Cổng Thông tin điện tử Bộ GD-ĐT đưa tin, chiều 18.6, Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội đã có buổi làm việc với Bộ GD-ĐT.
Phát biểu tại buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn cho rằng một trong những mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của ngành trong giai đoạn hiện nay là mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho học sinh.
Theo ông, để thực hiện mục tiêu đó, hệ thống giáo dục cần bảo đảm các điều kiện cơ bản cho dạy và học, bao gồm “3 đủ” là đủ trường lớp, đủ giáo viên và đủ cơ sở vật chất thiết yếu. Đây là nền tảng để mọi học sinh đều có cơ hội học tập, bất kể điều kiện vùng miền hay hoàn cảnh kinh tế – xã hội.
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho biết, ngành giáo dục đang nghiên cứu, triển khai các giải pháp nhằm giải quyết căn cơ tình trạng thiếu giáo viên, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực hiện có để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.
Liên quan đến áp lực tuyển sinh, đặc biệt là tuyển sinh vào lớp 10, ông Minh Sơn cho rằng, giải pháp căn cơ không chỉ nằm ở việc điều chỉnh phương thức tuyển sinh mà phải tăng năng lực tiếp nhận của hệ thống giáo dục thông qua đầu tư trường lớp, đội ngũ và cơ sở vật chất.
Theo Bộ trưởng Sơn, khi cơ hội học tập được mở rộng, áp lực tuyển sinh sẽ giảm, qua đó góp phần giảm áp lực thi cử và tạo điều kiện để giải quyết hiệu quả hơn những vấn đề liên quan đến dạy thêm, học thêm.
Đề cập đến công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh, người đứng đầu ngành giáo dục cho rằng, phân luồng phải được thực hiện trên cơ sở giáo dục hướng nghiệp chất lượng. Khi học sinh hiểu rõ năng lực, sở trường, điều kiện của bản thân và nhu cầu của thị trường lao động, các em sẽ có những lựa chọn phù hợp hơn cho tương lai. “Học phổ thông hay học nghề đều là quyền lựa chọn của học sinh”, Bộ trưởng GD-ĐT khẳng định.
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho rằng, cần tiếp tục đổi mới quản trị nhà trường theo hướng tinh gọn, hiệu quả, giảm các hoạt động mang tính hình thức và các công việc hành chính không cần thiết.
“Làm sao để nhà giáo tập trung cho chuyên môn”, từ yêu cầu này, ông Minh Sơn cho rằng, mọi hoạt động trong nhà trường cần hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, tạo điều kiện để giáo viên dành nhiều thời gian hơn cho nhiệm vụ cốt lõi là dạy học.
Về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho rằng AI sẽ mở ra những cơ hội mới cho giáo dục, đặc biệt trong việc hỗ trợ cá thể hóa quá trình học tập.
Cụ thể, trong điều kiện mỗi lớp học có thể có tới 40 – 45 học sinh, giáo viên rất khó hỗ trợ riêng cho từng em nếu chỉ dựa vào phương thức dạy học truyền thống. Với sự hỗ trợ của các nền tảng AI phù hợp, học sinh có thể được hướng dẫn học tập theo năng lực, trình độ và nhu cầu của bản thân.
AI không thay thế vai trò của giáo viên mà là công cụ hỗ trợ giáo viên và người học. Khi được ứng dụng đúng cách, AI có thể góp phần nâng cao chất lượng dạy học, hỗ trợ học sinh tự học, mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức và chuẩn bị tốt hơn cho nguồn nhân lực tương lai.
IELTS thông báo thay đổi trên trang web chính thức hồi tuần trước. Mẫu bảng điểm mới sẽ được áp dụng từ 17/7. Thay đổi nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn thiết kế của Ofqual - cơ quan quản lý bằng cấp, kỳ thi ở Anh.
Cụ thể, tất cả bảng điểm sẽ có thêm logo của Ofqual, cùng tên chứng chỉ theo quy chuẩn của cơ quan này.
IELTS cho biết định dạng bài thi, quy trình chấm điểm và giá trị cốt lõi của chứng chỉ được giữ nguyên. Tất cả bảng điểm được cấp trước và sau ngày 17/7 có giá trị pháp lý như nhau. Thí sinh có thể tiếp tục dùng chứng chỉ hiện tại để nộp hồ sơ xét tuyển đại học hoặc xin cấp thị thực.
Những thí sinh nhận bảng điểm từ tháng 6/2024 đến ngày 16/7 có thể đăng ký để đổi sang mẫu mới có logo Ofqual miễn phí. Quy trình là điền vào mẫu đơn đăng ký trên trang chủ của IELTS, bảng điểm mới sẽ được gửi đi sau ngày 17/7.
IELTS cũng lưu ý việc này không bắt buộc, không làm thay đổi thời gian hiệu lực (2 năm) của kết quả thi ban đầu.
Thay đổi trên diễn ra cùng thời điểm Ofqual phạt Cambridge English - đơn vị tổ chức phát triển và đồng sở hữu bài thi IELTS - gần 1,1 triệu USD. Lý do là lỗi chấm điểm tự động khiến gần 62.800 thí sinh thi IELTS nhận sai điểm kỹ năng Nghe và Đọc, từ tháng 8/2023 đến tháng 9/2025.
IELTS là bài thi tiếng Anh phổ biến cho những người không nói tiếng Anh bản xứ. Bài thi này đánh giá bốn kỹ năng nghe, đọc, viết, nói của thí sinh trên thang 9 điểm. Hàng năm, khoảng 4 triệu thí sinh làm bài thi này trên toàn cầu, theo Hội đồng Anh.
Ở Việt Nam, Hội đồng Anh và IDP là hai đơn vị được tổ chức thi và cấp chứng chỉ này. Ngoài mục đích du học, định cư, IELTS được dùng trong xét tuyển đầu vào, công nhận chuẩn đầu ra đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo miễn thi tốt nghiệp môn tiếng Anh với thí sinh đạt 4.0 IELTS trở lên.
Hội đồng Giảng viên, Hội đồng Sinh viên đại học và học viên cao học của Đại học Stanford tuần qua bỏ phiếu thông qua quy định cử giám thị coi thi tại tất cả lớp học, bắt đầu áp dụng từ kỳ thu tới.
Điều này đồng nghĩa Bộ quy tắc Danh dự do sinh viên soạn thảo năm 1921, cho phép họ tự chịu trách nhiệm và giám sát lẫn nhau trong các kỳ thi, sẽ bị phá bỏ.
Giáo sư Toán Brian Conrad, thành viên Nhóm công tác về Liêm chính học thuật (AIWG), nhận định cơ chế hoạt động của Bộ quy tắc này đã tê liệt từ lâu. Các báo cáo gần đây cho thấy tỷ lệ gian lận ở mức rất cao. Năm học 2020-2021, trường ghi nhận 393 trường hợp vi phạm, nhưng không ca nào do sinh viên tự giác báo cáo. Con số này tăng mạnh so với con số 136 của hai năm học trước.
Bà Jennifer Schwartz Poehlmann, đồng trưởng nhóm AIWG, cho hay liên tục thấy học trò tìm đến mình trong trạng thái vô cùng bức xúc vì thấy bạn khác gian lận. Nhưng các em thường không biết tên người đó do lớp quá đông hoặc e ngại khi phải làm chứng, khiến các giáo sư không thể can thiệp.
Với quy định mới, các giáo sư kỳ vọng thiết lập lại văn hóa học thuật, giải quyết triệt để vấn đề gian lận. Hành động này của Stanford tiếp nối Đại học Princeton - nơi đã bỏ phiếu để đưa giám thị trở lại phòng thi với những lý do tương tự, cách đây chừng 10 ngày.
Theo giáo sư Conrad, sự trỗi dậy của các chatbot như ChatGPT sẽ khiến cuộc chiến chống gian lận học thuật những năm tới trở nên phức tạp hơn. Ông bày tỏ tiếc nuối khi các đại học hiện phải phụ thuộc nhiều vào các bài kiểm tra trực tiếp, thay vì tính điểm dựa trên bài tập về nhà như trước.
Dù vậy, nhiều giảng viên Stanford rất hào hứng với quy chế mới. Giáo sư Conrad cho biết hội đồng trường rất nóng lòng chờ đến mùa thu tới, thậm chí nhiều người muốn áp dụng việc có giám thị ngay từ thời điểm này.
Ra đời năm 1885, Đại học Stanford nay luôn nằm trong top 5 đại học tốt nhất Mỹ. Trường có khoảng 7.900 sinh viên đại học, với tỷ lệ chấp thuận chỉ khoảng 4%, theo US News.
Một trong những điểm nổi bật của thông tư là việc cập nhật Khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam theo Khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR) phiên bản mới (2020 - 2021), bảo đảm tính tương thích với các chuẩn đánh giá quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho việc công nhận văn bằng, chứng chỉ giữa Việt Nam và các quốc gia khác.
Đáng chú ý, thông tư đã bổ sung mức "Tiền bậc 1" (Pre-A1). Điều này, theo Bộ GD-ĐT, góp phần hoàn thiện hệ thống đánh giá từ người mới bắt đầu học ngoại ngữ, đặc biệt phù hợp với xu hướng dạy và học ngoại ngữ từ lứa tuổi nhỏ tại Việt Nam.
Việc bổ sung này còn giúp mở rộng phổ trình độ đào tạo, bảo đảm tính liên tục và toàn diện của khung năng lực.
Thông tư cũng chú trọng việc làm rõ và chi tiết hóa các mô tả năng lực ở từng kỹ năng như nghe, nói, đọc, viết, qua đó giúp giáo viên, người học và các cơ sở đào tạo dễ dàng áp dụng trong thực tiễn giảng dạy và đánh giá.
Nội dung khung được thiết kế theo hướng cụ thể, gắn với các tình huống sử dụng ngôn ngữ thực tế với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học ngoại ngữ.
Đối với một số ngôn ngữ đặc thù như tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật và tiếng Hàn, thông tư quy định việc sử dụng các khung năng lực do quốc gia sở tại ban hành nhằm bảo đảm phù hợp với đặc trưng ngôn ngữ và thông lệ quốc tế.
Theo Bộ GD-ĐT, việc ban hành Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam nhằm thiết lập một chuẩn chung về năng lực ngoại ngữ áp dụng trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân, tạo cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và công nhận kết quả học tập.
Qua đây, người học có thể định hướng rõ ràng lộ trình phát triển năng lực ngoại ngữ, đồng thời hỗ trợ các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường tính liên thông giữa các bậc học và trình độ đào tạo.