Cuộc chiến ở Iran đã khiến các nhà đầu tư lo ngại giá năng lượng tăng cao làm giảm nhu cầu hàng hóa, dịch vụ, đồng thời Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ phải nâng lãi suất để kiềm chế lạm phát.
Sau khi xung đột bùng phát, các chỉ số chứng khoán Mỹ như S&P 500 và Dow Jones đã ghi nhận mức giảm theo quý sâu nhất kể từ năm 2022.
Tuy nhiên, những kỳ vọng về việc giảm leo thang xung đột ở Trung Đông đã giúp Phố Wall khởi sắc vào ngày 31-3.
Truyền thông đưa tin Tổng thống Donald Trump đã nói với các trợ lý về việc ông sẵn sàng chấm dứt chiến dịch quân sự tại Iran, ngay cả khi eo biển Hormuz vẫn chưa được mở hoàn toàn.
Kết thúc phiên giao dịch ngày 31-3, cả ba chỉ số chứng khoán chính của Mỹ đồng loạt tăng: S&P 500 tăng 2,91% lên 6.528,52 điểm; Nasdaq tăng 3,83% lên 21.590,63 điểm; Dow Jones tăng 2,49% lên 46.341,51 điểm.
Đây là mức tăng mạnh nhất trong một ngày kể từ tháng 5-2025. Khối lượng giao dịch đạt 22,4 tỉ cổ phiếu, cao hơn mức trung bình 20,3 tỉ trong 20 phiên trước đó.
Các “ông lớn” dẫn dắt đà tăng là Nvidia (5,6%), Alphabet (5,1%) và Meta Platforms (6,7%). Chỉ số chip PHLX tăng hơn 6%.
Dù vậy, tính từ đầu năm 2026, S&P 500 vẫn giảm 4,6%, Nasdaq giảm 7,1% và Dow Jones giảm 3,6%.
Dữ liệu của Chính phủ Mỹ cho thấy số việc làm mới tại nước này giảm mạnh hơn dự kiến trong tháng 2, với hoạt động tuyển dụng xuống mức thấp nhất gần 6 năm.
Theo ông Bill Northey – giám đốc đầu tư cấp cao tại U.S. Bank Wealth Management, thị trường đang phản ánh kỳ vọng về một “lối thoát sớm hơn, hoặc việc chấm dứt các hành động thù địch”.
Dù thông tin còn hạn chế, song ông cho rằng thị trường đang tìm kiếm các tín hiệu khả quan về việc nối lại dòng chảy năng lượng qua eo biển Hormuz.
Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 31-3 tuyên bố Mỹ có thể sẽ kết thúc cuộc chiến ở Iran trong 2-3 tuần tới, nhưng trước đó Mỹ cần đảm bảo Iran “bị đưa trở lại thời kỳ đồ đá” và không còn khả năng sớm sở hữu vũ khí hạt nhân.

Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) ghi nhận doanh thu thuần xấp xỉ 98.700 tỷ đồng trong quý đầu năm. Con số này gấp rưỡi cùng kỳ năm ngoái, đồng thời là mức cao nhất tính theo quý trong vòng 13 năm qua.
Tuy nhiên, sau khi trừ hết chi phí, Petrolimex lỗ hợp nhất 662 tỷ đồng. Lần gần nhất doanh nghiệp dẫn đầu thị phần bán lẻ xăng dầu trong nước lỗ hơn mức này là quý đầu năm 2020, với hơn 1.800 tỷ đồng.
Trong văn bản giải trình gửi Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE), ông Phạm Văn Quang, Kế toán trưởng Petrolimex, cho hay riêng mảng kinh doanh xăng dầu lỗ đến 930 tỷ đồng trong ba tháng đầu năm. Ngược lại, các mảng khác đều ổn định và tăng khoảng 15% so với cùng kỳ năm ngoái.
Số liệu này trùng khớp với dự báo của ban lãnh đạo tại phiên họp thường niên cuối tháng 4. Khi đó, Tổng giám đốc Lưu Văn Tuyển nói tập đoàn có khả năng lỗ 1.000 tỷ đồng từ mặt hàng xăng dầu do biến động bất thường trên thị trường nhiên liệu thế giới sau khi xung đột Trung Đông leo thang từ cuối tháng 2.
Trong văn bản giải trình gửi Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HoSE), lãnh đạo Petrolimex nhấn mạnh thị trường năng lượng toàn cầu đã biến động "đặc biệt bất thường và chưa từng có trong lịch sử" từ khi xung đột bùng nổ.
Trong tháng 3, xăng thành phẩm RON 95 có giá bình quân 137 USD một thùng, bằng 170% giá bình quân cùng kỳ và 178% so với tháng trước. Mặt hàng này có thời điểm vọt lên 170 USD một thùng, gấp đôi tháng trước. Tương tự, giá dầu thành phẩm ở mức bình quân 192 USD một thùng và có lúc đến 292 USD, lần lượt gấp đôi cùng kỳ và gấp ba tháng trước.
Theo Petrolimex, khi giá tăng mạnh, các thương nhân đầu mối nhỏ khó nhập khẩu do khan hiếm nguồn cung, cộng thêm giá và phụ phí tăng cao. Họ không đủ hàng cung ứng ra thị trường, dẫn đến nhu cầu xăng dầu đổ dồn sang các thương nhân đầu mối lớn như Petrolimex. Tổng sản lượng xuất bán của doanh nghiệp trong tháng 3 do đó cao hơn cùng kỳ 20% và tăng 13% so với tháng trước.
Để bù đắp khả năng đáp ứng nguồn cung từ các thương nhân đầu mối khác, Petrolimex phải điều chỉnh kế hoạch nhập hàng, tìm kiếm nguồn cung tức thời cuối tháng 3 từ các nhà cung cấp theo giá giao ngay ở mặt bằng và mức phụ phí rất cao. Cụ thể, phụ phí đối với dầu diesel lên đến 35-40 USD một thùng, còn xăng 12-15 USD, cao gấp nhiều lần mức thông thường là 2,5-3 USD.
Bên cạnh đó, Petrolimex cho biết họ phải duy trì tồn trữ vượt quy định, khoảng gần 1 triệu m3-tấn, gấp 1,3 lần lượng hàng tồn kho theo quy định, sẵn sàng ứng phó để nguồn cung xăng dầu trong nước không bị gián đoạn.
Tuy nhiên, đến đầu tháng 4, xu hướng đảo chiều giảm mạnh. Giá RON 95 vào ngày 21/4 giảm 46 USD so với mức đỉnh cách đó một tháng, còn dầu DO thành phẩm giảm đến 140 USD một thùng.
"Khi giá xăng dầu chuyển hướng giảm liên tục với biên độ lớn trong tháng 4, rủi ro do suy giảm giá trị hàng hóa đã nhập mua là yếu tố tác động trọng yếu đến hiệu quả kinh doanh", ông Phạm Văn Quang viết trong văn bản gửi HoSE.
Tính đến cuối quý I, Petrolimex có hơn 36.266 tỷ đồng hàng tồn kho, vượt xa mức 14.000 tỷ đồng hồi đầu năm. Doanh nghiệp trích lập dự phòng giảm giá tồn kho hơn 6.500 tỷ đồng.
Theo nhóm phân tích Công ty Chứng khoán Vietcap, con số này gấp khoảng 4 lần so với mức trích lập dự phòng hồi quý I/2020 và 5,7 lần so với quý II/2022. Trong quá khứ, các khoản trích lập như vậy thường gắn liền với kỳ vọng giá dầu giảm, như trong đại dịch Covid-19 hoặc khi xung đột Nga - Ukraine đạt đỉnh.
"Giá dầu diesel Platts Singapore (chỉ số tham chiếu cho chi phí đầu vào) đã giảm khoảng 40% từ cuối tháng 3, xuống còn khoảng 150 USD một thùng vào ngày 23/4, dẫn đến các khoản lỗ hàng tồn kho đáng kể. Ngoài ra, Petrolimex đã trở nên nhạy cảm hơn với biến động giá dầu do nhiệm vụ đảm bảo ổn định nguồn cung xăng dầu quốc gia", báo cáo của Vietcap viết.
Nhóm này nhận định cách tiếp cận trích lập dự phòng thận trọng của doanh nghiệp hợp lý trong bối cảnh hiện nay. Nếu loại trừ trích lập dự phòng, lợi nhuận sau thuế của cổ đông thiểu số có thể đạt khoảng 4.300 tỷ đồng.
Petrolimex hiện chiếm khoảng 50% thị phần bán lẻ xăng dầu trên thị trường. Năm nay, doanh nghiệp đặt mục tiêu tổng doanh thu hợp nhất 330.300 tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất dự kiến giảm nhẹ, đạt 3.370 tỷ đồng. Tại phiên họp thường niên cuối tháng 4, Tổng giám đốc Lưu Văn Tuyển nói ban lãnh đạo sẽ nỗ lực bằng mọi giá để đảm bảo quyền lợi của cổ đông, dù kế hoạch lợi nhuận năm nay có thể không bằng 2025.
Tin Gốc: Vnexpress

Tôi đồng tình với ý kiến của ông Ju Liang ở Đại học Vân Nam trong bài "Kho lạnh bảo vệ nông dân" (Tuổi Trẻ ngày 27-4), thủ phạm lại là một mắt xích tưởng khô khan: kho lạnh tại nguồn.
Nông sản Việt Nam có một nghịch lý đau lòng. Chúng ta đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu thanh long, sầu riêng, cà phê, hồ tiêu; xuất khẩu rau quả năm 2025 đạt khoảng 8,5 tỉ USD.
Nhưng giá trị thu về mỗi ha canh tác vẫn thấp hơn Thái Lan, thua xa Chile hay New Zealand ở cùng nhóm sản phẩm. Vì sao? Phần lớn câu trả lời nằm ở 24 giờ đầu tiên sau thu hoạch - khoảng thời gian mà trái cây, rau củ bắt đầu "chết" sinh học nếu không được hạ nhiệt kịp thời.
Con số gây sốc: tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch của ngành rau quả Việt Nam ở mức 20 - 40% tùy mặt hàng, theo báo cáo của Hiệp hội Rau quả Việt Nam tại Hội nghị xúc tiến thương mại tháng 6-2025. Tính ra thiệt hại kinh tế lên tới 3,5 - 4,1 tỉ USD mỗi năm - một khoản "thuế tàng hình" mà ngành nông nghiệp đang âm thầm trả.
Trong khi đó toàn quốc hiện chỉ có khoảng 117 kho lạnh chuyên nghiệp. Tới 90% trong số đó phục vụ đông lạnh sâu cho thủy sản và thịt. Kho mát chuyên dụng (0 - 15oC) cho trái cây tươi - vốn là trái tim của chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu - gần như là khoảng trống trên bản đồ hạ tầng.
Hệ quả là người nông dân buộc phải bán ngay, bán vội. Mỗi đợt "được mùa rớt giá" lại có kêu gọi "giải cứu". Nhưng "giải cứu" là dấu hiệu của một chuỗi cung ứng không có vùng đệm.
Trong kinh tế học vận trù, kho lạnh cho phép nông dân và hợp tác xã giữ hàng lại 3 - 7 ngày - đủ để thương lượng, đủ để đón sóng giá, khớp đơn xuất khẩu. Không có vùng đệm, bên bán mất quyền thương lượng. Đó là "lời nguyền vỉa hè": nông sản chín cây, đồng hồ sinh học đếm ngược từng giờ, và người mua nắm thế thượng phong.
Bài học từ Chile và Nam Phi về táo, nho và cam rất đáng suy ngẫm. Họ không xuất khẩu theo mùa vụ tự nhiên. Họ xuất khẩu theo nhịp điệu do chính họ thiết kế, nhờ hệ thống kho lạnh điều tiết từ trang trại ra cảng. Khi người bán kiểm soát được nhịp độ, quyền định giá tự khắc chuyển dịch.
Thái Lan không vượt Việt Nam về diện tích canh tác trái cây, nhưng vượt xa về giá trị xuất khẩu trên mỗi tấn. Bí quyết nằm ở mô hình các trạm sơ chế và kho mát đặt ngay tại vùng trồng.
Sầu riêng Monthong hái xong được đưa vào buồng tiền làm lạnh trong vài giờ rồi phân loại theo chuẩn xuất khẩu tại chỗ. Chuỗi này không chỉ giữ được phẩm cấp mà còn cho phép Thái Lan truy xuất nguồn gốc đến từng lô hàng - điều kiện sống còn để chinh phục các thị trường khắt khe.
Ấn Độ theo hướng khác. Chương trình Mega Food Parks và các gói tín dụng thuộc Bộ Công nghiệp chế biến thực phẩm hỗ trợ 35 - 50% chi phí đầu tư hạ tầng chuỗi lạnh cho doanh nghiệp nội.
Với vùng như đông bắc Ấn và vùng xa, mức hỗ trợ có thể tới 75%. Cơ chế rõ ràng: Nhà nước không làm kho, nhưng "kích" dòng vốn tư nhân chảy vào khu vực nông thôn - nơi vốn không đủ hấp dẫn với logic thị trường thuần túy.
Trung Quốc thì đi xa hơn nữa. Chỉ riêng một huyện Chu Chí (Thiểm Tây) đã có tới 3.000 kho lạnh phục vụ vùng táo - nhiều hơn tổng số kho lạnh chuyên nghiệp của cả Việt Nam gấp hàng chục lần.
Thứ nhất, Việt Nam cần quy hoạch quỹ đất logistics chuyên biệt tại các vùng trồng trọng điểm - Đồng bằng sông Cửu Long cho trái cây, Tây Nguyên cho cà phê và bơ, Đông Nam Bộ cho rau quả xuất khẩu. Đất cho kho lạnh phải nằm trong quy hoạch hạ tầng nông nghiệp - logistics tích hợp, không bị đẩy sang nhóm "đất thương mại dịch vụ" với giá thuê phi lý khiến bài toán đầu tư vỡ trận ngay từ đầu.
Thứ hai, và là sống còn nhất: giá điện. Kho lạnh tiêu thụ điện gấp 4 - 6 lần kho thường trên cùng diện tích. Nếu ngành sản xuất có giá điện ưu đãi, không có lý do gì hạ tầng cold chain phục vụ nông nghiệp - ngành trực tiếp tạo sinh kế cho hơn 30 triệu người - lại bị áp giá điện kinh doanh. Đây là sự công bằng chính sách.
Thứ ba, tiếp cận vốn. Một gói tín dụng chuyên biệt cho hạ tầng chuỗi lạnh, với lãi suất và thời hạn phù hợp chu kỳ hoàn vốn 7 - 10 năm, hoàn toàn khả thi nếu có sự phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và các ngân hàng thương mại. Mô hình bảo lãnh tín dụng qua Quỹ Bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được sử dụng.
Mất một vụ mùa, nông dân thiệt một năm. Mất một thập kỷ không đầu tư kho lạnh tại nguồn, ngành nông sản Việt mất quyền định giá cả một thế hệ. Với 3,5 - 4,1 tỉ USD tổn thất mỗi năm, chúng ta đang trả cho sự trì hoãn một cái giá đủ để xây dựng một hệ thống kho lạnh tại nguồn hoàn chỉnh trên cả nước chỉ trong vòng 5 năm.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Kinh Doanh
Đồng yên rơi xuống đáy 40 năm, chuyện gì đang xảy ra với kinh tế Nhật Bản?

Đồng yên lao dốc sát đáy 40 năm, Nhật Bản đứng trước bài toán khó
Đồng yên Nhật Bản tiếp tục suy yếu trong phiên giao dịch ngày 30/6, có thời điểm rơi xuống 162,41 yên đổi 1 USD - mức thấp nhất trong vòng 40 năm - trước khi phục hồi nhẹ lên quanh 162,23 yên/USD.
Trước diễn biến này, Bộ trưởng Tài chính Nhật Bản Satsuki Katayama một lần nữa khẳng định nhà chức trách sẵn sàng hành động bất cứ lúc nào nếu cần thiết, song vẫn chưa đưa ra thông điệp cứng rắn hơn, theo Reuters.
Áp lực lên đồng yên chủ yếu đến từ khoảng cách lãi suất ngày càng lớn giữa Nhật Bản và Mỹ. Đồng tiền này đang hướng tới quý giảm giá thứ tư liên tiếp, mất khoảng 2% trong quý II/2026 - chuỗi suy yếu dài nhất trong bốn năm.
"Điều thị trường quan tâm lúc này không còn là liệu Bộ Tài chính Nhật Bản có can thiệp hay không, mà là họ sẽ ra tay vào thời điểm nào", bà Carol Kong, chuyên gia chiến lược tiền tệ tại Ngân hàng Commonwealth Bank, nhận định với báo chí.
Tuy nhiên, theo bà Kong, ngay cả khi Nhật Bản can thiệp, tác động cũng chỉ mang tính ngắn hạn và khó đảo ngược xu hướng tăng dài hạn của tỷ giá USD/JPY. Bà dự báo đồng yên có thể tiếp tục giảm xuống 164 yên/USD vào đầu năm 2027.
Đồng nội tệ suy yếu đang mang lại lợi ích đáng kể cho các doanh nghiệp xuất khẩu khi giúp hàng hóa Nhật Bản cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế, qua đó góp phần đưa chứng khoán nước này liên tiếp lập các mức đỉnh mới.
Tuy nhiên, cái giá phải trả cũng không hề nhỏ. Chi phí nhập khẩu, đặc biệt đối với dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) được thanh toán bằng đồng USD, tăng mạnh, khiến áp lực lạm phát ngày càng lớn. Giá cả leo thang cũng đang làm xói mòn sức mua của các hộ gia đình tại nước này.
Theo ông Andrew Hazlett, nhà giao dịch ngoại hối tại Monex, giới chức Nhật Bản nhiều khả năng sẽ sớm can thiệp nếu tỷ giá tiếp tục neo ở vùng hiện tại. Tuy nhiên, ông cho rằng bất kỳ động thái nào cũng chỉ có tác dụng trong ngắn hạn nếu khoảng cách lãi suất giữa Nhật Bản và Mỹ không được thu hẹp.
Can thiệp vẫn chưa đủ sức cứu đồng yên Nhật
Trong những tháng gần đây, đồng yên gần như không phản ứng trước các biện pháp hỗ trợ của Tokyo.
Bộ Tài chính Nhật Bản đã chi khoảng 11.700 tỷ yên để can thiệp thị trường ngoại hối, trong khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) cũng liên tục nâng lãi suất.
Năm 2024, BOJ chính thức chấm dứt chính sách lãi suất âm, đánh dấu bước ngoặt sau nhiều năm duy trì nới lỏng tiền tệ và từng được kỳ vọng sẽ hỗ trợ đồng nội tệ phục hồi. Tuy nhiên, khoảng cách lãi suất lớn với Mỹ vẫn tiếp tục gây sức ép lên đồng yên.
Ngày 16/6, BOJ đã nâng lãi suất lên 1% - mức cao nhất kể từ năm 1995. Song quyết định này chỉ tạo tác động hạn chế lên thị trường, khi giới đầu tư vẫn nghiêng về kịch bản Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt.
Những động thái này nhanh chóng bị lu mờ bởi tác động từ cuộc xung đột tại Iran, khiến lo ngại lạm phát toàn cầu gia tăng và làm thay đổi kỳ vọng về chính sách tiền tệ của các ngân hàng Trung ương lớn.
Ở chiều ngược lại, giới đầu cơ vẫn không ngừng đặt cược vào đà giảm của đồng yên. Dữ liệu mới nhất từ cơ quan quản lý Mỹ cho thấy giá trị các vị thế bán ròng đồng yên đã lên tới 11,3 tỷ USD, tiệm cận mức cao nhất trong 2 năm.
Trong bối cảnh đó, nhiều nhà đầu tư cũng dự báo chính phủ Nhật Bản sẽ tìm cách gây sức ép để BOJ tạm dừng chu kỳ tăng lãi suất, nhằm hạn chế những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế trong nước.
Giới đầu tư hiện dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm tháng 6 của Mỹ dự kiến công bố vào cuối tuần. Ba tháng liên tiếp số việc làm mới đều vượt kỳ vọng đã củng cố quan điểm Fed sẽ duy trì lập trường cứng rắn trong cuộc chiến chống lạm phát. Theo định giá của thị trường, xác suất Fed tăng lãi suất vào cuộc họp tháng 9 hiện ở mức 61%.
"Bộ Tài chính Nhật Bản có thể can thiệp bất cứ lúc nào, nhưng họ cũng hiểu rằng rất khó chống lại xu hướng khi Fed vẫn đang ngày càng cứng rắn", ông Matt Simpson, chuyên gia phân tích thị trường cấp cao tại StoneX, nhận định với báo chí.
Theo ông, nếu các dữ liệu kinh tế Mỹ trong tuần này gây thất vọng và làm gia tăng kỳ vọng Fed sớm nới lỏng chính sách, đồng USD sẽ suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi để Nhật Bản can thiệp hiệu quả hơn. Còn ở thời điểm hiện tại, những cảnh báo từ Tokyo nhiều khả năng vẫn chỉ dừng ở mức phát tín hiệu trấn an thị trường.
Tin Gốc: Dân Trí

