Từ đầu năm tới nay, giá vàng thế giới biến động trồi sụt rất khó lường. Đầu năm, giá vàng tăng vọt lên mức cao nhất vào ngày 29.1 là gần 5.600 USD/ounce. Đầu tháng 3, giá vàng dao động 5.200 – 5.400 USD/ounce, sau đó có tăng, có giảm, xu hướng giảm là chính.
Giá vàng dần “thủng” các ngưỡng kháng cự quan trọng như 5.000 USD/ounce, 4.500 USD/ounce, thấp nhất ngày 23.3, có thời điểm ghi nhận giá dưới 4.200 USD/ounce.
Từ cú giảm sâu đó tới nay, giá vàng lình xình có lên, có xuống, song không quay lại mức 5.000 USD/ounce, cao nhất khoảng 4.800 USD/oune. Giá vàng đóng cửa tuần này ở 4.676 USD/ounce.
Nhìn lại lịch sử thị trường vàng, TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, có thể nhận diện một số chu kỳ điển hình “tăng đỉnh – sập sâu – đi ngang kéo dài”.
Đợt thứ nhất là sau đỉnh năm 1980. Vàng khi đó tăng mạnh do lạm phát cao và bất ổn địa chính trị, nhưng bước ngoặt đến khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thực hiện chính sách thắt chặt quyết liệt, đẩy lãi suất lên mức rất cao. Kết quả, vàng sụp đổ mạnh, bước vào giai đoạn “ngủ đông” kéo dài gần 2 thập kỷ, đến đầu những năm 2000 mới thực sự hồi phục.
Đợt thứ hai là chu kỳ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Vàng đạt đỉnh lịch sử năm 2011 nhờ các gói nới lỏng định lượng (QE) và lãi suất thấp kéo dài.
Tuy nhiên, từ năm 2013, khi Fed phát tín hiệu thu hẹp QE, thị trường đảo chiều mạnh, vàng giảm sâu và mất khoảng 30 – 40% giá trị trong vòng vài năm, sau đó đi ngang tích lũy khá dài trước khi bước vào chu kỳ tăng mới.
Đợt thứ ba mang tính ngắn hạn hơn là giai đoạn 2020 – 2022. Sau khi đạt đỉnh trong đại dịch Covid-19 nhờ chính sách tiền tệ siêu nới lỏng, vàng nhanh chóng điều chỉnh khi lạm phát tăng cao buộc các ngân hàng T.Ư quay lại chu kỳ thắt chặt. Dù mức giảm không kéo dài hàng thập kỷ, nhưng vẫn cho thấy rõ tính nhạy cảm của vàng với lãi suất thực.
“Điểm chung của các chu kỳ này là vàng thường đạt đỉnh khi chính sách tiền tệ ở trạng thái nới lỏng cực độ, và sụt giảm khi chu kỳ thắt chặt bắt đầu. Sau cú sốc giảm, thị trường thường bước vào giai đoạn tích lũy dài do thiếu động lực tăng mới”, ông Nhân nói.
Các đợt “sập giá” của vàng luôn có một số điểm tương đồng mang tính quy luật, nhưng bối cảnh hiện nay xuất hiện những khác biệt đáng lưu ý.
Vai trò của các ngân hàng T.Ư trong việc mua ròng vàng đang lớn hơn nhiều so với các chu kỳ trước, tạo ra lực đỡ dài hạn.
Cạnh đó, thế giới đang bước vào giai đoạn phân mảnh tài chính và xu hướng giảm phụ thuộc vào USD, khiến vàng tiếp tục được coi là tài sản dự trữ chiến lược, chứ không đơn thuần là công cụ đầu cơ.
Rủi ro địa chính trị hiện nay mang tính kéo dài, khó dự báo hơn, làm cho nhu cầu phòng ngừa rủi ro chưa thể suy giảm hoàn toàn.
“Kịch bản giá vàng sập sâu và đi ngang như sau năm 1980 hoàn toàn có thể lặp lại về mặt ngắn hạn hoặc trung hạn nếu lãi suất duy trì cao lâu hơn dự kiến. Tuy nhiên, xác suất xuất hiện một chu kỳ suy giảm kéo dài hàng thập kỷ thấp hơn, bởi nền tảng cầu của vàng hiện đã đa dạng, bền vững hơn”, ông Nhân dự báo.
Về trung và dài hạn, theo ông Nhân, yếu tố chi phối mang tính quyết định tới giá vàng vẫn là chính sách của Fed.
Diễn biến gần đây cho thấy, khi lạm phát còn dai dẳng, Fed có xu hướng duy trì lãi suất cao hơn kỳ vọng, làm tăng lợi suất thực và gây áp lực lên vàng. Ngược lại, nếu chu kỳ nới lỏng quay trở lại vào cuối năm 2026, đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp vàng phục hồi. Các yếu tố hỗ trợ vàng dài hạn vẫn hiện hữu.
Đa số tổ chức lớn đang đưa ra vùng dự báo khá rộng cho năm 2026. Kịch bản cơ sở, giá vàng dao động quanh 4.000 – 5.000 USD/ounce; trong khi các kịch bản tích cực hơn có thể hướng tới 5.400 – 6.000 USD nếu xuất hiện chu kỳ giảm lãi suất và rủi ro địa chính trị leo thang. Ngược lại, nếu lãi suất duy trì cao kéo dài, vùng 3.800 – 4.200 USD sẽ đóng vai trò đáy cân bằng.
“Tóm lại, vàng vẫn được hỗ trợ trong dài hạn nhưng biên độ biến động sẽ lớn hơn, phụ thuộc chặt chẽ vào chu kỳ chính sách tiền tệ. Kịch bản lập đỉnh mới trong năm 2026 là khả thi, nhưng không còn mang tính một chiều như giai đoạn 2024 – 2025”, ông Nhân nhận định.
TS Đào Lê Trang Anh, giảng viên cao cấp ngành tài chính (Đại học RMIT Việt Nam), cũng cho rằng, về dài hạn, các nền tảng hỗ trợ cho vàng vẫn còn, bao gồm bất ổn địa chính trị, rủi ro nợ công toàn cầu, nhu cầu đa dạng hóa dự trữ của ngân hàng T.Ư và vai trò phòng ngừa rủi ro hệ thống của vàng trong danh mục đầu tư.
“Năm nay, mặt bằng dự báo hiện khá phân hóa. Kịch bản thận trọng đặt vùng giá xoay quanh 4.600 – 5.000 USD/ounce. Trong kịch bản các rủi ro vĩ mô và chính sách tiếp tục hiện hữu, giá vàng hoàn toàn có thể kiểm định các vùng đỉnh mới. Vùng giá tiềm năng được nhiều nhà phân tích nhắc tới quanh 5.500 – 6.200 USD/ounce, dù biến động sẽ còn rất lớn”, bà Trang Anh nói.
Phiên giao dịch ngày 5/5 khởi đầu với những nhịp rung lắc đáng chú ý và nhanh chóng chuyển sang trạng thái phân hóa. Dù chỉ số có thời điểm hồi phục và duy trì sắc xanh trong phần lớn thời gian, độ rộng thị trường lại nghiêng mạnh về phía tiêu cực khi số mã giảm áp đảo.
Diễn biến này cho thấy dòng tiền vẫn có xu hướng chọn lọc, tập trung vào một số cổ phiếu vốn hóa lớn thay vì lan tỏa diện rộng.
Bước sang phiên chiều, thị trường tiếp tục xuất hiện các nhịp giằng co, song lực cầu gia tăng về cuối phiên đã giúp chỉ số giữ vững đà tăng. Kết phiên, VN-Index tăng 20,79 điểm (+1,12%) lên 1.874,85 điểm.
Thanh khoản toàn thị trường đạt hơn 773,4 triệu cổ phiếu, tương ứng giá trị giao dịch 22.355 tỷ đồng; trong đó giao dịch thỏa thuận đóng góp hơn 72 triệu đơn vị, giá trị khoảng 1.276 tỷ đồng.
Động lực chính nâng đỡ thị trường đến từ nhóm cổ phiếu thuộc hệ sinh thái Vingroup. VHM tăng mạnh 6,48% lên 151.200 đồng/cổ phiếu, VIC tăng 3,54% lên 219.500 đồng và VRE tăng 4,45% lên 35.200 đồng. Nhóm này đóng vai trò dẫn dắt, giúp chỉ số duy trì sắc xanh trong bối cảnh phần lớn cổ phiếu còn lại suy yếu.
Dù vậy, nhóm bất động sản nhìn chung vẫn ghi nhận trạng thái "xanh vỏ, đỏ lòng". Áp lực bán tiếp tục chi phối nhiều mã, trong đó NVL giảm sàn 6,81% xuống 17.800 đồng/cổ phiếu, đồng thời dẫn đầu thanh khoản toàn thị trường với hơn 33,3 triệu đơn vị khớp lệnh và dư bán giá sàn lớn.
Nhiều cổ phiếu khác như KDH, NLG, DIG, CEO hay DXG cũng đồng loạt giảm điểm, phản ánh tâm lý thận trọng của nhà đầu tư với nhóm ngành này.
Ở chiều tích cực, nhóm năng lượng giao dịch khởi sắc với mức tăng tương đối đồng đều. BSR tăng 5,94%, PVD tăng 3,94%, PVS tăng 2,8% và PLX tăng 1,42%, qua đó trở thành một trong những nhóm ngành hỗ trợ thị trường hiệu quả.
Nhóm công nghệ cũng ghi nhận diễn biến tích cực, với FPT tăng nhẹ 0,81% trong khi một số cổ phiếu như GEE, HPT hay TBD tăng mạnh hơn.
Ngược lại, nhóm tài chính chịu áp lực điều chỉnh rõ nét và là lực cản đáng kể đối với chỉ số. Nhiều cổ phiếu ngân hàng và chứng khoán giảm điểm như SHB (-2,44%), ACB (-2,16%), SSI (-1,44%), VIX (-2,37%).
Dù vẫn xuất hiện một vài điểm sáng như VPB tăng 3,9%, nhưng không đủ để cải thiện xu hướng chung của toàn ngành.
Tương tự, nhóm viễn thông cũng ghi nhận diễn biến kém tích cực khi phần lớn cổ phiếu giảm giá.
Xét theo phân bổ dòng tiền, nhóm tài chính tiếp tục dẫn đầu về giá trị giao dịch với hơn 6.589 tỷ đồng, theo sau là bất động sản với gần 4.957 tỷ đồng và công nghiệp với khoảng 2.519 tỷ đồng. Đáng chú ý, nhóm năng lượng ghi nhận mức tăng mạnh nhất về chỉ số (+4,04%), trong khi viễn thông và vật liệu cơ bản là những ngành giảm sâu hơn.
Cụ thể, theo Nhóm dữ liệu phát triển của World Bank, GNI bình quân đầu người của Việt Nam tăng từ 4.490 USD năm 2024 lên 4.970 USD vào 2025. Với mức này, Việt Nam được nâng từ nhóm thu nhập trung bình thấp lên trung bình cao.
Theo World Bank, Việt Nam thăng hạng nhờ tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu. Trong hai năm 2024 - 2025, xuất khẩu của Việt Nam tăng hơn 15%, tăng trưởng kinh tế (GDP) lần lượt đạt 7% và 8%.
Tính trong giai đoạn 2021 - 2025, GNI Việt Nam tăng trưởng trung bình 10% mỗi năm, được các chuyên gia World Bank đánh giá là "một trong những mức tăng trưởng bền vững mạnh nhất khu vực". Ngoài ra, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao đến năm 2030, tiến tới trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào 2045. Để đạt điều này, Chính phủ phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức từ 10% trở lên trong giai đoạn tới.
Trong báo cáo mới được công bố trong tháng 5, NOAA đưa ra các yếu tố khiến El Nino xuất hiện sớm và có thể đạt cường độ trung bình đến mạnh vào cuối năm 2026. Đầu tiên và quan trọng nhất chính là sự chuyển pha rất nhanh của nhiệt độ mặt nước biển khu vực trung tâm xích đạo trên Thái Bình Dương, khu vực NINO3.4.
Từ đầu năm 2026, vùng nước lạnh còn sót lại của pha lạnh La Nina đã suy yếu nhanh chóng và bị nước ấm thay thế. Đến giữa tháng 4, vùng nước ấm đã phát triển rất nhanh trên phần lớn khu vực xích đạo ở Thái Bình Dương.
Vào tháng 1.2026, các báo cáo khí hậu và dự báo mùa cho thấy khu vực NINO3.4 ở mức khoảng -0,5 °C; dự báo trong giai đoạn tháng 5 - 7.2026 ENSO vẫn ở trạng thái trung tính.
Chỉ 3 tháng sau, vào giữa tháng 4.2026 cho biết chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển khu vực NINO3.4 chỉ còn khoảng -0,2 °C. Dự báo từ tháng 8 - 10.2026, khả năng xuất hiện El Nino.
Cập nhật đến giữa tháng 5, nhiệt độ mặt nước biển khu vực NINO3.4 cao hơn trung bình nhiều năm 0,4 °C, khả năng El Nino xuất hiện ngay trong tháng 6. Mức nhiệt chỉ cần tăng thêm 0,1 lên mức 0,5 °C là có thể xác định El Nino xuất hiện.
Theo NOAA, bên cạnh khu vực NINO3.4 những nơi lân cận như khu vực NINO4 và NINO3 nhiệt độ nước biển bề mặt đã đạt 0,5 °C; thậm chí NINO1 và 2 nhiệt độ còn lên tới 0,7 °C.
NOAA nhận định, ngoài nước biển trên bề mặt khu vực NINO 3,4 nóng lên, mà là nhiều tín hiệu của đại dương và khí quyển cùng xuất hiện đồng thời.
Yếu tố thứ 2 là nhiệt độ tầng nước dưới mặt biển cũng đang "nạp nhiệt" rất nhanh. Đây là tín hiệu rất quan trọng vì El Nino mạnh thường bắt đầu từ lớp nước ngầm. Hiện tại, nhiệt lượng tầng nước từ 0 - 300 m đã chuyển sang cao hơn mức trung bình. Xu hướng nhiệt độ dưới mặt biển ở trung tâm và phía đông Thái Bình Dương đã tăng mạnh trở lại từ cuối 2025 đến nay.
Yếu tố quan trọng thứ 3 là các đợt Kelvin wave nóng xuất hiện liên tiếp trong cuối 2025 và đầu 2026, tiếp tục đẩy nước ấm sang phía đông. Đây là cơ chế điển hình trước khi El Nino hình thành.
Kelvin wave hay sóng Kelvin là một khái niệm trong lĩnh vực khí tượng và hải dương học rất quan trọng để góp phần xác định việc hình thành El Nino. Nó giống như một "làn sóng nhiệt" chạy ngầm dưới mặt biển Thái Bình Dương, mang theo nhiệt lượng lớn và lan truyền rất nhanh dọc vùng xích đạo. Khi sóng Kelvin xuất hiện, nước ấm bị đẩy sang phía đông làm cho mặt biển trung tâm và đông Thái Bình Dương nóng lên, góp phần khiến cấu trúc khí quyển bắt đầu thay đổi. Vì vậy, nó còn được xem là "mồi lửa" cho El Nino phát triển.
NOAA nhận định, sóng Kelvin đã xuất hiện liên tiếp từ cuối năm 2025 và kéo dài đến hiện tại. Điều này giống như "một chiếc máy bơm nhiệt" bổ sung và cũng giải thích vì sao El Nino phát triển sớm hơn bình thường.
Ngoài 3 yếu tố liên quan đến đại dương thì có 2 yếu tố khác về mặt khí hậu là sự thay đổi của gió tín phong và hoạt động đối lưu trong không khí.
Báo cáo cập nhật của NOAA ghi nhận gió tín phong (yếu tố thứ 4) đã suy yếu cục bộ, thậm chí xuất hiện gió tây bất thường ở trung tâm Thái Bình Dương. Đặc điểm nổi bật của gió tín phong, chủ yếu là gió đông và thổi từ đông sang tây, khá ổn định quanh năm. Vì đặc tính này nên nó được gọi là gió tín phong. Vì vậy, gió tín phong suy yếu là một trong những dấu hiệu cổ điển báo El Nino đang hình thành.
Yếu tố thứ 5 liên quan tới sự đối lưu khí quyển, NOAA ghi nhận đối lưu khí quyển đã suy yếu ở Indonesia và Đông Nam Á, trong khi tăng gần trung tâm Thái Bình Dương. Dấu hiệu này cho thấy khí quyển đang bắt đầu phản ứng theo kiểu El Nino. Đây là dấu hiệu rất quan trọng vì El Nino không chỉ là nước biển nóng mà phải có cả khí quyển thay đổi theo.
Từ 5 dấu hiệu trên, NOAA dự báo El Nino xuất sớm và đến cuối năm 2026 có thể đạt cường độ trung bình đến mạnh.