Việt Nam đang đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030, kéo theo nhu cầu vốn khổng lồ để tạo động lực cho nền kinh tế bứt phá.
Riêng trong lĩnh vực hạ tầng, hàng loạt dự án trọng điểm đang được triển khai đồng loạt như sân bay Long Thành, cao tốc Bắc – Nam, các tuyến vành đai, cảng biển, năng lượng…đều đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn và liên tục trong nhiều năm.
Tuy nhiên, trong khi thị trường vốn vẫn chưa phát triển đủ chiều sâu, tín dụng ngân hàng tiếp tục là “mạch máu” dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Điều này đặt ra áp lực không nhỏ lên hệ thống ngân hàng, đồng thời làm nổi lên yêu cầu cấp thiết phải tái cấu trúc các kênh huy động vốn cho tăng trưởng.
Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, dư nợ tín dụng của toàn nền kinh tế trong giai đoạn 2021 – 2025 tăng rất mạnh, luôn duy trì mức tăng 2 con số. Đặc biệt, tốc độ tăng trưởng của dư nợ tín dụng đạt “đỉnh” với 17,87%, đạt mức 18,4 triệu tỷ đồng. Bước sang quý I/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Trao đổi với Người Đưa Tin, TS. Nguyễn Đức Độ – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính, Học viện Tài chính cho rằng ngân hàng hiện vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế. Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo việc tăng trưởng tín dụng ở mức quá cao có thể tạo ra những rủi ro đối với an toàn của hệ thống tài chính, ngân hàng.
Theo ông Độ, trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn duy trì ở mức cao, trong khi tăng trưởng huy động vốn lại không theo kịp. Đặc biệt, năm 2025, tăng trưởng tín dụng tăng rất mạnh tới 17,87% có một phần đáng kể “chảy” vào lĩnh vực bất động sản, khiến tín dụng bất động sản tăng mạnh.
“Nếu tiếp tục đẩy tăng trưởng tín dụng lên quá cao sẽ gây áp lực lên mặt bằng lãi suất. Khi lãi suất tăng, nhiều doanh nghiệp và dự án đầu tư có thể không còn đủ khả năng hấp thụ vốn, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như chất lượng tăng trưởng”, ông Độ nói.
TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng nếu tiếp tục đẩy tăng trưởng tín dụng lên quá cao sẽ gây áp lực tăng lãi suất. Khi lãi suất tăng các dự án và một số doanh nghiệp có thể không đủ khả năng chịu được lãi suất đó, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và hiệu quả đầu tư.
Theo vị chuyên gia, định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026 của Ngân hàng Nhà nước là mức tương đối phù hợp trong bối cảnh hiện nay. Về dài hạn, vai trò của chính sách tiền tệ cần ưu tiên nhiều hơn cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô thay vì liên tục gánh trọng trách thúc đẩy tăng trưởng thông qua mở rộng tín dụng.
Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam có khoảng 1,1 triệu doanh nghiệp. Trong đó, có đến gần 98% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đóng vai trò nòng cốt của nền kinh tế.
Trong mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026 – 2030, bên cạnh vai trò “đầu tàu” của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn, sự đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng để mở rộng dư địa tăng trưởng.
Tuy nhiên, bài toán lớn nhất của nhóm doanh nghiệp này vẫn là khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là vốn tín dụng ngân hàng. Với quy mô nhỏ, năng lực tài chính hạn chế, thiếu tài sản bảo đảm và mức độ minh bạch chưa cao, nhiều doanh nghiệp gặp khó trong việc đáp ứng điều kiện vay vốn, dù nhu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng lớn.
Đề cập đến khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp hiện nay, TS. Nguyễn Đức Độ cho biết các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang thiếu vốn, song đây lại là nhóm có mức độ rủi ro cao hơn, chi phí giám sát khoản vay lớn hơn và tính minh bạch tài chính cũng hạn chế hơn.
“Vì vậy, các ngân hàng thường ưu tiên cho vay đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, tình hình tài chính rõ ràng và khả năng kiểm soát rủi ro tốt hơn”, ông Độ nói.
Về vai trò của hệ thống ngân hàng trong thời gian tới, ông Độ nhận định ngành ngân hàng hiện đã ở trạng thái “quá tải” khi phải đảm nhận phần lớn vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế. Mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% đã là nỗ lực lớn, trong khi việc giảm thêm lãi suất cũng không dễ thực hiện.
Do đó, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn các kênh dẫn vốn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán để giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng. Nếu tiếp tục đặt quá nhiều gánh nặng lên ngân hàng, nguy cơ mất an toàn hệ thống và tác động ngược đến nền kinh tế là điều cần được lưu ý.
TS. Nguyễn Đức Độ cho rằng sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa hiện nay về cơ bản vẫn được thực hiện thường xuyên giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đã có dấu hiệu quá tải, ông nhận định vai trò của chính sách tiền tệ sẽ cần tập trung nhiều hơn vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, chính sách tài khóa sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy tăng trưởng hai con số.
Còn theo TS. Võ Trí Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng cho rằng, nguồn lực cho nền kinh tế hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng.
Trong ngắn hạn, chưa thể thay đổi ngay lập tức vai trò của tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, về trung và dài hạn, yêu cầu bắt buộc là phải phát triển thị trường vốn.
Theo ông Võ Trí Thành, cần đẩy mạnh kênh huy động qua thị trường chứng khoán, phát hành cổ phiếu (IPO), trái phiếu và phát triển các loại hình quỹ đầu tư. Đây sẽ là những kênh dẫn vốn trung, dài hạn bền vững hơn cho doanh nghiệp.
Riêng với hệ thống ngân hàng, mục tiêu vẫn là điều hòa tốt nhất giữa chống lạm phát và hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó.
Mở cửa thị trường sáng nay 29.4, giá bạc bật tăng so với chốt ngày 28.4, bán ra quanh mức trên 76 triệu đồng/kg.
Lúc 8 giờ 31, Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam niêm yết giá mua vào - bán ra mỗi 1 kg bạc là 73,76 - 76,053 triệu đồng, tăng 187.000 - 186.000 đồng.
Tại thời điểm 8 giờ 34, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý niêm yết mua vào - bán ra bạc 1 kg là 74,079 - 76,373 triệu đồng, tăng 560.000 - 587.000 đồng.
Vào 8 giờ 38, Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI niêm yết giá bạc 5 lượng ở mức 13,86 - 14,39 triệu đồng, tăng 10.000 đồng.
Chính thức tham gia thị trường bạc vật chất từ 28.4, giá bạc 1 kg được Công ty Vàng bạc đá quý Bảo Tín Mạnh Hải niêm yết lúc 8 giờ 33 hôm nay là 73,865 - 76,159 triệu đồng, tăng 346.000 - 374.000 đồng.
So với mức giá cao nhất trong tháng 4 ghi nhận ngày 15.4 (bán ra 83,4 triệu đồng/kg) và mức giá cao nhất từ tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (bán ra gần 99 triệu đồng/kg), giá mỗi kg bạc đã giảm lần lượt hơn 7 triệu đồng và hơn 22 triệu đồng.
Trên thị trường thế giới, giá bạc giao ngay lúc 9 giờ 40 (giờ Việt Nam) là 73,55 USD/ounce, tăng 0,59 USD/ounce (tương đương 0,81%) so với chốt phiên hôm qua.
Trong Báo cáo triển vọng thị trường hàng hóa tháng 4, Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, giá bạc đã kết thúc quý 1/2026 với mức tăng 55% so với quý 4/2025.
Đà tăng của vàng và bạc đã chậm lại trong những tháng gần đây khi tình hình hỗn loạn ở Trung Đông tiếp tục đẩy giá năng lượng tăng cao, làm dấy lên lo ngại lạm phát và gia tăng kỳ vọng về việc tăng lãi suất.
Tuy nhiên, WB kỳ vọng giá vẫn sẽ có thêm một năm tăng trưởng mạnh. Trong dự báo cập nhật, các nhà phân tích cho rằng, giá bạc sẽ đạt trung bình khoảng 70 USD/ounce trong năm nay, tăng 76% so với năm trước.
Cụ thể, về nguyên tắc điều chỉnh giá bán xăng dầu, Bộ Công thương đề xuất giao quyền quyết định giá cho doanh nghiệp. Theo đó, giá bán buôn và giá bán lẻ xăng dầu trong và ngoài hệ thống do thương nhân đầu mối, thương nhân phân phối tự quyết định, trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật về giá và cơ chế thị trường. Giá bán buôn (đối với dầu mazut) và giá bán lẻ xăng dầu của thương nhân đầu mối được xác định theo công thức quy định.
Giá bán lẻ xăng dầu của các cửa hàng thuộc hệ thống phân phối không được cao hơn mức giá do thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối công bố - là đơn vị cung cấp nguồn hàng cho các cửa hàng này.
Giá bán lẻ xăng dầu tại các cửa hàng không thuộc hệ thống phân phối của thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối sẽ được thương nhân bán lẻ quyết định, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về giá và theo cơ chế thị trường.
Đối với địa bàn xa cảng, xa kho đầu mối, xa cơ sở sản xuất xăng dầu, nếu có chi phí thực tế phát sinh hợp lý, hợp lệ (đã được kiểm toán) tăng cao dẫn đến giá bán cao hơn giá bán tính toán theo công thức, thương nhân đầu được quyết định giá bán thực tế tại địa bàn đó để bù đắp chi phí phát sinh. Mức tăng này không được vượt quá 2% so với giá bán lẻ do thương nhân công bố tại cùng thời điểm.
Tại địa bàn xa cảng, xa kho đầu mối, xa cơ sở sản xuất, giá bán lẻ xăng dầu do thương nhân phân phối, thương nhân bán lẻ quyết định. Song, không được vượt quá giá bán lẻ xăng dầu do thương nhân đầu mối bán xăng dầu cho thương nhân đó công bố tại cùng địa bàn và cùng thời điểm.
Dự thảo cũng quy định, các thương nhân sau khi điều chỉnh giá sẽ thực hiện kê khai, gửi về Bộ Công thương hoặc UBND cấp tỉnh - nơi thương nhân có hệ thống phân phối; đồng thời, kết nối mạng với cơ quan quản lý nhà nước về dữ liệu kê khai giá theo quy định.
Về công thức giá bán xăng dầu, dự thảo nêu rõ giá bán xăng dầu bằng (=) giá mua xăng dầu cộng (+) chi phí tạo nguồn cộng (+) chi phí kinh doanh định mức cộng (+) lợi nhuận cộng (+) thuế.
Từ công thức trên, theo Bộ Công thương, giá mua xăng dầu do thương nhân tự xác định theo thực tế kinh doanh. Chi phí tạo nguồn (từ nhập khẩu và mua trong nước) do thương nhân tự xác định theo thực tế kinh doanh.
Chi phí kinh doanh định mức là chi phí lưu thông xăng dầu trong nước (gồm chi phí bán buôn, chi phí bán lẻ) của thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu (đã bao gồm chi phí dành cho thương nhân phân phối xăng dầu, thương nhân bán lẻ xăng dầu).
Chi phí kinh doanh định mức hiện hành được sử dụng làm mức chi phí khởi điểm. Khi nghị định này có hiệu lực thi hành, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính công bố chi phí kinh doanh định mức được sử dụng làm mức khởi điểm.
Chi phí kinh doanh định mức hàng năm được điều chỉnh tăng, giảm theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) thực tế bình quân của năm trước do cơ quan Thống kê công bố.
Định kỳ 3 năm/lần, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp các bộ, ngành có liên quan rà soát, công bố chi phí kinh doanh định mức cho thời kỳ tiếp theo để thương nhân thực hiện.
Trường hợp chi phí kinh doanh định mức biến động bất thường, tác động đến nguồn cung xăng dầu và có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng hoặc các chính sách liên quan tác động đến sự tăng giảm chi phí kinh doanh định mức, Bộ Công thương chủ trì, phối hợp các bộ, ngành có liên quan báo cáo, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép rà soát chi phí kinh doanh định mức được sử dụng làm gốc trước thời hạn định kỳ và công bố để thương nhân thực hiện.
Đáng chú ý, trong công thức tính giá, dự thảo đề xuất phần lợi nhuận sẽ do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu tự xác định theo thực tế kinh doanh. Theo đó, các thương nhân đầu mối, phân phối, bán lẻ xăng dầu đều phải công bố giá bán buôn (dầu mazut), giá bán lẻ xăng trên trang thông tin điện tử của thương nhân, trên các phương tiện thông tin truyền thông khác (nếu có).
Song song đó, thông báo công khai giá bán lẻ xăng dầu của thương nhân tại cửa hàng, điểm bán xăng dầu. Thời gian công bố giá bán xăng dầu thực hiện ngay sau khi điều chỉnh giá bán xăng dầu.
Nội dung được nêu trong Tờ trình về việc chấp thuận phê duyệt phương án tuyến công trình theo tuyến của dự án tuyến đường sắt Bến Thành - Cần Giờ mà Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP.HCM vừa gửi UBND TP.
Theo Sở Quy hoạch - Kiến trúc, tuyến metro Bến Thành - Cần Giờ sẽ bắt đầu tại Km0+00 khu vực công viên 23/9 (chợ Bến Thành), đi về hướng đông nam dọc theo đường Ký Con vượt qua rạch Bến Nghé sang đường Vĩnh Khánh. Tuyến đi cắt qua đường Hoàng Diệu sau đó đi vào đường Nguyễn Tất Thành.
Đến gần khu vực cầu Tân Thuận 2, tuyến chuyển hướng đông nam sang đường Nguyễn Văn Linh qua nút giao với đường lên cầu Phú Mỹ và vào đường Nguyễn Lương Bằng, sau đó đi vào giữa đường Nguyễn Lương Bằng, đường 15B, đường D1 đến cầu vượt sông Rạch Đĩa sang xã Nhà Bè.
Sau khi sang xã Nhà Bè, tàu metro này sẽ đi qua khu tái định cư Vạn Phát Hưng, khu dân cư Phú Xuân và vượt qua sông Soài Rạp sang xã Bình Khánh thuộc. Tới đây, tiếp tục chuyển hướng đông và đi song song với đường bộ cao tốc Bến Lức - Long Thành, sau đó chuyển hướng đông nam vượt qua cao tốc Bến Lức - Long Thành tại km18+800 và đi vào hành lang đường Rừng Sác.
Tuyến tiếp tục đi thẳng, bám theo đường Rừng Sác, vượt qua đường Trần Quang Nhơn sang xã An Thới Đông rồi vượt qua sông An Nghĩa, Rạch Đôn thì chuyển hướng đông nam vượt sông Lôi Giang; bám theo đường Rừng Sác vượt qua sông Dinh Bà (cầu Dần Xây) sang xã Cần Giờ.
Sau khi vào xã Cần Giờ, hướng tuyến cơ bản bám theo đường Rừng Sác đến cuối đường Rừng Sác tại nút giao với đường Duyên Hải rồi tiếp tục đi thẳng về vị trí cuối tuyến tại Khu đất 39 ha.
Về nhà ga, dự án giai đoạn 1 sẽ bố trí hai ga tại Bến Thành, Cần Giờ và 4 ga giai đoạn 2 gồm Tân Thuận, Tân Mỹ, Nhà Bè, Bình Khánh.
Về cơ bản, hướng tuyến này phù hợp với định hướng phát triển giao thông công cộng, phát triển kinh tế của TP.HCM và nhận được sự đồng thuận từ 13 đơn vị được lấy ý kiến.
Tuy nhiên, Sở Quy hoạch - Kiến trúc lưu ý: Công ty VinSpeed hiện vẫn bảo lưu đề xuất phương án tuyến đi nổi từ Km3+284 tại khu vực trên đường Nguyễn Tất Thành, thay vì đi ngầm. Công ty giải trình phương án đề xuất đã xem xét đầy đủ về hiệu quả kinh tế, các yếu tố kỹ thuật, thẩm mỹ kiến trúc... dung hòa lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người dân.
Trong khi đó, phương án mở rộng đường Nguyễn Tất Thành chưa được UBND TP xem xét chấp thuận. Vì thế, Sở Quy hoạch - Kiến trúc kiến nghị UBND TP giao Sở Xây dựng tham mưu, sớm trình HĐND TP quyết định chủ trương đầu tư mở rộng đường Nguyễn Tất Thành đồng thời với thời gian triển khai dự án đường sắt Bến Thành - Cần Giờ nhằm đảm bảo đồng bộ trong quá trình đầu tư.
Trước đó, UBND TP.HCM đã gửi Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM tờ trình về việc thực hiện quy hoạch khu vực cảng Nhà Rồng - Khánh Hội và mở rộng Khu di tích - Bảo tàng Hồ Chí Minh (chi nhánh TP.HCM). Trong đó, nêu phương án mở rộng đường Nguyễn Tất Thành lên tối thiểu 8 làn xe, hướng về phía khu vực cảng Nhà Rồng - Khánh Hội.