ thể về ESD chưa được hoàn thiện. Chính phủ Nhật Bản chưa công bố thay đổi chính thức nào. “Hiệu quả của chế độ mới vẫn sẽ phụ thuộc vào cách doanh nghiệp và các chính quyền thực thi”, ông Koji nhận định.
Chủ tịch Quốc hội Myanmar Aung Lin Dwe thông báo ông Min Aung Hlaing giành được 429 trên tổng số 584 phiếu bầu, đắc cử chức tổng thống, theo AP. Hai ứng viên còn lại trở thành phó tổng thống, gồm ông Nyo Saw và bà Nan Ni Ni Aye.
Ông Min Aung Hlaing (70 tuổi) từng giữ cương vị đứng đầu quân đội Myanmar từ năm 2011. Ông lãnh đạo chính quyền Myanmar dưới nhiều chức vụ từ sau cuộc chính biến năm 2021.
Ông Min Aung Hlaing đã rời khỏi chức vụ trong quân đội để tranh cử tổng thống bởi theo hiến pháp, một người không thể cùng lúc nắm giữ hai chức vụ này. Tướng tình báo Ye Win Oo, một phụ tá thân cận của ông Min Aung Hlaing, đã được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo quân đội thay ông.
Các thành viên quốc hội Myanmar được bầu trong 3 giai đoạn từ tháng 12.2025 đến tháng 1 năm nay. Sau đó, hạ viện, thượng viện và quân đội đề cử ra 3 người để quốc hội liên bang bỏ phiếu làm tổng thống. Người được nhiều phiếu nhất trở thành tổng thống và hai ứng viên còn lại làm phó tổng thống.
Ông Nyo Saw là tướng quân đội về hưu và giữ chức thủ tướng từ năm ngoái, từng là cố vấn của ông Min Aung Hlaing. Trong khi đó, bà Nan Ni Ni Aye là chính trị gia người dân tộc Karen thuộc đảng Liên hiệp Đoàn kết và Phát triển (USDP) ủng hộ quân đội. Bà Aye sẽ trở thành người phụ nữ đầu tiên làm phó tổng thống khi nhậm chức vào tuần sau.
Trung Quốc đã gửi lời chúc mừng và tuyên bố sẽ ủng hộ chính quyền mới của Myanmar trong việc duy trì hòa bình và ổn định.
Với tỷ lệ bỏ phiếu 50-47, Thượng viện Mỹ ngày 19/5 đã thúc đẩy biện pháp nhằm hạn chế quyền hạn phát động chiến dịch quân sự của Tổng thống Donald Trump bằng cách yêu cầu phải có sự chấp thuận của quốc hội cho bất kỳ hành động quân sự nào với Iran trong tương lai.
Đây là lần đầu tiên một trong 2 viện của quốc hội Mỹ thúc đẩy một dự luật nhằm giới hạn các hoạt động quân sự của chính quyền chống lại Iran kể từ khi cuộc chiến nổ ra hồi cuối tháng 2.
Tuy nhiên, nghị quyết này vẫn phải trải qua một cuộc bỏ phiếu quyết định cuối cùng và ngay cả khi đó, nó sẽ phải đối mặt với những trở ngại lớn tại Hạ viện do đảng Cộng hòa kiểm soát, nơi vốn đã bác bỏ các nỗ lực tương tự trước đây.
Hơn nữa, gần như chắc chắn nó sẽ bị ông Trump phủ quyết nếu được trình lên Tổng thống.
Dù vậy, cuộc bỏ phiếu đã nhấn mạnh nỗi bất an ngày càng lớn ngay trong nội bộ đảng của Tổng thống Trump khi xung đột bước sang tháng thứ ba, làm cạn kiệt kho dự trữ vũ khí của Mỹ, đặt ra những dấu hỏi về mức độ sẵn sàng chiến đấu của quân đội và đẩy các ước tính chi phí chính thức cho đến nay lên trên mốc 30 tỷ USD.
Nghị quyết này sẽ yêu cầu chính quyền phải đình chỉ hành động quân sự chống lại Iran trừ khi quốc hội cho phép một cách rõ ràng đối với cuộc xung đột, viện dẫn Đạo luật Quyền lực Chiến tranh năm 1973 nhằm hạn chế các chiến dịch quân sự kéo dài được phát động mà không có sự chấp thuận của các nhà lập pháp.
Về phía chính quyền Tổng thống Trump, các quan chức nói rằng Mỹ thực tế đã chấm dứt các hành động thù địch với Iran kể từ khi ban bố lệnh ngừng bắn vào ngày 7/4.
Mặc dù vậy, Tổng thống Trump và các trợ lý của ông nhiều lần cảnh báo Mỹ sẽ nối lại chiến dịch tấn công quân sự Iran với tên gọi mới nếu Tehran không nhanh chóng đạt thỏa thuận.
Phó Tổng thống Mỹ JD Vance cho biết chính quyền của ông Trump vẫn ưu tiên một giải pháp ngoại giao cho cuộc xung đột với Iran, nhưng đã sẵn sàng tái khởi động cuộc chiến nhằm đảm bảo rằng Tehran không thể sở hữu vũ khí hạt nhân.
Ông Vance khẳng định Mỹ đã làm suy yếu năng lực quân sự thông thường của Iran thông qua 6 tuần đầu tiên của cuộc chiến.
“Điều đó đã được thực hiện thành công. Chúng ta luôn có thể làm nhiều hơn một chút, nhưng vị thế của chúng ta hiện nay là Tổng thống đã chỉ thị cho chúng tôi phải đàm phán một cách quyết liệt với Iran. Chúng ta đã đạt được nhiều tiến triển”, ông nói.
Ông nhấn mạnh: “Chúng tôi nghĩ rằng Iran muốn thực hiện một thỏa thuận. Vì vậy, chúng ta đang ở một vị thế khá tốt, nhưng vẫn có một phương án B, và phương án B là chúng ta có thể tái khởi động chiến dịch quân sự để tiếp tục theo đuổi tiến trình nhằm đạt được các mục tiêu của nước Mỹ. Chúng ta sẽ không chấp nhận một thỏa thuận cho phép Iran sở hữu vũ khí hạt nhân. Vì vậy, như Tổng thống vừa nói với tôi, chúng ta đã sẵn sàng nạp đạn, khóa mục tiêu”.
Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth cùng Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Dan Caine hôm 29/4 điều trần trước Ủy ban Quân vụ Hạ viện về chiến lược của nước này trong xung đột với Iran.
Nghị sĩ John Garamendi, thành viên đảng Dân chủ, chỉ trích chính phủ Mỹ về xung đột. "Tổng thống Mỹ đã tự đẩy mình và đất nước sa lầy vào một cuộc chiến khác ở Trung Đông", nghị sĩ Garamendi nói.
Bộ trưởng Hegseth lập tức đáp trả nghị sĩ Dân chủ, cho rằng "sự căm ghét" nhằm vào Tổng thống Donald Trump đã làm ông Garamendi "mù quáng trước sự thật về thành công của cuộc chiến và những rủi ro lịch sử mà ông Trump đang giải quyết". "Ngài gọi đó là vũng lầy và giúp kẻ thù của chúng ta có tư liệu tuyên truyền. Tuyên bố này thật đáng xấu hổ", ông nói.
Bộ trưởng Hegseth cho rằng Mỹ giờ đây sẽ có thỏa thuận tốt hơn và đảm bảo Iran không bao giờ có vũ khí hạt nhân. "Đây là cuộc chiến sinh tồn, nhằm bảo đảm sự an toàn của người dân Mỹ. Chính quyền tự hào về nỗ lực này", ông cho hay.
Trong phiên điều trần, ông cũng kêu gọi quốc hội Mỹ phê duyệt ngân sách quân sự 1.500 tỷ USD và mô tả một số nhà lập pháp là "trở ngại lớn nhất" đối với nỗ lực chiến tranh của Mỹ. "Đối thủ lớn nhất mà chúng ta đối mặt vào lúc này là những lời lẽ liều lĩnh, vô dụng và mang tính thất bại của các đảng viên Dân chủ tại quốc hội, cũng như một số thành viên Cộng hòa", ông nói.
Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Jules Hurst trình bày với Ủy ban Quân vụ Hạ viện Mỹ rằng chi phí ước tính cho chiến dịch nhằm vào Iran hiện là 25 tỷ USD và đang tiếp tục tăng, chủ yếu từ đạn dược cùng các hoạt động vận hành, bảo trì và thay thế thiết bị.
Xung đột Trung Đông bùng phát ngày 28/2 khi Mỹ - Israel tấn công hàng loạt mục tiêu ở Iran. Tehran sau đó đáp trả với chiến dịch trả đũa nhằm vào hàng loạt cơ sở quân sự của Washington tại khu vực, cũng như hạ tầng của nhiều quốc gia vùng Vịnh.
Hai bên đạt lệnh ngừng bắn từ ngày 8/4 và đã gia hạn để đàm phán, nhưng chưa thể tìm được tiếng nói chung để đạt thỏa thuận chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến.
Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI) đánh giá chiến dịch trả đũa của Iran khiến Mỹ thiệt hại ít nhất 5 tỷ USD, với hơn 100 mục tiêu trúng đòn tại 11 căn cứ. Trong số này có máy bay cảnh báo sớm E-3G bị phá hủy và nhiều phi cơ tiếp dầu hư hỏng ở căn cứ Prince Sultan tại Arab Saudi.
Các mục tiêu khác gồm trụ sở Bộ tư lệnh Hạm đội 5 hải quân Mỹ ở Bahrain, một đường băng trong căn cứ Al Udeid tại Qatar, nhiều nhà chứa máy bay và nhà kho thuộc căn cứ Ali Al Salem ở Kuwait, một kho đạn tại căn cứ Erbil ở Iraq, cùng kho nhiên liệu, nhà chứa máy bay và doanh trại ở căn cứ Al Dhafra của Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất.