Ngày 9/4, Thống đốc Phạm Đức Ấn chủ trì cuộc họp với đại diện các ngân hàng thương mại, quán triệt định hướng điều hành lãi suất.
Ngân hàng Nhà nước nhận định bối cảnh quốc tế nhiều biến động, đặc biệt căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông khiến giá dầu tăng, gây áp lực lên lạm phát. Nhu cầu vốn cao trong khi một số ngân hàng cạnh tranh huy động đã đẩy mặt bằng lãi suất tăng thời gian qua.
Tuy nhiên để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, tại cuộc họp, các ngân hàng thống nhất thực hiện chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất. Các nhà băng theo đó cam kết sẽ điều chỉnh giảm cả lãi suất huy động và cho vay ngay sau cuộc họp.
Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết sẽ tiếp tục theo dõi chặt diễn biến lãi suất trên thị trường, yêu cầu các ngân hàng minh bạch việc công bố lãi suất trên website, đồng thời sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết. Cơ quan quản lý đồng thời cũng tăng cường thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng.
Thông tin tại cuộc họp, ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Chính sách tiền tệ, cho biết trong 3 tháng đầu năm, chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.
Ngân hàng Nhà nước theo ông Quang, điều hành nghiệp vụ thị trường mở linh hoạt, chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn đa dạng để hỗ trợ thanh khoản hệ thống. Tỷ giá và thị trường ngoại tệ cũng được điều hành phù hợp với diễn biến thị trường, kết hợp các công cụ để ổn định vĩ mô.
Về tín dụng, cơ quan này định hướng tăng trưởng khoảng 15%, đồng thời yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát dòng vốn vào lĩnh vực rủi ro như bất động sản. Tín dụng cần được ưu tiên cho sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng, hạn chế nợ xấu.
Ngân hàng Nhà nước khẳng định tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp, qua đó hỗ trợ nền kinh tế.
Quỳnh Trang
Nguồn: https://vnexpress.net/cac-ngan-hang-cam-ket-giam-lai-suat-5060604.html

Theo dự báo của Dragon Capital, làn sóng IPO giai đoạn 2026-2028 có thể đạt khoảng 40 tỉ USD. Riêng nhóm tiêu dùng gồm Thaco Auto, Bách Hóa Xanh, Golden Gate hay Highlands Coffee được ước tính quy mô khoảng 12,8 tỉ USD.
Quy mô này khiến giới đầu tư nhìn lại các chu kỳ IPO trước. Ông Bùi Văn Huy - Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư CTCP FIDT - cho biết "mỗi làn sóng IPO lớn thường xuất hiện cùng một đỉnh của VN-Index và sau đó là nhịp điều chỉnh đáng kể".
Chu kỳ này từng xuất hiện năm 2007, lặp lại năm 2018 và hiện bước sang làn sóng thứ ba bắt đầu từ năm 2025.
Đáng chú ý, sau chu kỳ đầu tiên, VN-Index đã giảm khoảng 80%, rơi xuống vùng 235 điểm vào đầu năm 2009. Giai đoạn 2018 cũng chứng kiến thị trường điều chỉnh mạnh sau các thương vụ IPO quy mô lớn.
Tuy nhiên điểm khác biệt lớn nhất của chu kỳ hiện tại nằm ở bối cảnh dòng vốn. Hai làn sóng trước diễn ra khi tiền rẻ, thanh khoản dồi dào và lãi suất ở vùng thấp. Còn hiện nay, nền kinh tế lại đối mặt tình trạng thiếu vốn mang tính cấu trúc, trong khi lãi suất khó giảm sâu.
Theo ông Huy, Việt Nam đang đứng trước bài toán "con gà - quả trứng": muốn GDP tăng trưởng 10% cần đầu tư công quy mô lớn; muốn có vốn cho đầu tư công cần thị trường vốn phát triển; nhưng để thị trường vốn phát triển lại cần lãi suất thấp và niềm tin nhà đầu tư.
"Nếu vòng tròn này không khép kín, kịch bản xấu có thể là đầu tư công bị hạn chế, tăng trưởng suy yếu và thị trường bước vào vòng xoáy điều chỉnh kéo dài", ông Huy nhận định.
Đến tháng 5-2026, VN-Index nhiều thời điểm vượt 1.900 điểm và liên tục thử thách các vùng đỉnh mới. Tuy nhiên nghịch lý là không ít nhà đầu tư cá nhân vẫn không kiếm được tiền.
Theo ông Huy, nguyên nhân nằm ở mức độ tập trung dòng tiền quá lớn. Chỉ riêng trong tháng 4-2026, hai cổ phiếu VIC và VHM đã đóng góp tới 167/179 điểm tăng của VN-Index, tương đương khoảng 93% mức tăng toàn thị trường.
Nếu loại bỏ nhóm Vingroup, VN-Index gần như đi ngang. Trong khi đó phần lớn nhà đầu tư cá nhân lại nắm giữ ngân hàng, chứng khoán, thép, dầu khí hay bất động sản vốn hóa trung bình - những nhóm gần như đi ngang hoặc điều chỉnh.
Kết quả là xuất hiện trạng thái "xanh vỏ - đỏ lòng": chỉ số tăng nhưng tài khoản của nhà đầu tư lại giảm giá trị.
Với dự báo quy mô IPO khoảng 40 tỉ USD trong giai đoạn 2026-2028, ông Huy đặt câu hỏi lớn: Ai sẽ là người mua?
Trong khi đó ông Nguyễn Văn Trúc - Trưởng Bộ phận Phân tích Chứng khoán Quốc gia NSI - đánh giá thị trường hiện "khát hàng mới chất lượng nhưng cực kỳ kén ăn". Ông Trúc cho rằng giai đoạn tiền rẻ đã khép lại và dòng tiền hiện mang tính phòng thủ rõ rệt hơn.
Theo ông Trúc, để một doanh nghiệp IPO hút được tiền ở giai đoạn này cần đáp ứng ba điều kiện: 1. Câu chuyện tăng trưởng rõ ràng, 2. Dòng tiền tự do tốt và 3. Định giá đủ hấp dẫn.
Ông cũng lưu ý cơ hội đang mở ra nếu doanh nghiệp tận dụng được xu hướng cải cách thủ tục hành chính và giảm điều kiện kinh doanh.
"Điều này giống việc tháo bỏ các 'cục máu đông' trong huyết mạch nền kinh tế. Một dự án bất động sản hay hạ tầng được cấp phép sớm hơn vài tháng có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm hàng chục tỉ đồng chi phí lãi vay và tăng tốc vòng quay vốn", ông Trúc nhận định.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Quý đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 122,93 tỷ USD hàng hóa, theo Cục Thống kê. Con số này cao hơn 19,1% so với cùng kỳ năm ngoái và mở rộng nhanh hơn mức tăng 10,6% của quý I/2025.
Tuy nhiên, việc duy trì phong độ tăng trưởng này trong ba quý còn lại không dễ, do xung đột tại Trung Đông khiến giá nhiên liệu, vận tải và kéo theo là nguyên vật liệu đầu vào leo thang.
Khảo sát chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 3 của S&P Global cho biết một nửa doanh nghiệp được hỏi phản ánh chi phí đầu vào tháng qua tăng nhanh nhất kể từ tháng 4/2022. Họ phản ứng bằng cách nâng giá bán, với tốc độ cao nhất gần 15 năm, khiến đơn đặt hàng xuất khẩu mới quay đầu giảm.
Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, chỉ ra diễn biến này phản ánh "những ảnh hưởng ngay lập tức và đáng kể" mà các nhà sản xuất tại Việt Nam phải đối diện.
Đáng chú ý, doanh nghiệp nội địa có dấu hiệu "ngấm đòn" trước. Trong kim ngạch xuất khẩu quý vừa qua, khu vực kinh tế trong nước chỉ góp 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%. Trong khi, FDI và dầu thô gánh 80% kế quả, tăng trưởng 33,3%.
Khảo sát kết quả sản xuất kinh doanh quý I của Cục Thống kê cũng chỉ ra khối FDI đang lạc quan nhất, với 71,7% đánh giá tình hình tốt hơn và giữ ổn định. Ở khối doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, tỷ lệ này lần lượt là 69,5% và 68,3%.
Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Thắng Jean, xác nhận giá cả nguyên liệu và chi phí vận chuyển đều tăng. "Đã có dấu hiệu gián đoạn chuỗi cung ứng khi một số nhà cung cấp chỉ xác nhận đơn hàng mà không cam kết ngày giao hoặc giá cả", ông kể trong sự kiện gần đây.
Ngay cả với những ngành xuất khẩu không phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài như trái cây, Chủ tịch Vina T&T Nguyễn Đình Tùng cho biết vẫn không tránh khỏi áp lực. "Chúng tôi cũng phải đối mặt với chi phí xăng dầu, kéo theo cơ sở hạ tầng logistics, vật tư và bao bì từ nhà cung cấp tăng", ông chỉ ra.
Để hạn chế tác động, duy trì đầu ra, một số doanh nghiệp tìm cách điều chỉnh sản phẩm và hướng đi của đơn hàng. Ông Tùng chỉ ra chiến sự làm tăng cước tàu và kéo dài thời gian vận chuyển đi châu Âu hoặc Mỹ tăng thêm 15 ngày.
Do đó, ông tập trung thêm vào các sản phẩm chế biến sâu để giảm phụ thuộc vào hàng tươi và chuyển đổi từ các thị trường xa sang các thị trường gần để giảm chi phí vận chuyển và tránh vùng xung đột. Hay Việt Thắng Jean trước đây xuất khẩu sang EU và Mỹ chiếm 60%, nhưng đã điều tiết giảm xuống còn khoảng 44%.
Doanh nghiệp vẫn cần thêm hỗ trợ. Khảo sát nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Cục Thống kê chỉ ra 48,7% doanh nghiệp kiến nghị ưu tiên kiểm soát và bình ổn giá năng lượng, nhằm giảm áp lực đầu vào.
Cùng với đó, sớm có giải pháp hỗ trợ tín dụng, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp nông nghiệp, nhỏ và vừa, đang gặp khó trong xoay xở vốn lưu động. Đồng thời, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tăng khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi biến động bên ngoài.
Một số giải pháp dài hơi hơn cũng được đặt ra. Là Phó chủ tịch Hội Dệt may - Thêu đan TP HCM, ông Phạm Văn Việt chỉ ra chuỗi cung ứng ngành này chưa tối ưu nên chi phí sản xuất cao hơn các nước khác khoảng 20%. Cùng với đó, công nghệ chưa tiên tiến khiến giá thành cao hơn từ 10-12% so với các nước đối thủ.
Khi giá đầu vào tăng vọt bào mòn thêm biên lợi nhuận mỏng manh, ông cho rằng cần nhanh chóng tăng liên kết chuỗi trong nước để chủ động nguồn nguyên liệu; đồng thời, cần cải thiện và thay đổi công nghệ để giảm giá thành.
Cuộc xung đột cũng làm tăng mối quan tâm đến các phương án vận tải giảm hoặc không phát thải. Ông Nhữ Đình Thiện, Tổng thư ký Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ hàng hải Việt Nam khuyến nghị tăng đầu tư cho hoạt động thủy nội địa.
Chuyên gia chỉ ra Việt Nam có hơn 80.000 km sông ngòi, với khoảng 40.000 km có thể khai thác vận tải, nhưng vận tải thủy nội địa đóng góp chưa tới 20% sản lượng. Ông Thiện ví dụ việc vận chuyển một container ra khu vực Cái Mép bằng đường bộ có thể mất 4-5 triệu đồng và tốn nhiều thời gian do kẹt xe. Trong khi, một xà lan có thể chở từ 100 đến 200 container, giúp cắt giảm chi phí đáng kể.
Phương tiện điện cũng được tính đến. "Chúng tôi đang cố gắng chuyển đổi cơ sở hạ tầng logistics từ sử dụng xăng dầu sang dùng điện và lắp thêm các tấm pin mặt trời", ông Nguyễn Đình Tùng tại Vina T&T, cho biết.
Đã có triển vọng cho hướng đi này. Tại một hội nghị kinh doanh mới đây, ông Kevin Stuart Burrell, Giám đốc Điều hành khu vực Mekong của A.P. Moller - Maersk, cho biết đã đạt được chi phí vận hành đội xe tải điện bằng với xe xăng sau ba tháng thử nghiệm tại Việt Nam, dù chi phí đầu tư ban đầu gấp 2,5 lần xe xăng.
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM, việc hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với thách thức của xung đột Trung Đông không chỉ dừng ở các giải pháp ngắn hạn, mà cần hướng đến xây dựng một môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi, nơi doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tư dài hạn, đổi mới và phát triển bền vững.
"Đồng thời, Việt Nam cần có những cơ chế cụ thể hơn để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình chuyển đổi, đặc biệt là về tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực", ông nói tại một diễn đàn kinh tế tháng trước.
Viễn Thông
Nguồn: https://vnexpress.net/bai-toan-giu-phong-do-xuat-khau-trong-xung-dot-trung-dong-5059167.html

Nhu cầu sử dụng các loại hương liệu, phụ gia thực phẩm ngày càng tăng trong khi hầu hết doanh nghiệp trong nước chưa làm chủ được công nghệ sản xuất, phải nhập khẩu hầu như hoàn toàn.
Việc sử dụng phụ gia thực phẩm được xác định là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời gian tới. Tuy vậy, việc quản lý sử dụng phụ gia như thế nào để đảm bảo an toàn sức khỏe hiện nay vẫn còn nhiều lỗ hổng.
Doanh nghiệp Việt vẫn lệ thuộc hàng ngoại
Tại Triển lãm quốc tế chuyên ngành Nguyên liệu, Hương liệu, Phụ gia chế biến thực phẩm & Đồ uống Việt Nam (Fi Vietnam 2026) đang diễn ra tại TPHCM, nhiều doanh nghiệp cho biết nhu cầu sử dụng hương liệu, phụ gia thực phẩm trong nước đang tăng nhanh, đặc biệt trong ngành chế biến thực phẩm công nghiệp.
Ông Nguyễn Xuân Minh - đại diện Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ Spice - cho biết doanh nghiệp mỗi tháng nhập khẩu và phân phối lượng lớn sản phẩm bột trứng phục vụ thị trường trong nước. Các dòng sản phẩm gồm bột nguyên trứng, bột lòng đỏ và bột lòng trắng có ưu thế vượt trội so với trứng tươi về khả năng bảo quản và tính tiện dụng trong sản xuất công nghiệp - chỉ cần tránh ánh nắng mặt trời, không đòi hỏi kiểm soát nhiệt độ nghiêm ngặt.
"Khi đưa vào sản xuất các sản phẩm như giò, chả…, bột trứng còn giúp sản phẩm dai, giòn hơn, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Việt Nam", ông Minh cho hay.
Dù Việt Nam có nguồn nguyên liệu trứng dồi dào và chi phí thấp, sản xuất trong nước vẫn rất hạn chế do rào cản công nghệ. "Cùng là bột trứng nhưng công nghệ sản xuất của Ý, Ấn Độ hay Trung Quốc sẽ cho ra chất lượng sản phẩm khác nhau. Đây là lĩnh vực còn khá mới với doanh nghiệp Việt", ông Minh chia sẻ.
Không riêng bột trứng, phần lớn hương liệu và phụ gia thực phẩm hiện đều phải nhập khẩu. Đại diện Công ty Cổ phần Nguyên liệu thực phẩm và dược phẩm MQ - WIN Flavor nhận định thị trường F&B Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mới, khi người tiêu dùng ngày càng ưu tiên sản phẩm tốt cho sức khỏe, ít đường, có nguồn gốc tự nhiên.
Trong bối cảnh đó, hương liệu và nguyên liệu thực phẩm trở thành yếu tố chiến lược giúp doanh nghiệp tạo bản sắc sản phẩm và đáp ứng xu hướng tiêu dùng "xanh", bền vững.
Một số doanh nghiệp đã bắt đầu đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất từ nguyên liệu nông sản nội địa, song con đường này không hề dễ đi. MQ - WIN Flavor hiện đang phát triển khoảng 20 mã hương liệu, phụ gia thực phẩm, đồng thời cử nhân sự ra nước ngoài học tập quy trình từ các công ty đi trước - bước đi được xem là tiền đề để điều chỉnh công thức phù hợp hơn với khẩu vị người tiêu dùng trong nước.
Cơ hội nâng chuẩn và lỗ hổng cần bịt kín
Bà Lý Kim Chi - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TPHCM (FFA) - nhận định trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, doanh nghiệp thực phẩm Việt Nam không thể chỉ dựa vào lợi thế sản lượng hay giá thành.
"Đầu tư vào chất lượng nguyên liệu, nghiên cứu công thức sản phẩm, phát triển phụ gia và ứng dụng công nghệ chế biến hiện đại sẽ là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời gian tới", bà Chi nhấn mạnh. Đây cũng là lý do các triển lãm chuyên ngành như Fi Việt Nam được đánh giá cao trong việc tạo cầu nối để doanh nghiệp nội địa tiếp cận công nghệ và xu hướng quốc tế.
Ở góc độ quản lý nhà nước, bà Phạm Khánh Phong Lan - Giám đốc Sở An toàn Thực phẩm TPHCM - khẳng định việc sử dụng phụ gia, hương liệu là điều không xa lạ, song bắt buộc phải tuân thủ hàm lượng cho phép. Bà Lan ghi nhận ngành phụ gia thực phẩm thế giới đã tiến rất xa với nhiều công nghệ tiên tiến - là hình mẫu để doanh nghiệp trong nước học hỏi.
"Các doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng sẽ sử dụng những sản phẩm an toàn, tinh khiết, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng thay vì những phụ gia công nghiệp lẫn tạp chất, giá rẻ. Nhất là không có doanh nghiệp đàng hoàng nào sử dụng phụ gia để biến thịt heo thành thịt bò!", bà Lan thẳng thắn nhận định.
Tuy nhiên, người đứng đầu Sở An toàn Thực phẩm TPHCM cũng thừa nhận những lỗ hổng đang tồn tại: các doanh nghiệp sử dụng phụ gia không đảm bảo thường hoạt động chui, không xin phép. Quy trình tự công bố sản phẩm hiện nay cũng bộc lộ nhiều bất cập khi doanh nghiệp tự lấy mẫu, tự gửi kiểm nghiệm.
"Có những doanh nghiệp làm kiểm nghiệm rất nhiều lần, làm cho đến khi nào có được giấy chứng nhận đạt yêu cầu hoặc sử dụng một sản phẩm thay thế để kiểm nghiệm, nhằm mục đích đảm bảo có kết quả phù hợp. Nhưng trên thực tế, sản phẩm không đạt tiêu chuẩn", bà Lan cho biết.
Trước thực trạng đó, bà Lan cho rằng cần sớm cải tổ toàn diện cách thức lấy mẫu kiểm nghiệm và quy trình công bố vệ sinh an toàn thực phẩm, nhằm ngăn chặn các sản phẩm kém chất lượng trôi nổi trên thị trường. An toàn thực phẩm, theo bà, không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là nền tảng xây dựng niềm tin và giá trị bền vững cho doanh nghiệp.
Tin Gốc: Dân Trí

