Từ đầu năm tới nay, giá vàng thế giới biến động trồi sụt rất khó lường. Đầu năm, giá vàng tăng vọt lên mức cao nhất vào ngày 29.1 là gần 5.600 USD/ounce. Đầu tháng 3, giá vàng dao động 5.200 – 5.400 USD/ounce, sau đó có tăng, có giảm, xu hướng giảm là chính.
Giá vàng dần “thủng” các ngưỡng kháng cự quan trọng như 5.000 USD/ounce, 4.500 USD/ounce, thấp nhất ngày 23.3, có thời điểm ghi nhận giá dưới 4.200 USD/ounce.
Từ cú giảm sâu đó tới nay, giá vàng lình xình có lên, có xuống, song không quay lại mức 5.000 USD/ounce, cao nhất khoảng 4.800 USD/oune. Giá vàng đóng cửa tuần này ở 4.676 USD/ounce.
Nhìn lại lịch sử thị trường vàng, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, có thể nhận diện một số chu kỳ điển hình “tăng đỉnh – sập sâu – đi ngang kéo dài”.
Đợt thứ nhất là sau đỉnh năm 1980. Vàng khi đó tăng mạnh do lạm phát cao và bất ổn địa chính trị, nhưng bước ngoặt đến khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thực hiện chính sách thắt chặt quyết liệt, đẩy lãi suất lên mức rất cao. Kết quả, vàng sụp đổ mạnh, bước vào giai đoạn “ngủ đông” kéo dài gần 2 thập kỷ, đến đầu những năm 2000 mới thực sự hồi phục.
Đợt thứ hai là chu kỳ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Vàng đạt đỉnh lịch sử năm 2011 nhờ các gói nới lỏng định lượng (QE) và lãi suất thấp kéo dài.
Tuy nhiên, từ năm 2013, khi Fed phát tín hiệu thu hẹp QE, thị trường đảo chiều mạnh, vàng giảm sâu và mất khoảng 30 – 40% giá trị trong vòng vài năm, sau đó đi ngang tích lũy khá dài trước khi bước vào chu kỳ tăng mới.
Đợt thứ ba mang tính ngắn hạn hơn là giai đoạn 2020 – 2022. Sau khi đạt đỉnh trong đại dịch Covid-19 nhờ chính sách tiền tệ siêu nới lỏng, vàng nhanh chóng điều chỉnh khi lạm phát tăng cao buộc các ngân hàng T.Ư quay lại chu kỳ thắt chặt. Dù mức giảm không kéo dài hàng thập kỷ, nhưng vẫn cho thấy rõ tính nhạy cảm của vàng với lãi suất thực.
“Điểm chung của các chu kỳ này là vàng thường đạt đỉnh khi chính sách tiền tệ ở trạng thái nới lỏng cực độ, và sụt giảm khi chu kỳ thắt chặt bắt đầu. Sau cú sốc giảm, thị trường thường bước vào giai đoạn tích lũy dài do thiếu động lực tăng mới”, ông Nhân nói.
Các đợt “sập giá” của vàng luôn có một số điểm tương đồng mang tính quy luật, nhưng bối cảnh hiện nay xuất hiện những khác biệt đáng lưu ý.
Vai trò của các ngân hàng T.Ư trong việc mua ròng vàng đang lớn hơn nhiều so với các chu kỳ trước, tạo ra lực đỡ dài hạn.
Cạnh đó, thế giới đang bước vào giai đoạn phân mảnh tài chính và xu hướng giảm phụ thuộc vào USD, khiến vàng tiếp tục được coi là tài sản dự trữ chiến lược, chứ không đơn thuần là công cụ đầu cơ.
Rủi ro địa chính trị hiện nay mang tính kéo dài, khó dự báo hơn, làm cho nhu cầu phòng ngừa rủi ro chưa thể suy giảm hoàn toàn.
“Kịch bản giá vàng sập sâu và đi ngang như sau năm 1980 hoàn toàn có thể lặp lại về mặt ngắn hạn hoặc trung hạn nếu lãi suất duy trì cao lâu hơn dự kiến. Tuy nhiên, xác suất xuất hiện một chu kỳ suy giảm kéo dài hàng thập kỷ thấp hơn, bởi nền tảng cầu của vàng hiện đã đa dạng, bền vững hơn”, ông Nhân dự báo.
Về trung và dài hạn, theo ông Nhân, yếu tố chi phối mang tính quyết định tới giá vàng vẫn là chính sách của Fed.
Diễn biến gần đây cho thấy, khi lạm phát còn dai dẳng, Fed có xu hướng duy trì lãi suất cao hơn kỳ vọng, làm tăng lợi suất thực và gây áp lực lên vàng. Ngược lại, nếu chu kỳ nới lỏng quay trở lại vào cuối năm 2026, đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp vàng phục hồi. Các yếu tố hỗ trợ vàng dài hạn vẫn hiện hữu.
Đa số tổ chức lớn đang đưa ra vùng dự báo khá rộng cho năm 2026. Kịch bản cơ sở, giá vàng dao động quanh 4.000 – 5.000 USD/ounce; trong khi các kịch bản tích cực hơn có thể hướng tới 5.400 – 6.000 USD nếu xuất hiện chu kỳ giảm lãi suất và rủi ro địa chính trị leo thang. Ngược lại, nếu lãi suất duy trì cao kéo dài, vùng 3.800 – 4.200 USD sẽ đóng vai trò đáy cân bằng.
“Tóm lại, vàng vẫn được hỗ trợ trong dài hạn nhưng biên độ biến động sẽ lớn hơn, phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ chính sách tiền tệ. Kịch bản lập đỉnh mới trong năm 2026 là khả thi, nhưng không còn mang tính một chiều như giai đoạn 2024 – 2025”, ông Nhân nhận định.
TS Đào Lê Trang Anh, giảng viên cao cấp ngành tài chính (Đại học RMIT Việt Nam), cũng cho rằng, về dài hạn, các nền tảng hỗ trợ cho vàng vẫn còn, bao gồm bất ổn địa chính trị, rủi ro nợ công toàn cầu, nhu cầu đa dạng hóa dự trữ của ngân hàng T.Ư và vai trò phòng ngừa rủi ro hệ thống của vàng trong danh mục đầu tư.
“Năm nay, mặt bằng dự báo hiện khá phân hóa. Kịch bản thận trọng đặt vùng giá xoay quanh 4.600 – 5.000 USD/ounce. Trong kịch bản các rủi ro vĩ mô và chính sách tiếp tục hiện hữu, giá vàng hoàn toàn có thể kiểm định các vùng đỉnh mới. Vùng giá tiềm năng được nhiều nhà phân tích nhắc tới quanh 5.500 – 6.200 USD/ounce, dù biến động sẽ còn rất lớn”, bà Trang Anh nói.
Lý giải việc không tiếp tục bán song song cả xăng khoáng và xăng sinh học E10 như nhiều đề xuất trước đó, Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, Việt Nam đã từng áp dụng song song xăng khoáng và xăng sinh học nhằm tạo thời gian để người dân làm quen, thị trường thích nghi, doanh nghiệp từng bước hoàn thiện hạ tầng phân phối, kỹ thuật và nguồn cung.
"Lộ trình triển khai được thực hiện từng bước, không mang tính áp đặt. Từ năm 2012, Chính phủ đã ban hành Quyết định 53 về lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống. Sau nhiều năm thử nghiệm, xăng E5 được phân phối chính thức trên toàn quốc từ năm 2018. Tuy nhiên, việc đưa xăng E10 ra thị trường theo Quyết định 53 đến nay vẫn chưa thực hiện được. Do đó, việc chuyển đổi sang xăng sinh học E10 không phải là bước đi đột ngột mà đã có lộ trình từ trước", Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân khẳng định.
Việc bán song song hai loại xăng sinh học E5 và E10 trên toàn quốc được xem là bước tiếp theo trong lộ trình triển khai nhiên liệu sinh học theo tinh thần Quyết định 53, phù hợp với thực tiễn, đúng chủ trương của Đảng và Chính phủ về chuyển đổi năng lượng, phát triển kinh tế xanh, giảm phát thải carbon cũng như xu hướng phát triển bền vững trên thế giới.
Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh: "Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy nếu duy trì đồng thời quá nhiều chủng loại nhiên liệu trong thời gian dài sẽ phát sinh nhiều bất cập như tăng chi phí logistics, tồn chứa, phân phối; gây khó khăn cho doanh nghiệp bán lẻ; đồng thời làm giảm hiệu quả của chính sách chuyển đổi năng lượng xanh".
Đặc biệt, xăng sinh học E10 đã được nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá là phù hợp với phần lớn phương tiện đang lưu hành hiện nay. Qua rà soát, đánh giá và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Bộ Công thương nhận thấy phần lớn ô tô, xe máy tại Việt Nam đều có thể sử dụng xăng E10 theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Xăng E10 hiện đã được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia như Mỹ, Brazil, Thái Lan hay Philippines… Tuy nhiên, đối với một số phương tiện quá cũ, ít sử dụng hoặc hệ thống nhiên liệu chưa được bảo dưỡng phù hợp, Bộ Công thương khuyến cáo người dân cần kiểm tra, bảo dưỡng định kỳ hệ thống nhiên liệu và sử dụng nhiên liệu đúng theo khuyến cáo của nhà sản xuất để bảo đảm hiệu quả vận hành.
"Trong lộ trình nêu rõ, chuyển sang dùng xăng E10 và tiếp tục duy trì phân phối xăng E5 RON92. Xăng E5 được duy trì đến 2030 với mục tiêu chính là để phục vụ cho những dòng phương tiện cũ và chưa tương thích với dòng xăng E10", Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nói.
GS-TS Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (Đại học Kinh tế TP.HCM), cho rằng: Về vĩ mô, Chính phủ đã có cam kết với thế giới giảm phát thải và tiến đến net zero vào năm 2050. Theo đó, các sản phẩm sử dụng trong nền kinh tế phải hướng đến yếu tố xanh ngay từ bây giờ. Xăng sinh học, điện tái tạo, bao bì tự hủy… là các chính sách bắt buộc phải triển khai và từng bước thực hiện hiệu quả. Thực tế, từ hơn 10 năm trước, Việt Nam đã đặt ra lộ trình sử dụng xăng E5 và E10. Nếu đi đúng lộ trình, xăng E10 đã có thể bán ra thị trường từ 9 năm trước. Do đó, Bộ Công thương hoàn toàn có lý khi giải thích đây là chính sách đi tiếp lộ trình đã được vạch ra từ 14 năm trước.
Ông Bùi Ngọc Bảo, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, cũng khẳng định xăng E10 là lựa chọn tối ưu vì giúp chiến lược chuyển đổi năng lượng xanh, đáp ứng nhiều mục tiêu cùng lúc. Đó là bảo đảm đủ nguồn cung cho thị trường trong bối cảnh năng lượng thế giới biến động mạnh; giúp người tiêu dùng dễ sử dụng; hạn chế phát sinh chi phí đầu tư thêm cột bơm cho doanh nghiệp; đồng thời đáp ứng cam kết giảm phát thải của Chính phủ.
Theo ông Bùi Ngọc Bảo, việc tiếp tục duy trì bán xăng E5 đến năm 2030 là phù hợp để phục vụ nhóm phương tiện cũ. Thực tế, để phối trộn thành công xăng E10 lúc này, doanh nghiệp đầu mối phải tốn nhiều chi phí hơn để pha chế, thay vì trước đây chỉ cần nhập xăng khoáng để bán.
"Ngoài các doanh nghiệp đầu mối lớn, nhiều doanh nghiệp nhỏ đang gặp không ít khó khăn vì chủ yếu phải thuê gia công phối trộn, điều này làm tăng chi phí đầu vào cho mặt hàng xăng sinh học. Vì vậy, chính sách cần có sự hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn đầu chuyển đổi", ông Bùi Ngọc Bảo nói thêm.
GS-TS Võ Xuân Vinh cho rằng: Một cửa hàng kinh doanh nếu bán nhiều sản phẩm thì người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn là rất tốt. Tuy nhiên, với nhiên liệu, mỗi cửa hàng bán lẻ xăng dầu đều phải đầu tư các trụ bơm với chi phí rất lớn, để bán song song rồi khách hàng theo thói quen tập trung mua một loại xăng truyền thống, như vậy ý nghĩa lớn lao của chiến lược chuyển đổi năng lượng xanh bị giảm hiệu quả, thậm chí phá sản. Trong khi đó, chuyển qua xăng sinh học là chiến lược đúng đắn, phù hợp xu thế và đã có thời gian thử nghiệm cũng như "cân đong đo đếm" các yếu tố bảo đảm tính "ích nước lợi nhà".
Thực tế quá trình chuyển đổi này, quan trọng nhất là để người tiêu dùng an tâm thì cần có cơ chế tuyên truyền, bằng minh chứng thuyết phục, thông tin rộng rãi một cách khoa học. "Quan trọng hơn, để đi đường dài, chúng ta cần có giải pháp dài hạn cho nguồn cung ethanol. Hiện tại, nguồn ethanol để phối trộn chủ yếu là nhập khẩu, mức cung ứng từ trong nước còn rất thấp. Bài toán chuyển đổi năng lượng này trong thực tế đặt ra vai trò của bộ quản lý rất lớn. Đó là làm thế nào để đảm bảo được nguồn cung trong dài hạn; có chính sách khuyến khích trong nước đầu tư để dần chủ động nguồn cung ethanol", GS-TS Võ Xuân Vinh lưu ý.
Ông Đào Công Quyết, Trưởng Tiểu ban truyền thông của Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), khẳng định việc nghiên cứu và sử dụng nhiên liệu sinh học đã được các hãng ô tô toàn cầu triển khai từ nhiều năm nay tại các thị trường như Mỹ, Brazil, Thái Lan, Indonesia… Vì vậy, trước khi đưa sản phẩm vào Việt Nam, các hãng đều đã đánh giá kỹ thuật dựa trên điều kiện vận hành thực tế và tiêu chuẩn trong nước nhằm bảo đảm khả năng tương thích với nhiên liệu sinh học.
Đối với nhóm xe đời cũ, ông Quyết khuyến nghị người sử dụng nên chủ động kiểm tra phương tiện tại các đại lý chính hãng để được tư vấn thay thế các chi tiết như gioăng cao su hoặc ống dẫn nhiên liệu nếu cần thiết trước khi chuyển sang sử dụng xăng E10.
Ngoài ra, một trong những băn khoăn phổ biến hiện nay là xăng E10 có thể khiến xe bị ì máy, hụt ga hoặc giảm hiệu suất vận hành. Theo ông Đào Công Quyết, hiện tượng này chủ yếu chỉ xảy ra khi nhiên liệu không đạt chất lượng hoặc bị lẫn tạp chất, nước. Trong khi đó, xăng E10 có trị số octane tương đương, thậm chí cao hơn xăng khoáng thông thường, giúp quá trình cháy ổn định hơn.
"Nếu xe được bảo dưỡng định kỳ và sử dụng xăng E10 đạt chuẩn theo đúng khuyến cáo của nhà sản xuất thì hiện tượng hụt ga sẽ không xảy ra", ông Đào Công Quyết nhấn mạnh.
Trong văn bản góp ý dự thảo vừa gửi Bộ Tài chính, VCCI cho biết, đặc thù của hoạt động thương mại điện tử là có khoảng thời gian giữa ngày lập hóa đơn (thời điểm giao hàng) với ngày hoàn tất giao dịch thực tế.
Theo quy định của các sàn thương mại điện tử, khách hàng có thể trả lại hàng trong vòng 7 - 15 ngày kể từ khi nhận hàng. Việc hoàn, hủy đơn hàng rất dễ xảy ra, kéo theo đó là nhu cầu điều chỉnh hóa đơn điện tử.
Tuy nhiên, quy định tại dự thảo thiết kế chủ yếu cho các giao dịch truyền thống, chưa phản ánh thực tiễn của ngành thương mại điện tử, gây tốn kém chi phí cho doanh nghiệp, hộ, cá nhân kinh doanh trong xử lý các trường hợp trả hàng hoặc điều chỉnh giao dịch.
Để phù hợp với đặc thù kinh doanh thương mại điện tử, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc một trong hai phương án sau:
Phương án 1, sửa đổi quy định tại dự thảo theo hướng: thời điểm lập hóa đơn điện tử đối với giao dịch qua sàn thương mại điện tử là ngày kết thúc thời hạn được phép trả lại hàng (thay vì ngày giao hàng), nhằm đảm bảo tính chính xác của hóa đơn và giảm thiểu các trường hợp phải điều chỉnh, hủy sau này.
Phương án 2, bổ sung trường hợp được phép điều chỉnh giảm giá do trả lại hàng trong thời hạn quy định của sàn thương mại điện tử, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc xử lý các giao dịch đặc thù của thương mại điện tử.
Về tạm ngừng sử dụng hóa đơn điện tử, dự thảo quy định, hộ, cá nhân kinh doanh đã được cấp mã số thuế trước ngày 1.7.2025 nhưng có thông tin đăng ký thuế không khớp hoặc không đầy đủ với cơ sở dữ liệu quốc gia thì cơ quan thuế sẽ tạm ngừng sử dụng hóa đơn điện tử để yêu cầu thay đổi thông tin.
VCCI nhìn nhận, quy định này tuy xuất phát từ mục đích đảm bảo tính chính xác của dữ liệu, nhưng có thể gây khó khăn nghiêm trọng cho hộ, cá nhân kinh doanh trong hoạt động kinh doanh hàng ngày. Việc tạm ngừng hóa đơn điện tử đồng nghĩa với việc họ không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh hợp pháp, gây thiệt hại về kinh tế và uy tín.
Do vậy, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi quy định theo hướng cơ quan thuế gửi thông báo yêu cầu bổ sung thông tin và cho phép các hộ, cá nhân kinh doanh có thời hạn 10 ngày làm việc để thực hiện bổ sung thông tin.
Chỉ sau thời hạn này, nếu hộ, cá nhân kinh doanh vẫn chưa thực hiện, cơ quan thuế mới tiến hành tạm ngừng sử dụng hóa đơn điện tử.
Ngoài ra, dự thảo cũng quy định ủy nhiệm hóa đơn được coi là trường hợp thay đổi thông tin hóa đơn điện tử và việc này cần thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan thuế. Trong trường hợp ủy nhiệm cho sàn thương mại điện tử, sàn thương mại điện tử có trách nhiệm thực hiện thủ tục này.
Quy định này là hợp lý trong trường hợp đơn lẻ. Tuy nhiên, với trường hợp ủy nhiệm cho sàn thương mại điện tử - vốn có hàng trăm nghìn người bán với nhu cầu thay đổi liên tục, việc thực hiện thủ tục thông báo cho từng lần ủy nhiệm/kết thúc ủy nhiệm sẽ tạo nên gánh nặng hành chính không cần thiết cho doanh nghiệp.
Đặc biệt, các thỏa thuận/hợp đồng với các sàn thương mại điện tử thường được thực hiện trực tuyến với hồ sơ được lưu trữ đầy đủ, minh bạch và có thể kiểm tra bất cứ lúc nào.
Từ các phân tích trên, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi quy định theo hướng cho phép các sàn thương mại điện tử lập bảng kê thay đổi việc ủy nhiệm theo định kỳ (tháng/quý) thay vì phải thông báo từng trường hợp riêng lẻ.
Tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, HoSE: EIB), ngân hàng vừa thực hiện loạt thay đổi nhân sự sau ĐHĐCĐ thường niên 2026.
Theo đó, Eximbank miễn nhiệm các thành viên HĐQT gồm ông Nguyễn Cảnh Anh, bà Đỗ Hà Phương và ông Hoàng Thế Hưng. Đồng thời, ngân hàng cũng miễn nhiệm nhiều thành viên Ban kiểm soát gồm ông Nguyễn Trí Trung, bà Doãn Hồ Lan, ông Lâm Nguyễn Thiện Nhơn và ông Hoàng Tâm Châu. Các nhân sự này đều có đơn từ nhiệm từ ngày 13/2/2026.
Song song với việc miễn nhiệm, Eximbank bầu bổ sung 3 thành viên HĐQT nhiệm kỳ 2025 - 2030 gồm ông Nguyễn Trí Trung, ông Nguyễn Trọng Hiền và ông Ho Poh Wah nhằm hoàn thiện cơ cấu quản trị cấp cao.
Trong đó, ông Nguyễn Trí Trung có gần 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, từng làm việc tại ABBank, OceanBank và Saigonbank, hiện là Trưởng Ban kiểm soát Eximbank. Ông Nguyễn Trọng Hiền có gần 30 năm kinh nghiệm quản lý, từng giữ vị trí Chủ tịch HĐQT GELEX và Thành viên độc lập HĐQT Viglacera. Trong khi đó, ông Ho Poh Wah có khoảng 40 năm kinh nghiệm tại nhiều định chế tài chính quốc tế như Citibank, Standard Chartered Bank và OCBC Bank.
Eximbank đồng thời kiện toàn Ban kiểm soát với việc bầu bổ sung bà Phạm Thị Hồng Thu, bà Lưu Thúy Lan và bà Đỗ Thị Túy Phương.
Tại ĐHĐCĐ thường niên 2026, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (HoSE: MSB) đã thông qua việc bầu bổ sung bà Nguyễn Hương Loan vào HĐQT nhiệm kỳ 2022 - 2026, thay thế ông Trần Xuân Quảng có đơn từ nhiệm theo nguyện vọng cá nhân. Ngay sau đó, bà Loan được bầu giữ chức Phó Chủ tịch ngân hàng.
Trước khi tham gia HĐQT, bà Nguyễn Hương Loan là Phó Tổng Giám đốc kiêm Tổng Giám đốc Ngân hàng Định chế Tài chính của MSB.
Ở cấp điều hành, MSB bổ nhiệm bà Nguyễn Hà Thanh giữ chức Phó Tổng Giám đốc sau khi ông Nguyễn Phi Hùng được miễn nhiệm khỏi vị trí này. Bà Thanh có gần 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và từng phụ trách Khối Vận hành của MSB từ năm 2020.
Ngoài ra, MSB cũng bầu bổ sung hai thành viên Ban kiểm soát nhiệm kỳ 2022 - 2026 gồm bà Hoàng Thị Mai Thảo và bà Nguyễn Thị Hải Bình, nâng số lượng thành viên Ban kiểm soát lên 5 người.
Theo MSB, các thay đổi nhân sự nằm trong lộ trình củng cố bộ máy quản trị - điều hành nhằm phục vụ chiến lược tái cơ cấu và chuyển đổi số giai đoạn 2025 - 2029.
Cùng xu hướng kiện toàn nhân sự, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, HoSE: STB) tiếp tục có nhiều biến động ở cấp điều hành và quản trị.
Mới đây, Sacombank bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc; đồng thời bổ sung ông Nguyễn Thanh Hiệp - Giám đốc Khối Quản trị rủi ro - vào Ban điều hành phụ trách lĩnh vực quản trị rủi ro.
Theo giới thiệu từ Sacombank, ông Lưu Danh Đức có hơn 22 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghệ, từng làm việc tại LPBank, SHB, VIB, Vingroup, Sun Group và T&T Group. Trong khi đó, ông Nguyễn Hoàng Hải có hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực viễn thông và tài chính - ngân hàng, từng giữ nhiều vị trí quản lý tại Gtel Mobile, VIB và gần nhất là Phó Tổng Giám đốc LPBank.
Động thái bổ sung nhân sự này diễn ra không lâu sau khi Sacombank chấp thuận đơn từ nhiệm của ông Nguyễn Thanh Nhung theo nguyện vọng cá nhân từ ngày 8/5/2026.
Trước đó, ông Nguyễn Thanh Nhung từng được giao giữ vai trò Quyền Tổng Giám đốc Sacombank từ cuối tháng 5/2025 sau khi bà Nguyễn Đức Thạch Diễm rời vị trí Tổng Giám đốc. Tuy nhiên, khoảng 7 tháng sau, ngân hàng tiếp tục thay đổi vị trí đứng đầu Ban điều hành khi bổ nhiệm ông Nguyễn Đức Thụy làm Quyền Tổng Giám đốc từ ngày 23/12/2025, còn ông Nhung quay lại vị trí Phó Tổng Giám đốc.
Đến tháng 3/2026, Sacombank bổ nhiệm ông Nguyễn Đức Thụy giữ chức Tổng Giám đốc sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Tuy nhiên, tại ĐHĐCĐ thường niên 2026 diễn ra cuối tháng 4, ông Thụy được bầu vào HĐQT và sau đó giữ chức Phó Chủ tịch thường trực HĐQT, đồng thời rời vị trí điều hành.
Sau thay đổi này, Sacombank giao ông Loic Faussier giữ vai trò Quyền Tổng Giám đốc. Đây là nhân sự nước ngoài từng có thời gian làm việc tại HSBC, VIB, SeABank và LPBank.
Song song với đó, Sacombank cũng liên tục bổ sung nhân sự điều hành như bà Nguyễn Thị Kiều Anh giữ chức Phó Tổng Giám đốc, ông Hà Văn Trung làm Phó Tổng Giám đốc thường trực và ông Vũ Minh Quân tham gia Ban điều hành.
Tại Ngân hàng TMCP Phương Đông (HoSE: OCB), ngân hàng này vừa nhận được đơn từ nhiệm của ông Phạm Hồng Hải khỏi vị trí Tổng Giám đốc sau gần 2 năm điều hành.
Theo OCB, ông Hải tham gia điều hành trong giai đoạn ngân hàng triển khai tái cấu trúc chiến lược, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cấp nền tảng quản trị và mở rộng phân khúc khách hàng.
Cùng thời điểm, OCB bổ nhiệm bà Đỗ Tú Anh giữ chức Phó Tổng Giám đốc phụ trách Khối khách hàng doanh nghiệp kiêm quản lý chuyển đổi.
Trước đó, tại ĐHĐCĐ thường niên 2026, OCB cũng bầu ông Lê Xuân Nghĩa làm Thành viên độc lập HĐQT. Ông Nghĩa là chuyên gia kinh tế - tài chính từng giữ nhiều vị trí tại Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia và hiện là thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ.
Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank, HoSE: KLB) cũng liên tiếp bổ sung nhân sự cấp cao cho giai đoạn mới.
Ngày 5/5/2026, KienlongBank bổ nhiệm bà Vũ Thị Phương giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Theo giới thiệu từ ngân hàng, bà Phương có nền tảng chuyên môn về tài chính và quản trị, đồng thời có kinh nghiệm điều hành ở nhiều lĩnh vực.
Tiếp đó, từ ngày 11/5/2026, KienlongBank bổ nhiệm ông Phan Đức Kha làm Phó Tổng Giám đốc. Trước khi gia nhập ngân hàng, ông Kha từng đảm nhiệm nhiều vị trí quản lý tại các tập đoàn kinh tế đa ngành quy mô lớn.