Ngày 7.4, Phòng Cảnh sát hình sự (PC02) Công an TP.Hải Phòng cho biết, đơn vị vừa bắt giữ Vũ Tùng Lâm (36 tuổi) và Nguyễn Văn Tài (34 tuổi), để điều tra hành vi cưỡng đoạt tài sản, thông qua hệ thống fanpage, group Facebook có lượng tương tác lớn.
Theo điều tra ban đầu, từ năm 2024, Vũ Tùng Lâm và Nguyễn Văn Tài thành lập Công ty TNHH truyền thông và sự kiện VIETCOMMS, đặt trụ sở tại Khu đô thị Waterfront (P.Lê Chân, TP.Hải Phòng). Tận dụng xu hướng “review” trên mạng xã hội, nhóm này xây dựng hàng loạt fanpage, group Facebook với hàng trăm nghìn thành viên, trở thành những “kênh ảnh hưởng” trong cộng đồng người dùng tại Hải Phòng.
Tuy nhiên, phía sau lớp vỏ truyền thông là một kịch bản được dàn dựng có chủ đích. Nhóm đối tượng sử dụng tài khoản ảo để đăng tải hoặc duyệt đăng các bài viết, clip phản ánh tiêu cực về hoạt động kinh doanh của nhiều cơ sở dịch vụ, chủ yếu trong lĩnh vực ăn uống, giải trí.
Sau khi các thông tin bất lợi lan rộng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và lượng khách, Lâm và Tài chủ động liên hệ với chủ doanh nghiệp để “làm việc”. Khi các cơ sở đề nghị được kết nối với người đăng bài hoặc yêu cầu gỡ bỏ nội dung, nhóm này từ chối.
Thay vào đó, các đối tượng đưa ra điều kiện: muốn “xử lý khủng hoảng truyền thông”, phải ký hợp đồng quảng cáo với công ty của họ, mức phí từ 30 – 60 triệu đồng mỗi năm.
Trong bối cảnh thông tin lan nhanh, khó kiểm soát trên mạng xã hội, nhiều chủ cơ sở kinh doanh buộc phải chấp nhận ký kết, dù không mong muốn. Chỉ sau khi nhận tiền, các bài viết tiêu cực mới được gỡ bỏ khỏi hệ thống fanpage, group do chính nhóm này quản trị.
Cơ quan công an nhận định, đây là thủ đoạn cưỡng đoạt tài sản, lợi dụng sức mạnh của mạng xã hội, đánh vào tâm lý lo ngại “khủng hoảng truyền thông” của doanh nghiệp để trục lợi.
Vụ việc cũng cho thấy mặt trái của các nền tảng mạng xã hội khi bị biến thành công cụ gây áp lực, thao túng dư luận. Không ít doanh nghiệp rơi vào thế bị động, khó chứng minh và xử lý khi thông tin lan truyền theo cấp số nhân.
Công an TP.Hải Phòng đang tiếp tục mở rộng điều tra vụ án cưỡng đoạt tài sản, làm rõ số lượng bị hại, vai trò các cá nhân liên quan và dòng tiền thu lợi bất chính.
Nguồn: https://thanhnien.vn/bat-giu-nhom-quan-tri-fanpage-chuyen-cuong-doat-tai-san-185260407221600521.htm
Thời Sự
Khi Luật Đô thị đặc biệt được thông qua, người dân TP.HCM được hưởng lợi gì?

Cụ thể câu hỏi: "Tôi chỉ là một cử tri bình thường đang làm việc trong một doanh nghiệp tư nhân, tôi xem báo chí thì biết rằng TP.HCM đang trình Quốc hội Luật Đô thị đặc biệt. Tôi chỉ muốn hỏi nếu luật được thông qua, người dân chúng tôi sẽ được hưởng lợi gì?".
Trả lời cử tri, ông Nguyễn Mạnh Cường - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó chủ tịch UBND TP.HCM - cho rằng đây là một câu hỏi "rất giản dị, rất bình thường nhưng đặt ra kỳ vọng rất lớn cho việc thay đổi mô hình quản trị và các yêu cầu trong sự phát triển của TP.HCM trong thời gian tới".
Ông Cường tin rằng đây cũng là mong muốn rất thực tế của 14 triệu dân TP.HCM, khi thành phố có thêm điều kiện để phát triển.
Hơn 50 năm kể từ khi hòa bình, thống nhất, thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, TP.HCM luôn giữ vai trò là cực tăng trưởng, đóng góp nhiều cho sự phát triển chung của đất nước, tạo ra nhiều sự chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống của người dân.
Tuy nhiên trong hành trình phát triển đó, thành phố cũng đối diện nhiều thách thức như kẹt xe, ô nhiễm môi trường, ngập nước hay chất lượng y tế, giáo dục, an sinh xã hội, an ninh trật tự đôi lúc chưa đáp ứng yêu cầu mong muốn của người dân.
Phó chủ tịch UBND TP.HCM cho biết thành phố được Trung ương giao rất nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, từ Nghị quyết 54, Nghị quyết 98, Nghị quyết 260 của Quốc hội đến những nghị quyết giúp TP.HCM giải quyết các vấn đề cụ thể như Nghị quyết 222 về thành lập Trung tâm Tài chính quốc tế, Nghị quyết 188 liên quan đến chính sách về đường sắt đô thị.
"Tất cả sự quan tâm và các chính sách đó không nằm ngoài mục tiêu tạo điều kiện cho thành phố bứt phá và phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới", ông Cường nhấn mạnh.
Trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Đô thị đặc biệt, lãnh đạo TP.HCM luôn nỗ lực để có những chính sách, cơ chế cụ thể, thẩm quyền đủ mạnh và khung pháp lý phù hợp.
Từ đó, thành phố có thể chủ động hơn, trước mắt là giải quyết những vấn đề rất bình thường, những mong muốn rất cụ thể để người dân có thể sống trong môi trường xanh, sạch hơn, chất lượng giáo dục y tế, an sinh xã hội, an ninh trật tự được đảm bảo...
Ông Cường cũng bày tỏ trong quá trình xây dựng dự thảo luật, TP.HCM nhận được sự quan tâm rất lớn của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân luôn dõi theo, gửi những tâm tư, kỳ vọng, mong muốn, đề xuất các giải pháp rất cụ thể, trách nhiệm.
Thay mặt lãnh đạo thành phố, Phó chủ tịch UBND TP.HCM cam kết sẽ tiếp thu đầy đủ các ý kiến để chuyển tải những mong muốn, kỳ vọng, trăn trở và tất cả góp ý đến Trung ương.
"Luật Đô thị đặc biệt có thể đáp ứng mong muốn, kỳ vọng của người dân, có thể giải phóng, phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế của thành phố, đưa thành phố phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Đặc biệt người dân thành phố sẽ là những người đầu tiên được hưởng thụ từ những chính sách, sự phát triển mạnh mẽ, bền vững này", ông Cường khẳng định.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Từ 1-7, sử dụng AI có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực, báo chí phải gắn nhãn thông báo

Đây là nội dung đáng chú ý trong Nghị định số 237 vừa được Chính phủ ban hành, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Báo chí, có hiệu lực từ 1-7.
Nghị định dành riêng điều 24 quy định về trách nhiệm của cơ quan báo chí trong việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, với những quy định cụ thể.
Đó là, cơ quan báo chí khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập, sản xuất, biên tập, phân phối nội dung thông tin và các hoạt động báo chí khác phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về báo chí, pháp luật về trí tuệ nhân tạo và các quy định có liên quan.
Cơ quan báo chí có trách nhiệm kiểm chứng, rà soát và chịu trách nhiệm về tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra hoặc hỗ trợ tạo ra.
Cơ quan báo chí phải thực hiện thông báo và gắn nhãn rõ ràng, tại vị trí dễ nhận biết đối với văn bản, hình ảnh, âm thanh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật.
Việc thông báo và gắn nhãn được thực hiện theo quy định của pháp luật về trí tuệ nhân tạo.
Cơ quan báo chí không được sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo để tạo ra hoặc lan truyền nội dung giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, hoặc nội dung có khả năng gây tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Cơ quan báo chí phải thiết lập và duy trì quy trình thẩm định, biên tập, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm cá nhân đối với việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo; lưu giữ nhật ký hoạt động và hồ sơ kỹ thuật phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Cơ quan báo chí có trách nhiệm cung cấp nội dung thông tin sử dụng trí tuệ nhân tạo theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Nghị định cũng quy định Nhà nước khuyến khích các cơ quan báo chí nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động thu thập, sản xuất, phân tích và phân phối nội dung thông tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí, trên cơ sở bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật và trách nhiệm biên tập của cơ quan báo chí.
Ngoài ra, nghị định cũng có nhiều điểm mới đáng chú ý liên quan tới hoạt động báo chí.
Đó là sẽ tổ chức nền tảng số báo chí quốc gia.
Nền tảng số báo chí quốc gia được tổ chức theo mô hình hệ thống gồm các nền tảng thành phần do các cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện triển khai, phát triển và vận hành theo quy định của pháp luật.
Nền tảng này bao gồm: Đài Truyền hình Việt Nam phát triển nền tảng chuyên sâu về truyền hình số; Đài Tiếng nói Việt Nam phát triển nền tảng chuyên sâu về phát thanh số; Báo Nhân Dân phát triển nền tảng chuyên sâu về báo chí điện tử.
Cũng theo nghị định này, kể từ ngày 1-7, cơ quan báo chí khi hoạt động trên không gian mạng, ngoài đăng, phát nội dung báo chí còn được tích hợp hoạt động dịch vụ trực tuyến.
Các hoạt động bao gồm: hoạt động dịch vụ công, thương mại điện tử, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, y tế, cung cấp nội dung theo yêu cầu và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Trong quản trị quốc gia, những tháng ngày đầu của một Chính phủ nhiệm kỳ mới là thời gian xác lập cách thức vận hành. Đó là lúc Chính phủ trả lời những câu hỏi căn bản: sẽ quản lý hay kiến tạo, kiểm soát hay trao quyền, tập trung hay phân cấp?
Lịch sử cải cách cho thấy, những chính phủ thành công không phải là những chính phủ ban hành nhiều chính sách nhất, mà là những chính phủ định hình được “hệ điều hành” tốt cho cả nhiệm kỳ ngay từ những bước đi đầu tiên.
Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành đồng loạt 8 nghị quyết về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh ngay trong tháng đầu tiên của nhiệm kỳ không chỉ là một quyết sách hành chính thông thường. Đó là một tuyên bố chính trị - thể chế về cách Chính phủ lựa chọn hành động.
Điều này hoàn toàn phù hợp với cam kết khi phát biểu nhậm chức của Thủ tướng Lê Minh Hưng: xây dựng một Chính phủ hiện đại, kiến tạo và phục vụ nhân dân, đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng mà hạt nhân là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Một quyết định chưa từng có: quy mô, tốc độ và cách tiếp cận điểm gây ấn tượng mạnh nhất trước hết là quy mô cải cách.
Theo các nghị quyết được ban hành, Chính phủ tiến hành sửa đổi, bổ sung đồng bộ 163 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có tới 155 nghị định - một con số chưa từng có trong các đợt cải cách trước đây.
Trên cơ sở đó, 184 thủ tục hành chính được bãi bỏ, 134 thủ tục được phân cấp, và 349 thủ tục được đơn giản hóa. Không dừng lại ở đó, Chính phủ còn quyết định bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh, đồng thời đưa tỷ lệ thủ tục hành chính do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết xuống còn khoảng 27%.
Mục tiêu đặt ra là giảm hơn 50% thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Những con số này không chỉ phản ánh quy mô, mà còn cho thấy một cách tiếp cận mới: đổi mới một cách căn cơ và có hệ thống, thay vì điều chỉnh từng phần nhỏ lẻ như trước đây.
Điểm thứ hai là tốc độ triển khai. Việc ban hành đồng loạt 8 nghị quyết ngay trong tháng đầu nhiệm kỳ cho thấy đây không phải là những quyết định mang tính thử nghiệm, mà là những lựa chọn đã được cân nhắc kỹ lưỡng và triển khai với quyết tâm cao.
Trong quản trị công, tốc độ không đơn thuần là yếu tố kỹ thuật. Khi cải cách được thực hiện nhanh và đồng bộ, đó là dấu hiệu của một chính phủ không chỉ có ý chí, mà còn có năng lực hành động.
Điểm thứ ba, và quan trọng hơn cả, là cách tiếp cận. Những gì diễn ra không chỉ là “cắt giảm thủ tục”, mà là thiết kế lại cách vận hành của hệ thống hành chính. Chính phủ không chỉ giảm số lượng quy định, mà đang thay đổi logic vận hành của quyền lực nhà nước một cách thực chất và hiệu quả.
Nếu nhìn sâu vào nội dung của 8 nghị quyết, có thể thấy rõ ba chuyển dịch lớn - ba lựa chọn mang tính chiến lược của Chính phủ trong cách thức vận hành.
Trong một thời gian dài, hệ thống quản lý của chúng ta vận hành theo logic tiền kiểm: phải xin phép trước khi làm, phải được chấp thuận trước khi triển khai. Cách tiếp cận này giúp giảm rủi ro, nhưng lại tạo ra chi phí tuân thủ lớn, làm chậm dòng chảy của nền kinh tế.
Với 8 nghị quyết lần này, việc bãi bỏ hàng loạt điều kiện kinh doanh và thủ tục tiền kiểm cho thấy một chuyển dịch rõ ràng: từ kiểm soát trước sang quản trị rủi ro trong quá trình vận hành.
Nhà nước không còn đứng ở vị trí “giữ cửa”, mà chuyển sang vai trò thiết lập tiêu chuẩn, giám sát và xử lý vi phạm trên cơ sở dữ liệu và quy định của pháp luật. Đây là một thay đổi không chỉ về công cụ, mà về triết lý quản lý. Không phải kiểm soát trước để tránh rủi ro, mà là quản lý rủi ro một cách chủ động và linh hoạt.
Một trong những nội dung nổi bật của các nghị quyết là việc phân cấp 134 thủ tục hành chính, qua đó giảm mạnh tỉ lệ thủ tục do cấp Trung ương trực tiếp giải quyết.
Điều này cho thấy một lựa chọn rõ ràng: Trung ương không còn ôm việc, mà chuyển sang tập trung vào thiết kế thể chế và giám sát, trong khi trao quyền thực thi cho địa phương.
Phân quyền, nếu chỉ dừng lại ở giao việc, sẽ không tạo ra thay đổi thực chất. Nhưng nếu đi kèm với trách nhiệm giải trình và đo lường kết quả, nó sẽ trở thành động lực để nâng cao hiệu quả quản trị.
Ở đây, điều đáng chú ý không phải chỉ là “phân cấp bao nhiêu”, mà là cách phân quyền trong hệ thống hành chính - một yếu tố cốt lõi của năng lực thực thi quốc gia.
Từ kiểm soát sang kiến tạo: Định vị lại vai trò của Nhà nước
Có lẽ chuyển dịch sâu sắc nhất nằm ở cách Chính phủ định vị lại vai trò của mình đối với nền kinh tế.
Khi 890 điều kiện kinh doanh được bãi bỏ, thông điệp gửi đi là rất rõ: doanh nghiệp không còn là đối tượng cần được kiểm soát chặt chẽ, mà là chủ thể cần được trao quyền để phát triển. Nhà nước không đứng ở vị trí “cấp phép để cho tồn tại”, mà chuyển sang vai trò kiến tạo môi trường để phát triển.
Đây chính là bước chuyển từ một nền hành chính quản lý sang một nền hành chính kiến tạo - một chuyển dịch đã được nhắc đến nhiều năm, nhưng chỉ thực sự trở nên rõ nét khi được cụ thể hóa bằng những quyết định có quy mô lớn như lần này.
Những chuyển dịch nói trên không chỉ mang ý nghĩa về mặt thể chế, mà còn có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.
Với doanh nghiệp, việc cắt giảm thủ tục và điều kiện kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm đáng kể chi phí tuân thủ - không chỉ là chi phí chính thức, mà cả những chi phí không chính thức vốn là một gánh nặng lâu nay.
Quy trình nhanh hơn, rõ ràng hơn cũng giúp doanh nghiệp tăng tốc độ ra quyết định, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Với người dân, việc giảm thủ tục và giảm tiếp xúc trực tiếp với cơ quan hành chính sẽ góp phần giảm rủi ro nhũng nhiễu, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Với nền kinh tế, ý nghĩa lớn nhất là khơi thông dòng chảy nguồn lực. Khi các rào cản thủ tục được dỡ bỏ, nguồn vốn, ý tưởng và năng lực sản xuất có thể vận hành nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Đây chính là điều kiện cần để đạt được các mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới. Quan trọng hơn, những quyết định này góp phần tái thiết niềm tin - niềm tin của doanh nghiệp vào môi trường kinh doanh, niềm tin của người dân vào hiệu quả của bộ máy hành chính.
Đúng như Thủ tướng Lê Minh Hưng đã phát biểu khi nhậm chức: tôi ý thức sâu sắc rằng, lòng tin của nhân dân là nguồn lực lớn nhất của quốc gia.
Thực tế, trong tất cả các cuộc làm việc với các bộ ngành sau khi nhậm chức, Thủ tướng luôn nhấn mạnh yêu cầu tập trung, dứt khoát cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.
Ông nêu rõ, đây là một trong những giải pháp nhanh nhất, ngắn nhất để hoàn thiện thể chế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, tác động trực tiếp ngay tới tăng trưởng với mục tiêu 2 con số và quan trọng hơn cả, sẽ giúp củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp.
Thách thức của lựa chọn: cải cách thực chất tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng, lựa chọn này đi kèm với những thách thức không nhỏ.
Thứ nhất, chuyển sang hậu kiểm đòi hỏi một hệ thống dữ liệu và năng lực giám sát hiện đại. Nếu không có công cụ phù hợp, việc giảm tiền kiểm có thể dẫn đến rủi ro trong quản lý.
Thứ hai, phân quyền đòi hỏi phải thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực mới. Nếu không, có thể xuất hiện tình trạng buông lỏng hoặc “đẩy trách nhiệm” giữa các cấp.
Thứ ba, và quan trọng nhất, là thay đổi tư duy của bộ máy. Nếu tư duy quản lý cũ vẫn tồn tại, thì cải cách trên giấy có thể không chuyển hóa thành thay đổi trong thực tế.
Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chỉ rõ, điều quan trọng là tinh thần chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về đổi mới tư duy phải được quán triệt không chỉ ở cấp lãnh đạo các bộ hay địa phương, mà phải xuống tới cấp các vụ cục, đơn vị trực thuộc, cấp thực thi.
Bởi lẽ, cải cách lớn nhất không nằm ở văn bản, mà nằm ở cách bộ máy thực thi nó mỗi ngày. Một lựa chọn đã được xác lập những tháng ngày đầu không quyết định toàn bộ nhiệm kỳ, nhưng nó quyết định hướng đi của Chính phủ.
Với việc ban hành 8 nghị quyết lần này, Chính phủ đã phát đi một tín hiệu rõ ràng: lựa chọn con đường cải cách thực chất, trao quyền và kiến tạo phát triển.
Với quyết tâm mạnh mẽ, những quyết định này không chỉ làm cho thủ tục nhanh hơn, chi phí thấp hơn. Quan trọng hơn, nó có thể làm cho nền kinh tế vận hành theo một logic hoàn toàn khác - logic của niềm tin, của hiệu quả và của tăng trưởng. Chính phủ đã cam kết là hành động, nỗ lực hết sức mình để kiến tạo cho sự phát triển, đem đến cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân.
Tin Gốc: Thanh Niên

