BSCKII. Nguyễn Tiến Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai, cho hay nắng nóng cực đoan là mối nguy hiểm đặc biệt với nhóm dễ bị tổn thương như người cao tuổi, người có nhiều bệnh nền tim mạch, huyết áp, tiểu đường và đặc biệt là người từng có tiền sử đột quỵ. Bệnh viện tiếp nhận nhiều trường hợp trong tình trạng nguy kịch chỉ vì thói quen tắm ngay sau khi hoạt động ngoài trời nắng.
Có hai cơ chế chính khiến cơ thể “gục ngã” khi thay đổi nhiệt độ đột ngột, theo BS Dũng. Khi cơ thể đang ở nhiệt độ cao, các mạch máu ngoại vi giãn ra để thải nhiệt. Tiếp xúc đột ngột với nước lạnh kích thích hệ thần kinh giao cảm, khiến mạch máu co lại tức thì để giữ nhiệt. Điều này làm tăng áp lực lên thành mạch, khiến huyết áp tăng vọt, có thể dẫn tới chảy máu não hoặc nhồi máu não.
Ngoài ra, nắng nóng khiến cơ thể mất nước và điện giải nhanh qua mồ hôi. Tình trạng này làm tăng độ nhớt của máu, giảm thể tích tuần hoàn. Khi máu trở nên “đặc” và lưu thông chậm, kết hợp với nhịp tim thay đổi, các cục máu đông rất dễ hình thành, gây tắc mạch não ngay sau đó.
“Đột quỵ không chừa một ai, kể cả người trẻ nếu chủ quan với thói quen sinh hoạt”, bác sĩ Dũng nói, khuyến cáo mọi người không tắm ngay sau khi đi nắng, cần nghỉ ở nơi thoáng mát để cơ thể hạ nhiệt tự nhiên khoảng 20-30 phút.
Trước khi tắm cần làm quen với nước bằng cách lau người bằng khăn ẩm hoặc rửa chân tay. Uống đủ nước, ưu tiên nước lọc, nước điện giải; hạn chế rượu bia, cà phê. Tránh nắng giờ cao điểm bằng cách hạn chế ra ngoài từ 10h đến 16h. Người có bệnh nền cần theo dõi huyết áp, dùng thuốc đúng chỉ định.
Trong thời tiết nắng nóng, nếu xuất hiện các triệu chứng sau, cần đưa người bệnh đến cơ sở y tế ngay, theo quy tắc FAST:
F (Face): Méo miệng
A (Arm): Yếu hoặc liệt một bên tay/chân
S (Speech): Nói ngọng, nói khó, không hiểu lời người khác
T (Time): Gọi cấp cứu 115 ngay lập tức – mỗi phút trôi qua, hàng triệu tế bào não bị tổn thương không thể phục hồi
Bên cạnh đó, cần cảnh giác với các dấu hiệu sốc nhiệt như thân nhiệt trên 40 độ C, da nóng khô, lú lẫn, mất phương hướng hoặc co giật.
Lương y Đỗ Minh Tuấn, Hội Nam y Việt Nam, cho biết nước hầm xương là một món ăn bổ dưỡng, xuất hiện thường xuyên trong bữa cơm gia đình. Khi hầm xương trong thời gian dài, nước dùng có thể chứa một phần protein, gelatin và một số khoáng chất hòa tan từ xương. Uống một bát nước hầm nóng vào ngày lạnh thường khiến cơ thể cảm thấy dễ chịu hơn, tốt cho người ăn uống kém hoặc mới ốm dậy.
Nhiều người có thói quen hầm xương ống, xương sườn để uống vì cho rằng "đau xương thì ăn xương", "yếu khớp thì uống nước hầm xương". Tuy nhiên, xương khớp khỏe hay yếu không chỉ nằm ở thức ăn mà còn liên quan đến nhiều yếu tố khác.
"Muốn gân cốt khỏe lâu dài, hãy chăm sóc cơ thể tổng thể chứ không chỉ tập trung vào một món ăn", lương y nói.
Để duy trì hệ xương khớp khỏe mạnh, cơ thể còn cần chế độ ăn cân bằng, bổ sung nhóm thực phẩm giàu canxi và vitamin D, chất đạm từ các thực phẩm như thịt, cá, tôm, cua, nấm, rong biển và một số các loại hạt như óc chó, macca, hạnh nhân.
Ngoài ra, người đang có vấn đề xương khớp cần bổ sung các thực phẩm giàu omega-3 như cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi... Ăn đa dạng các loại rau, củ, quả có màu sắc cầu vồng rất tốt cho cơ thể.
Mọi người cần vận động thường xuyên, phù hợp với sức khỏe, không tập luyện quá sức. Duy trì giấc ngủ đầy đủ, hạn chế thức khuya kéo dài, giữ cân nặng ở mức phù hợp để giảm áp lực lên khớp.
TS.BS Hoàng Việt Bách, Trưởng khoa Dinh dưỡng lâm sàng, Bệnh viện K, cho biết khoảng 50-80% người bệnh ung thư bị sụt cân hoặc suy dinh dưỡng trong quá trình điều trị. Không ít trường hợp vẫn thừa cân, béo phì nhưng mất khối cơ nghiêm trọng, làm suy giảm sức mạnh cơ bắp và chức năng của cơ thể.
"Khối u gây phản ứng viêm mạn tính, làm tăng tiêu hao năng lượng và mất cơ, trong khi tác dụng phụ của hóa xạ trị như buồn nôn, chán ăn, thay đổi vị giác, khó nuốt khiến người bệnh khó đảm bảo dinh dưỡng", TS Bách nói.
Song, bác sĩ cho rằng thực tế đáng lo ngại khi nhiều người cắt giảm thực phẩm hoặc ăn kiêng cực đoan vì quan niệm sai lầm rằng ăn nhiều sẽ làm khối u phát triển. Đây là một trong những nguyên nhân khiến bệnh nhân suy kiệt nhanh hơn do thiếu hụt dinh dưỡng.
Suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, chậm lành vết mổ, tăng biến chứng sau phẫu thuật, kéo dài thời gian nằm viện. Bệnh nhân có thể buộc phải trì hoãn các đợt hóa trị hoặc xạ trị vì thể trạng không đáp ứng.
Mới đây, Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chẩn đoán và điều trị dinh dưỡng cho người bệnh ung thư nhằm chuẩn hóa chăm sóc dinh dưỡng tại các cơ sở y tế. Theo ThS.BSNT Nguyễn Thị Thanh Hòa, Phó Trưởng khoa Dinh dưỡng lâm sàng, giá trị cốt lõi của hướng dẫn không chỉ là phác đồ chuyên môn thuần túy, mà còn thay đổi tư duy của cả thầy thuốc lẫn cộng đồng.
"Khẳng định dinh dưỡng là một phương thức điều trị thiết yếu với người ung thư", BS Hòa nói, thêm rằng dinh dưỡng cần được xem là một phương thức điều trị song hành với phẫu thuật, hóa trị và xạ trị, thay vì chỉ là biện pháp hỗ trợ. Nhiều nghiên cứu cho thấy người bệnh được đánh giá và can thiệp dinh dưỡng sớm có khả năng đáp ứng điều trị tốt hơn, giảm biến chứng, rút ngắn thời gian nằm viện và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Tại Bệnh viện K, bệnh nhân được tư vấn chế độ ăn bệnh lý, áp dụng 100% với tất cả người bệnh sau phẫu thuật ung thư tiêu hóa. Người bệnh được tư vấn chế độ dinh dưỡng cho bản thân, như mỗi ngày nên bổ sung thực phẩm nào vào chế độ ăn, lượng ăn bao nhiêu là đủ... Kèm theo đó là hướng dẫn vận động thể chất và hỗ trợ tâm lý tại khoa điều trị. Bác sĩ điều trị liên kết bác sĩ dinh dưỡng, điều dưỡng và các chuyên gia liên quan nhằm xây dựng kế hoạch dinh dưỡng cá thể hóa, tối ưu cho từng bệnh nhân.
Các bác sĩ khuyến cáo người bệnh ung thư không tự ý áp dụng chế độ ăn kiêng cực đoan hoặc loại bỏ hoàn toàn bất kỳ nhóm thực phẩm thiết yếu nào nếu không có chỉ định y khoa. Thực đơn hằng ngày cần đa dạng, cân đối, ưu tiên thực phẩm giàu năng lượng và giàu protein để duy trì khối cơ và hỗ trợ phục hồi.
Khi xuất hiện các dấu hiệu như sụt cân, ăn uống kém, mệt mỏi kéo dài hoặc giảm sức cơ, người bệnh nên được bác sĩ dinh dưỡng thăm khám và can thiệp sớm để tối ưu hiệu quả điều trị.
Ông Deebanshu Gupta, bác sĩ tim mạch tại Ấn Độ, cho biết tăng huyết áp gồm 2 dạng chính.
Tăng huyết áp nguyên phát hình thành theo thời gian và không có nguyên nhân cụ thể. Nghiên cứu trên tạp chí Nature Reviews Nephrology vào năm 2026 cho thấy bệnh có thể do tuổi tác, di truyền và lối sống.
Tăng huyết áp thứ phát xuất hiện do bệnh lý nền như bệnh thận, rối loạn nội tiết hoặc tác dụng của thuốc.
Tăng huyết áp thứ phát có thể cải thiện nếu xử lý được nguyên nhân gốc. Khi điều chỉnh rối loạn nội tiết hoặc điều trị bệnh nền, huyết áp có thể trở lại mức bình thường.
Tăng huyết áp nguyên phát không thể chữa khỏi hoàn toàn theo cách thông thường. Tuy vậy, việc điều chỉnh lối sống có thể đưa chỉ số về mức an toàn, thậm chí không cần thuốc.
Nguy cơ tái phát tăng huyết áp vẫn tồn tại nếu không duy trì thói quen lành mạnh. Việc kiểm soát lâu dài phù hợp hơn khái niệm chữa dứt điểm.
Lối sống ảnh hưởng trực tiếp đến huyết áp. Việc giữ cân nặng hợp lý, ăn nhạt, vận động đều đặn và hạn chế rượu bia giúp cải thiện rõ rệt.
Nghiên cứu trên The Journal of Clinical Hypertension vào năm 2023 cho thấy giảm vài kg có thể giúp hạ huyết áp. Việc giảm thực phẩm chế biến sẵn cũng mang lại hiệu quả rõ rệt.
Các thay đổi này cần duy trì lâu dài. Sự đều đặn mang lại hiệu quả cao hơn nỗ lực ngắn hạn.
Nghiên cứu trên Clinical Hypertension vào năm năm 2024 chỉ ra chế độ ăn đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát huyết áp. Rau xanh và trái cây cung cấp kali, giúp cân bằng natri trong cơ thể.
Ngũ cốc nguyên hạt, đạm nạc, sữa ít béo và các loại hạt giúp ổn định huyết áp. Ngược lại, muối, đồ ăn chế biến sẵn, đồ ngọt và chất béo bão hòa cần hạn chế.
Việc nấu ăn tại nhà và chọn thực phẩm tươi giúp kiểm soát lượng muối tốt hơn. Uống đủ nước cũng hỗ trợ điều hòa huyết áp.
Vận động giúp tim hoạt động hiệu quả, giảm áp lực lên mạch máu. Nghiên cứu trên Hypertension Research vào năm 2024 khẳng định đi bộ nhanh, bơi lội hoặc đạp xe giúp hạ huyết áp.