Thông tin được Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cung cấp tại họp báo Chính phủ chiều 4.4. Theo ông Nhật Tân, xung đột tại khu vực Trung Đông diễn ra từ 28.2 đã tiếp tục leo thang, gây hệ lụy lớn đến nguồn cung xăng dầu và nhiên liệu khí, gas.
Đáng chú ý, quy mô nguồn cung và giá xăng dầu ảnh hưởng đã vượt qua “cú sốc” dầu mỏ thập niên những năm 1970, làm đảo lộn và khủng hoảng năng lượng, vượt qua xung đột chiến sự Nga và Ukraine.
Ngay từ đầu tháng 3, Bộ Công thương, Chính phủ đã xây dựng kịch bản điều hành xăng dầu theo 2 kịch bản, gồm: kịch bản 4 tuần trong tháng 3 và kịch bản giữa hoặc cuối tháng 4.
“Bộ Công thương sẽ đảm bảo nguồn cung xăng dầu”, Thứ trưởng Nhật Tân khẳng định và cho hay bộ sẽ cập nhật tình hình giá để điều hành phù hợp; đánh giá tác động đến người dân và các ngành nghề sản xuất kinh doanh, tiêu dùng; giải pháp đảm bảo cung cầu, giá hài hòa lợi ích Nhà nước và người tiêu dùng.
Trước đó, Bộ Công thương đã tham mưu Chính phủ ban hành 2 nghị quyết (Nghị quyết 36 và Nghị quyết 85) về điều hành xăng dầu; phối hợp Bộ Tài chính kiến nghị Chính phủ ban hành nghị quyết tạm ứng ngân sách Nhà nước cho quỹ bình ổn xăng dầu nhằm bình ổn giá.
Về nguồn cung nhiên liệu, đến ngày 31.3, sản lượng khai thác dầu tăng 10%, trong đó các nhà máy lọc dầu Dung Quất, Nghi Sơn đảm bảo nguồn cung hết tháng 4. Ngoài ra, trong tháng 3, các thương nhân, đầu mối nhập khẩu đạt 3,2 triệu m3 xăng dầu; cộng với tồn kho còn 1,8 triệu tấn.
“Như vậy, nguồn cung ứng xăng dầu trong nước sẽ đảm bảo hết tháng 4”, Thứ trưởng Tân nhấn mạnh.
Thông tin về kịch bản cho các tháng tiếp theo, ông Tân cho hay, Bộ Công thương yêu cầu tăng cường năng lực sản xuất trong nước đối với các nhà máy lọc dầu, đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, phát triển mạnh nguồn năng lượng thay thế như xăng sinh học E10, nâng cao năng lực dự trữ và quản trị rủi ro; tăng cường ứng dụng công nghệ quản lý.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn cho biết, ngay sau khi xung đột tại Trung Đông xảy ra, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập tổ công tác đảm bảo an ninh năng lượng do Phó thủ tướng Bùi Thanh Sơn là tổ trưởng, thành viên là các bộ, ngành.
“Chính phủ có tới 7 nghị quyết, quyết định, công điện, các văn bản chỉ đạo và điện đàm với các lãnh đạo nước ngoài, tập đoàn nước ngoài nhằm đảm bảo nguồn cung xăng dầu trong nước”, ông Trần Văn Sơn cho hay.
Nguồn: https://thanhnien.vn/bo-cong-thuong-se-dam-bao-nguon-cung-xang-dau-185260404162013615.htm
Kinh Tế
Sabeco báo lãi hơn 1.200 tỷ đồng quý I, mỗi ngày chi 5 tỷ đồng cho quảng cáo

Tổng CTCP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco, HoSE: SAB) vừa công bố báo cáo tài chính quý I/2026 với doanh thu thuần của Sabeco đạt hơn 6.457 tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, giá vốn hàng bán chỉ tăng khoảng 3%, qua đó giúp lợi nhuận gộp tăng mạnh 28%, lên 2.405 tỷ đồng. Biên lợi nhuận của doanh nghiệp tiếp tục được cải thiện rõ rệt nhờ cơ cấu giá bán tốt hơn và hiệu quả kiểm soát chi phí.
Ở chiều ngược lại, chi phí tài chính của doanh nghiệp giảm mạnh 85%, xuống còn 14 tỷ đồng. Chi phí bán hàng tăng 13% lên 900 tỷ, trong đó riêng chi phí quảng cáo và khuyến mãi chiếm gần một nửa, khoảng 450 tỷ đồng - tương đương mỗi ngày Sabeco phải chi 5 tỷ cho hoạt động quảng bá sản phẩm.
Sau khi trừ các chi phí, Sabeco ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.548 tỷ đồng, tăng 51% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 1.245 tỷ đồng, tăng 55,75%.
Giải trình về kết quả kinh doanh, Sabeco cho biết tăng trưởng lợi nhuận đến từ sản lượng tiêu thụ cải thiện nhờ thời điểm Tết Nguyên đán 2026 rơi vào giữa tháng 2, thuận lợi hơn so với năm trước. Đồng thời, việc điều chỉnh cơ cấu giá từ tháng 7/2025 cùng nỗ lực tiết giảm chi phí tài chính, quản lý doanh nghiệp cúng giúp doanh nghiệp cải thiện đáng kể hiệu quả sinh lời.
Năm 2026, Sabeco đặt mục tiêu doanh thu thuần 28.959 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 4.937 tỷ đồng. Như vậy, sau quý đầu năm, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 22,3% kế hoạch doanh thu và 25,2% mục tiêu lợi nhuận cả năm.
Về tình hình tài chính, tính đến ngày 30/3/2026, tổng tài sản của Sabeco đạt hơn 30.874 tỷ đồng, giảm 5,3% so với đầu năm. Trong đó, khoản tiền gửi có kỳ hạn ngắn hạn (trên 3 tháng đến dưới 1 năm) lên tới gần 15.750 tỷ đồng, chiếm hơn 51% tổng tài sản.
Tiền và các khoản tương đương tiền đạt khoảng 3.699 tỷ đồng, giảm 7,9% so với đầu năm. Hàng tồn kho duy trì ổn định ở mức hơn 2.144 tỷ đồng.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Từ sau khi hoàn thành sáp nhập, mở rộng địa giới hành chính đến nay, gần như không tuần nào, các sở chuyên ngành của TP.HCM không có văn bản khẩn gửi UBND TP để báo cáo thông tin liên quan tới việc triển khai các dự án hạ tầng trọng điểm. Nhu cầu kết nối giao thông nội đô giữa 3 cực tăng trưởng (vùng lõi TP.HCM - Bình Dương - Bà Rịa-Vũng Tàu), giải quyết bài toán ùn tắc giao thông hiện hữu, rồi kết nối tới cảng hàng không, cảng biển…, hàng loạt những bài toán cấp bách về kinh tế tạo sức ép rất lớn lên tiến độ nối thông "huyết mạch" giao thông. Đó là lý do UBND TP.HCM liên tiếp chỉ đạo đưa các dự án trong kế hoạch vào diện khẩn cấp hoặc cấp bách phải làm ngay, còn với các công trình đang "nóng máy" thì quyết liệt đẩy tiến độ tới từng dự án.
Mới nhất, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đã đề nghị thủ trưởng các sở, ngành, chủ đầu tư và các đơn vị liên quan dồn lực bảo đảm mốc tiến độ các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Trong đó, dự án xây dựng đường Vành đai 3 TP.HCM và dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu cần hoàn thành toàn bộ, đưa vào khai thác trước 30.6. Đối với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Tham Lương, lãnh đạo UBND TP.HCM yêu cầu các đơn vị đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành toàn bộ dự án và đưa vào vận hành trong năm 2030. Với tuyến đường sắt đô thị số 2 đoạn Bến Thành - Thủ Thiêm, Chủ tịch UBND TP yêu cầu khẩn trương tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt dự án, đảm bảo đủ điều kiện khởi công dự án trước ngày 30.4. Tuyến đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành cũng cần đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư dự án, phấn đấu khởi công trước ngày 30.6.
Bên cạnh đó, TP.HCM đang đặt yêu cầu khởi công 3 siêu cảng biển tỉ USD gồm Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ; Cảng tổng hợp và container Cái Mép Hạ (giai đoạn 1) và Cảng Cái Mép Gemadept - Terminal Link (giai đoạn 2) ngay trong tháng này để chào mừng kỷ niệm 51 năm ngày đất nước thống nhất (30.4.1975 - 30.4.2026). Dịp này, dự án Trung tâm Chính trị - Hành chính mới tại Thủ Thiêm và Công viên, quảng trường ven sông tại Bến Nhà Rồng cũng sẽ chính thức được khởi công. Sau khởi công, tiến độ các siêu công trình này cũng rất "căng" khi đa số đều đặt mục tiêu hoàn thành trong giai đoạn 2028 - 2030.
Không chỉ các sở, ngành chạy đua với tiến độ, hàng loạt doanh nghiệp (DN) tư nhân đăng ký nghiên cứu hay đề xuất đầu tư các dự án trọng điểm của TP.HCM cũng phải bật trạng thái "khẩn" cho tất cả các đầu việc. Đơn cử, Liên danh Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Becamex - CTCP (Becamex) - Công ty CP Tập đoàn Trường Hải (Thaco) trong văn bản gửi UBND TP.HCM đề xuất nghiên cứu 2 tuyến metro nối từ trung tâm TP.HCM tới trung tâm hành chính Bình Dương cam kết tối đa trong 3 tháng sẽ hoàn thiện phương án đầu tư, nếu được chấp thuận giao dự án sẽ hoàn thành các thủ tục pháp lý ngay trong năm nay, đảm bảo đủ điều kiện khởi công vào quý 1/2027 và hoàn thành đưa vào khai thác vận hành cả hai tuyến vào năm 2030.
Liên danh Tập đoàn Đèo Cả - Trí Tín kiến nghị thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường trên cao dọc Vành đai 2 phía nam (đường Nguyễn Văn Linh) cũng cam kết dồn mọi nguồn lực triển khai ngay trong năm nay để hoàn thành vào năm 2029.
Có thể thấy, không khí "hầm hập" đang bao trùm toàn ngành xây dựng của TP.HCM.
Đáng nói, nếu như trước đây các dự án chỉ lo không đủ vốn và mặt bằng để khởi công thì hiện nay, nỗi lo lớn nhất của Sở Xây dựng chính là các dự án khởi công nhanh nhưng không có đủ nhiên liệu, vật liệu xây dựng để làm.
Theo thống kê mới nhất của Sở NN-MT TP.HCM, trong giai đoạn 2026 - 2030, có 64 dự án triển khai trên toàn địa bàn TP nhưng nguồn cung vật liệu đang thiếu so với nhu cầu.
Riêng trong năm nay, đối với đá xây dựng, nhu cầu khoảng hơn 28 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ hơn 23 triệu m3, thiếu 4,5 triệu m3; cát xây dựng nhu cầu 15,56 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 0,69 triệu m3, thiếu 14,87 triệu m3. Đối với cát san lấp, nhu cầu khoảng 52,89 triệu m3 nhưng công suất khai thác chỉ 2,30 triệu m3. Tương tự, đất san lấp nhu cầu khoảng 23,67 triệu m3 nhưng công suất đang khai thác chỉ 12,69 triệu m3, thiếu 11 triệu m3.
Trong khi đó, tình hình nhu cầu và khả năng cung ứng vật liệu xây dựng giai đoạn 2027 - 2030 cho 46 dự án trọng điểm cũng không khả quan. Đơn cử cát xây dựng dù nhu cầu cần đến 61,3 triệu m3 nhưng khả năng cung ứng chỉ được 3 triệu m3, thiếu đến 58,3 triệu m3. Hay cát san lấp, nhu cầu cho 46 dự án trọng điểm đến hơn 177 triệu m3 nhưng chỉ đáp ứng được hơn 2 triệu m3, còn thiếu đến hơn 175 triệu m3.
Các dự án chưa triển khai đã lo, các công trình đang trong giai đoạn tăng tốc về đích còn khổ gấp nhiều lần vì "vừa chạy vừa chờ". Cụ thể, dự án Vành đai 3 TP.HCM đoạn phía tây theo kế hoạch phải thông xe kỹ thuật chậm nhất ngày 31.12.2025, hướng tới khai thác toàn tuyến vào 30.4.2026. Tuy nhiên, mốc hoàn thành đã được điều chỉnh tới trước ngày 30.6.2026. Dù vậy, ghi nhận thực tế trên công trường cho thấy nhiều đoạn tuyến vẫn còn ngổn ngang, thậm chí chưa hoàn tất đắp cát gia tải, vốn là khâu then chốt thường kéo dài 6 - 9 tháng.
Theo Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông TP.HCM - chủ đầu tư, các nhà thầu muốn thi công nhanh cũng không được vì vừa làm vừa phải chờ nguồn nguyên vật liệu "nhỏ giọt". Riêng nhu cầu đá của dự án lên tới 88.000 m3 nhưng hiện mới chỉ cung cấp được khoảng 26.000 m3. Tổng nhu cầu đá cho 5 gói thầu phía tây trong năm 2026 lên tới khoảng 1,2 triệu m3 nhưng nguồn cung từ các mỏ hiện còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu tăng tốc thi công.
Tương tự, cả 10 gói thầu tại dự án cải tạo kênh Tham Lương - Bến Cát - rạch Nước Lên đều đang chậm so với hợp đồng do vật tư cát, đá khan hiếm, giá tăng cao làm ảnh hưởng đến kế hoạch thi công của các nhà thầu. Công trình hiện cần khoảng 180.850 tấn bê tông nhựa, nhưng đến nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu. Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị TP.HCM (chủ đầu tư) lo ngại mục tiêu hoàn thành toàn bộ dự án vào cuối năm 2026 đang bị đe dọa.
Áp lực thiếu nguyên vật liệu còn nhân lên gấp nhiều lần khi các công trình đang phải gồng mình vượt "bão" giá dầu. Một số nhà thầu cho biết chi phí vận hành máy móc mỗi ngày đã tăng gấp đôi khiến họ phải "cắn răng" chịu lỗ để giữ tiến độ. Chưa kể, giá dầu tăng kéo theo giá nhựa đường tăng đột biến (gần 32%), giá các loại vật liệu như cát, đá, gạch cũng tăng từ 13,5 - 23,3% do chi phí khai thác và vận chuyển đường thủy/đường bộ leo thang. Đó là lý do nhiều gói thầu không thể duy trì phương thức "3 ca, 4 kíp" như trước vì càng làm càng lỗ. Một số đơn vị thậm chí phải tạm dừng các mũi thi công không cấp thiết để chờ điều chỉnh giá. Tiến độ các dự án trọng điểm từ khó chuyển hẳn sang ì ạch.
Trước tình trạng nói trên, Sở NN-MT TP.HCM đã đưa ra hàng loạt giải pháp cho năm 2026 để tăng cung. Đối với 4,5 triệu m3 đá xây dựng còn thiếu, giải pháp được đề xuất là nâng công suất khai thác tại 11 mỏ có chất lượng đá tốt và chủ đầu tư có đủ năng lực khai thác tại Bà Rịa-Vũng Tàu và Bình Dương (cũ). Dự kiến sau khi nâng công suất, các công trình sẽ có thêm hơn 7 triệu m3 đá, vượt nhu cầu. Đối với 14,87 triệu m3 cát xây dựng còn thiếu, có thể nâng công suất khai thác tại 10 mỏ, đáp ứng được 5,95 triệu m3. Số 8,92 triệu m3 còn lại có thể đẩy nhanh tiến độ từ việc nạo vét 22 hồ của TP. Tương tự, 25,96 triệu m3 cát san lấp còn thiếu cũng đã có kế hoạch chi tiết nạo vét từ nguồn sông nào, tận thu hồ ở đâu, nếu không đủ có thể thay thế bằng cách xay đá, rửa cát biển…
Như vậy, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng, cát xây dựng, đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu, chỉ riêng cát san lấp vẫn thiếu khoảng 24,6 triệu m3 (46,5%) trong năm 2026. Riêng giai đoạn 2027 - 2030, sau khi thực hiện các giải pháp huy động thêm thì đá xây dựng và đất san lấp có thể đáp ứng 100% nhu cầu. Song, cát xây dựng vẫn thiếu 17,17 triệu m3 (tương ứng 28%), cát san lấp thiếu đến 170,74 triệu m3 (96%).
Giám đốc Sở NN-MT TP.HCM Nguyễn Toàn Thắng thông tin: Ngoài các biện pháp trên, Sở cũng đề nghị Thành ủy, UBND TP.HCM chấp thuận cho nâng công suất khai thác mỏ theo Nghị quyết số 66.4. Đồng thời, có cơ chế điều phối nguồn vật liệu, ưu tiên và nâng tỷ lệ cung cấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách của TP, kể cả đối với các mỏ được cấp phép khai thác phục vụ mục đích thương mại. Đồng thời, nguồn vật liệu tăng thêm từ việc "mở rộng, xuống sâu, thông moong, thông vách" được ưu tiên 100% cho các công trình vốn ngân sách của TP. Trường hợp các công trình không có nhu cầu sử dụng thì chủ mỏ mới được phép bán thương mại.
Ông Phan Tấn Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Khoáng sản TP.HCM, nhìn nhận TP.HCM được xác định là cực tăng trưởng quan trọng đóng góp cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả nước. Vì vậy, các dự án cầu đường, hạ tầng cảng, xây dựng đô thị đã, đang và sẽ được triển khai không đơn thuần là xây dựng thêm vài con đường, cây cầu mà là thực hiện một cuộc "đại tu cấu trúc" để thoát khỏi chiếc áo hạ tầng đã quá chật chội, bước vào kỷ nguyên phát triển mới cùng dân tộc. Do đó, các dự án nếu chậm trễ sẽ đánh mất "thời điểm vàng" để TP.HCM chuyển mình. TP cần tập trung quyết liệt đưa ra những giải pháp tháo nút thắt nguồn vật liệu xây dựng để các công trình quan trọng đảm bảo tiến độ, giảm thiểu phát sinh chi phí vốn đầu tư.
Ông Đạt kiến nghị TP nhanh chóng cấp phép nâng công suất tối đa cho các mỏ đang khai thác. Các mỏ cần được phép xuống sâu vì càng xuống sâu thì chất lượng đá càng tốt, tận thu được tối đa, tránh lãng phí nguồn tài nguyên đá xây dựng đang có. Đối với các mỏ đã khai thác hết công suất hoặc còn nhiều trữ lượng đã được cấp giấy phép thì Sở NN-MT và các sở ngành liên quan cần tiếp tục tạo điều kiện hỗ trợ cho DN sớm hoàn thành hồ sơ thủ tục để trình UBND TP xem xét cấp giấy phép điều chỉnh tăng công suất theo nghị Quyết 66.4/2025.
Với các mỏ đã có văn bản chấp thuận chủ trương thăm dò xuống sâu, cho phép được thực hiện ngay hồ sơ thủ tục để xin cấp giấy phép thăm dò, phê duyệt trữ lượng và hoàn thành hồ sơ theo quy định để được cấp giấy phép khai thác khoáng sản mà không cần phải chờ việc khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Song song, giải quyết ngay việc ưu tiên cho các DN đang hoạt động khai thác khoáng sản theo giấy phép đang còn hiệu lực được phép mở rộng xuống sâu mà không phải chờ việc khoanh định khu vực không đấu giá quyền khai thác.
Nguồn: https://thanhnien.vn/khan-cap-day-tien-do-loat-cong-trinh-trong-diem-185260409220935784.htm

Trình bày tóm tắt Báo cáo sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết 57 tại hội nghị sơ kết mới đây, Chánh văn phòng T.Ư Đảng Nguyễn Hải Ninh nhấn mạnh Nghị quyết 57 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước. Nhiều hoạt động như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế số tăng tốc và nhiều cơ chế đột phá đã được ban hành. Chẳng hạn, trong lĩnh vực nhân lực số, phong trào Bình dân học vụ số năm 2026 đã tổ chức 150 lớp học trực tuyến, thu hút hơn 880.000 lượt học, giảm gần 80% chi phí. Hay trong lĩnh vực dịch vụ công, xác thực điện tử tại 18 cảng hàng không phục vụ khoảng 1,4 triệu lượt khách, tiết kiệm khoảng 7.700 tỉ đồng mỗi năm. Về y tế, hơn 12.400 cơ sở khám chữa bệnh sử dụng căn cước thay thế thẻ bảo hiểm y tế giấy; hình thành 2,5 triệu bệnh án điện tử, giúp tiết kiệm khoảng 1.000 tỉ đồng mỗi năm. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng VNeID đạt hơn 71 triệu tài khoản kích hoạt dùng trong dịch vụ công, tài chính, ngân hàng, hàng không, y tế; Mạng bảo mật liên thông và nền tảng số dùng chung cơ bản đã hoàn thành 98%, với 7.137 điểm kết nối; Hệ thống điều hành tác nghiệp của Đảng đã triển khai tới toàn bộ các xã, phường, đặc khu.
Song song, một số mô hình khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo được triển khai ở địa phương gắn với chuỗi giá trị như Cà Mau nhân rộng mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh tuần hoàn ít thay nước (RAS-IMTA) lên quy mô 1.500 ha; Vĩnh Long ứng dụng 62 máy bay không người lái (UAV), phân bón nano và công nghệ nuôi cấy phôi sạch bệnh để nâng cao hiệu quả sản xuất; Nghệ An phát triển phân bón hữu cơ vi sinh từ phụ phẩm nông nghiệp, tạo hướng đi cho kinh tế tuần hoàn; Lào Cai ứng dụng công nghệ gen trong bảo tồn giống bản địa; Quảng Trị làm chủ nhiều quy trình công nghệ sinh học để phát triển các sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao gắn với OCOP; Tuyên Quang phát triển bản đồ số và hướng dẫn viên AI. Mới nhất, trong tuần cuối tháng 6, UBND tỉnh Điện Biên ban hành Quyết định số 1291/QĐ-UBND về việc cấp phép thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số phát triển kinh tế tầm thấp sử dụng máy bay không người lái (UAV/drone) trên địa bàn tỉnh. Đây được xem là bước đi tiên phong nhằm khai thác tiềm năng kinh tế không gian tầm thấp của VN.
Bên cạnh đó, còn có rất nhiều hoạt động đã tăng tốc và lan tỏa rộng. Trong nước, bước đầu đã có các doanh nghiệp (DN) nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ chiến lược về 5G, truy xuất nguồn gốc, robot, UAV… Chẳng hạn, đầu năm nay Tập đoàn Viettel khởi công xây dựng nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại VN. Đây là lần đầu tiên VN hình thành năng lực chế tạo chip bán dẫn trong nước, tạo nền tảng cho mục tiêu từng bước làm chủ công nghệ lõi và phát triển hệ sinh thái bán dẫn. Ngoài ra, tại các triển lãm quốc phòng và công nghệ gần đây, các dòng UAV không người lái "Made in Vietnam" do nhiều DN nghiên cứu chế tạo đã được trình làng, không hề thua kém các tiêu chuẩn quốc tế... VN cũng đã thu hút thêm nhiều "đại bàng" công nghệ. Cụ thể, 2 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới là NVIDIA và Qualcomm đã thiết lập trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại VN...
Những hoạt động nói trên giúp hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia tiếp tục được quốc tế ghi nhận. Theo Báo cáo Chỉ số Hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu 2026 của StartupBlink, VN tăng 5 bậc, vươn lên vị trí thứ 50 thế giới - cao nhất từ trước đến nay. Đây được xem là tín hiệu tích cực, phản ánh môi trường đổi mới sáng tạo của VN đang ngày càng được cải thiện, đồng thời khẳng định hiệu quả của các chính sách hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo thời gian qua.
Chánh văn phòng T.Ư Đảng Nguyễn Hải Ninh nhấn mạnh điều có ý nghĩa chiến lược nhất của Nghị quyết 57 không chỉ là các kết quả cụ thể đạt được mà là việc Nghị quyết đã xác lập một mô hình phát triển mới, trong đó khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng, thay thế dần mô hình phát triển dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp. Đây là sự chuyển đổi tư duy phát triển có tính nền tảng, tạo tiền đề để VN bước vào giai đoạn phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất. Tư duy quản lý cũng chuyển mạnh từ quản lý hoạt động khoa học công nghệ sang kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nhiều cơ chế đột phá như sandbox, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thu hút nhân tài... đã thật sự thúc đẩy các viện nghiên cứu, DN mạnh dạn hơn.
Phân tích cụ thể, ông Nguyễn Quang Đồng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển Truyền thông (Hội Truyền thông số VN) cho rằng kết quả thực chất và thấy rõ nhất sau khi Nghị quyết 57 được ban hành là về mặt thể chế đã hoàn thiện hơn. Hàng loạt công nghệ mới được hỗ trợ ra đời như sandbox về thị trường tài sản mã hóa, kinh tế tầm thấp... Đáng chú ý, Nghị quyết 57 mở ra một không gian phát triển mới khi chấp nhận rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu, đồng thời miễn trừ trách nhiệm trong các thử nghiệm công nghệ mới nếu thiệt hại đến từ nguyên nhân khách quan. Điều này mở đường cho những ý tưởng táo bạo, đột phá so với trước đây.
Chẳng hạn, TP.HCM đã thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm TP.HCM quy mô ban đầu 500 tỉ đồng, gồm vốn góp ngân sách và tư nhân. Hay Cần Thơ cho ra mắt Quỹ Phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo TP.Cần Thơ. Tương tự, các sàn khoa học công nghệ ở nhiều địa phương cung cấp thông tin cho DN cũng được tăng tốc... Một điểm đáng lưu ý khác tại Nghị quyết 57 là tăng đầu tư cho hoạt động khoa học công nghệ nói chung, gồm kinh phí cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP (nếu tính theo GDP năm 2024 sẽ tương đương hơn 230.000 tỉ đồng) và bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia. Đây là nguồn lực thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ của VN. Hay nói cách khác, khi nguồn tiền chi cho lĩnh vực này nhiều hơn thì thị trường sẽ phát triển mạnh, càng tạo ra nhiều cơ hội hơn cho DN. Tương tự, các công nghệ mới sẽ ưu tiên phát triển như AI, internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, bán dẫn, công nghệ lượng tử, nano, thông tin di động 5G, 6G, thông tin vệ tinh và một số công nghệ mới nổi đã thúc đẩy các viện nghiên cứu, trường đại học đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành này hay nhiều công ty cũng tập trung nguồn lực phát triển...
"Rất nhiều chính sách vẫn còn cần thời gian để triển khai thực tế hay mang lại kết quả rõ ràng nhưng Nghị quyết 57 thật sự đã tạo ra động lực tăng trưởng mạnh cho khoa học công nghệ của VN và từ đó sẽ có những tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế khác. Môi trường phát triển khoa học công nghệ ngày càng được hoàn thiện không chỉ tạo niềm tin cho DN trong nước mà cũng sẽ thu hút thêm nhiều tập đoàn nước ngoài trong lĩnh vực này đến VN tham gia đầu tư, phát triển", ông Nguyễn Quang Đồng nhận định.
Ông Nguyễn Quang Đồng phân tích khi lĩnh vực khoa học công nghệ nói chung được tăng tốc thì sẽ lan tỏa sang nhiều ngành kinh tế khác. Song, để đưa Nghị quyết 57 thật sự "thấm" vào từng DN, đặc biệt là DN nhỏ, thì các địa phương phải tiếp tục đẩy mạnh truyền thông chính sách. Các tỉnh thành phải công khai các thông tin liên quan như các gói thầu mua sắm công trong lĩnh vực khoa học công nghệ, những chính sách hỗ trợ cụ thể... Ông Đồng lưu ý để phát triển hệ sinh thái khoa học công nghệ mạnh thì bên cạnh các tập đoàn lớn vẫn phải phát triển các DN nhỏ và vừa. Hơn nữa, số lượng DN nhỏ, công ty start-up tại VN trong lĩnh vực khoa học công nghệ đa phần là nhỏ nên rất cần nguồn lực hỗ trợ của nhà nước cho khu vực này.
Phân tích cấu trúc kinh tế VN để thấy rõ hơn sự tất yếu của Nghị quyết 57, TS Trần Văn Khải, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, dẫn Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) chỉ ra rằng tăng trưởng không thể tiếp tục dựa dài hạn vào "bơm thêm vốn" và "nới thêm tín dụng" theo lối cũ. Với nguồn lực đất đai và lao động giá rẻ, giới hạn cũng ngày càng rõ hơn. Báo cáo "Viet Nam 2045 - Growing Greener" cho biết VN xếp thứ 13 toàn cầu về rủi ro khí hậu giai đoạn 2000 - 2019, trong khi khủng hoảng khí hậu đã và đang đe dọa trực tiếp nông nghiệp, giao thông, đô thị và các trung tâm công nghiệp. Điều này khiến mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên và chuyển đổi đất đai theo logic ngắn hạn trở nên kém bền vững hơn rất nhiều. Hay với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thu hút bằng ưu đãi, giới hạn không nằm ở chỗ FDI mất vai trò, mà ở chỗ "ưu đãi đơn thuần" không còn đủ để tạo bứt phá... "Đây chính là lý do Nghị quyết 57 chuyển trọng tâm sang thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược: tức là chuyển từ thu hút FDI bằng "đầu vào rẻ" sang kiến tạo hệ sinh thái để thu hút FDI chất lượng cao, có liên kết, có chuyển giao và có nâng cấp chuỗi giá trị", TS Khải nhấn mạnh.
Từ những phân tích trên, TS Trần Văn Khải chỉ rõ: Trong mô hình phát triển kinh tế mới, công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn ở "vòng ngoài", mà trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực tăng trưởng cốt lõi. Công nghệ giúp nâng năng suất, giảm chi phí biên, mở ra ngành mới, sản phẩm mới, mô hình kinh doanh mới. Trong khi đó, đổi mới sáng tạo là cơ chế biến tri thức thành giá trị thị trường, thành DN mới, thành lợi thế cạnh tranh mới. Chuyển đổi số thì đi xa hơn - làm thay đổi cả phương thức quản trị quốc gia, quản trị DN và tổ chức xã hội. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 57 ra đời mang ý nghĩa bước chuyển dịch chiến lược từ tư duy tăng trưởng theo lượng sang tư duy tăng trưởng theo chất. Có thể hiểu, đây không chỉ là đưa câu chuyện ứng dụng công nghệ, mà là tái cấu trúc nền kinh tế và bộ máy phát triển trên nền tảng tri thức, dữ liệu, năng lực làm chủ công nghệ. Nghị quyết 57 không đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vai trò "bổ trợ", mà nâng lên thành động lực chính của phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới quản trị quốc gia và ngăn chặn nguy cơ tụt hậu. Các chỉ tiêu về TFP, R&D, kinh tế số, dữ liệu và công nghệ chiến lược đều cho thấy mục tiêu không chỉ là số hóa thủ tục hành chính, mà là tái cấu trúc nền kinh tế và phương thức quản trị trên nền tảng tri thức và dữ liệu.
"Khi Nghị quyết 57 coi dữ liệu là tư liệu sản xuất chính; khi Nghị quyết 214 buộc hệ thống chính trị phải chuẩn hóa, liên thông, chia sẻ dữ liệu; khi Nghị định 264 tạo công cụ vốn mạo hiểm và khi Thông báo số 22-TB/CQTTBCĐ yêu cầu Nhà nước đóng vai trò "người mua đầu tiên" cho sản phẩm công nghệ chiến lược, thì thông điệp đã rất rõ: mô hình phát triển mới phải đặt công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu và năng lực làm chủ công nghệ vào trung tâm của tăng trưởng, quản trị và sức cạnh tranh quốc gia", TS Trần Văn Khải nhìn nhận.
Tin Gốc: Thanh Niên

