Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Chọn môn thi tốt nghiệp THPT của học sinh TP.HCM ra sao so với năm trước?

Năm 2026, TP.HCM có 142.899 thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT. Năm 2025, số lượng thí sinh đăng ký dự thi là 97.940.
Như vậy số lượng thí sinh đăng ký dự thi của thành phố sau sáp nhập tăng khoảng 50.000 thí sinh.
Hai môn văn, toán bắt buộc và những môn có quá ít thí sinh bị loại trừ trong thống kê này. Tuổi Trẻ Online đề cập đến các môn thi có nhiều thí sinh lựa chọn để phân tích.
Cùng với số lượng thí sinh tăng, tỉ lệ học sinh chọn các môn thi cũng có sự thay đổi đáng kể.
Theo thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM, ngoại ngữ vẫn là môn được nhiều thí sinh chọn thi nhất nhưng tỉ lệ năm 2026 giảm mạnh so với 2025. So với năm trước, năm nay tỉ lệ học sinh chọn thi môn ngoại ngữ giảm hơn 5%.
Đây là mức tăng/giảm nhiều nhất trong số các môn thi so với năm 2025.
Từ số liệu trên có thể thấy học sinh TP.HCM sau sáp nhập có xu hướng chọn các môn khoa học xã hội thi tốt nghiệp THPT nhiều hơn.
Cụ thể, môn lịch sử có tỉ lệ học sinh chọn thi tăng nhiều nhất, hơn 4%. Môn giáo dục kinh tế và pháp luật cũng tăng nhẹ. Trong khi đó tỉ lệ học sinh chọn môn địa lý lại giảm so với năm 2025.
Ở nhóm môn khoa học tự nhiên, môn vật lý tiếp tục được nhiều thí sinh lựa chọn nhất sau ngoại ngữ ở cả hai năm 2025 và 2026. Không chỉ vậy, tỉ lệ học sinh chọn môn vật lý năm nay còn tăng nhẹ so với năm trước.
Trong khi đó, hai môn hóa học và sinh học đều có tỉ lệ chọn thi giảm so với năm trước. Điều này khiến cho nguồn tuyển cho nhóm ngành khoa học sự sống, khoa học sức khỏe ngày càng thu hẹp hơn.
Xét trong bối cảnh toàn quốc, tỉ lệ chọn môn thi của học sinh TP.HCM năm nay có một số tương đồng và khác biệt. Ở quy mô toàn quốc, các môn ngoại ngữ, địa lý, sinh học có tỉ lệ học sinh đăng ký dự thi giảm, các môn còn lại tăng so với năm 2025.
Tại TP.HCM, đây cũng là các môn có tỉ lệ học sinh chọn thi giảm so với năm trước. Riêng môn hóa học, tỉ lệ toàn quốc tăng trong khi tỉ lệ TP.HCM lại giảm.
TP.HCM sau sáp nhập là địa phương có số lượng thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT lớn nhất cả nước. Do đó, xét tỉ trọng thí sinh trong từng môn thi, thí sinh TP.HCM chiếm tỉ lệ khá lớn trong tương quan toàn quốc ở các môn khoa học tự nhiên và khiêm tốn ở các môn xã hội. Riêng môn ngoại ngữ, học sinh TP.HCM chiếm khoảng 19% tổng số thí sinh đăng ký dự thi môn này.
Mặc dù tỉ lệ học sinh chọn thi các môn khoa học xã hội tăng nhưng tỉ lệ học sinh TP.HCM trong các môn này khi xét quy mô toàn quốc chỉ chiếm tỉ lệ thấp. Chẳng hạn lịch sử, địa lý hơn 7%. Các môn xã hội không môn nào chiếm hơn 9% tổng thí sinh toàn quốc của môn thi đó.
Ngược lại, ở các môn tự nhiên, tỉ lệ này lại khá cao. Toàn bộ các môn tự nhiên như sinh học, hóa học, vật lý đều có tỉ lệ hơn 15% thí sinh toàn quốc.
Xét toàn quốc trong từng môn thi, tỉ lệ học sinh TP.HCM chọn các môn khoa học tự nhiên nhiều hơn gấp đôi các môn xã hội.
Như vậy, tỉ lệ học sinh TP.HCM chọn các môn xã hội thi tốt nghiệp THPT tăng, môn tự nhiên giảm so với năm trước. Tuy nhiên, xét toàn quốc ở từng môn thi, tỉ lệ thí sinh TP.HCM chọn thi khoa học tự nhiên nhiều gấp đôi các môn xã hội.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Theo dữ liệu mới công bố từ Bộ Giáo dục Trung Quốc do Tân Hoa Xã dẫn lại, trong 5 năm từ 2021 - 2025, các trường nước này đã bãi bỏ hoặc tạm dừng tuyển sinh 12.200 ngành học cử nhân, đồng thời mở mới 10.200 ngành - tương đương với việc điều chỉnh hơn 30% chương trình đào tạo trên cả nước. Những ngành bị cắt giảm tập trung phần lớn trong lĩnh vực ngoại ngữ, nghệ thuật, quản trị, khoa học xã hội và nhân văn.
Dựa trên dữ liệu công khai từ 134 trường ĐH Trung Quốc, tổ chức tư vấn giáo dục MyCOS tại nước này chỉ ra marketing là ngành bị đề xuất hủy bỏ nhiều nhất trong năm 2025, với 13 trường đề xuất. Xếp thứ 2 là quản trị công (12), thứ ba là quảng cáo và kỹ thuật dịch vụ ô tô (đều có 11 trường đề xuất hủy). Công tác xã hội và nghệ thuật truyền thông kỹ thuật số cũng là một số ngành học bị gọi tên.
Song song với hủy bỏ, các ĐH Trung Quốc còn dừng tuyển sinh nhiều ngành như quản trị nguồn nhân lực, quản trị du lịch, quản lý logistics, quản lý kinh tế quốc dân, quản lý đô thị, tiếng Nhật, tiếng Đức, giáo dục Hán ngữ quốc tế..., theo báo cáo công bố hồi tháng 5.
Tờ South China Morning Post phân tích những ngành nói trên ngày càng bị xem là lỗi thời hoặc dư thừa tại Trung Quốc, trong bối cảnh hơn 16% người trẻ thất nghiệp và thị trường lao động đổi thay nhanh chóng dưới tác động của trí tuệ nhân tạo (AI). Vì thế, các ngành mở mới được xây dựng sát với mục tiêu phát triển kinh tế của Trung Quốc, nhất là khi nước này muốn trở thành quốc gia dẫn đầu toàn cầu về các công nghệ tiên tiến.
Có thể thấy, diễn biến tại Trung Quốc không mới, dù nguyên nhân có phần khác biệt so với các nước có chung xu hướng.
Ở Úc, số lượng ĐH "quay lưng" với nhóm ngành nghệ thuật, ngôn ngữ, nhân văn... ngày càng tăng với những tên tuổi nổi bật gồm ĐH Quốc gia Úc, ĐH Công nghệ Queensland, ĐH Wollongong, ĐH Macquarie. Kéo theo đó là xu hướng cắt giảm giảng viên, nhân viên và sáp nhập hoặc giải thể các đơn vị nghiên cứu, đào tạo trong vài năm trở lại đây. Vấn đề này xuất phát từ cả hai phía. Một mặt, số học sinh trong và ngoài nước chọn các ngành này có xu hướng giảm trong thời gian qua vì triển vọng việc làm không như mong đợi. Mặt khác, theo truyền thông Úc, một số chính sách liên quan đến tài trợ từ ngân sách chính phủ được cho là đã khiến học sinh phải đóng tiền cao hơn nếu học các ngành không được coi là ưu tiên quốc gia và các trường gặp khó khăn tài chính.
Xu hướng cắt giảm các ngành ngôn ngữ, khoa học xã hội và nhân văn cũng lan rộng trong hệ thống giáo dục ĐH Mỹ, ở hàng loạt trường công lập lẫn tư thục. Khó khăn tài chính và yếu tố chính trị là 2 nguyên nhân phổ biến được gọi tên đằng sau những quyết định nói trên. Điều này làm dấy lên nhiều tranh luận về "giá trị" của tấm bằng ĐH ở thời điểm hiện tại, khi các ngành học khối nghệ thuật, nhân văn... được cho là có ít cơ hội việc làm và tạo ra thu nhập thấp hơn.
Thực tế, theo báo cáo năm 2025 của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), trong số những người trưởng thành có trình độ ĐH, nhóm từng học các ngành liên quan đến công nghệ thông tin và truyền thông đạt tỷ lệ việc làm trung bình cao nhất trong các quốc gia OECD, ở mức 90%. Tỷ lệ việc làm thấp nhất thuộc về nhóm được đào tạo ở các lĩnh vực nghệ thuật, khoa học xã hội và nhân văn... với mức trung bình 84%.
Báo cáo cũng chỉ ra các ngành thuộc nhóm khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) thường gắn với mức thu nhập cao nhất. Ở Mỹ, người có bằng ĐH ngành STEM có thể đạt thu nhập cao hơn trung bình tới 20%. Ngược lại, những người có bằng cấp trong lĩnh vực nghệ thuật, nhân văn và giáo dục thường có mức thu nhập thấp nhất trong nhiều quốc gia được khảo sát. Tuy nhiên, OCED khuyến nghị các số liệu trên cần được diễn giải thận trọng, cần tính tới bối cảnh thực tế và đặc thù ngành học.
Có nhiều năm học tập, làm việc với các trường ĐH Trung Quốc, tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Oanh, Trưởng phòng Quan hệ quốc tế Trường ĐH Lạc Hồng, Giám đốc Công ty TNHH Giáo dục quốc tế Lucky Star, thông tin: Riêng trong năm 2024, các ĐH trên toàn Trung Quốc đã mở mới 1.839 ngành, dừng tuyển sinh 2.220 ngành và xóa sổ 1.428 ngành. Các ngành mới chủ yếu liên quan tới AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, công nghệ thông minh và năng lượng mới. Đây là các ngành gắn chặt với chiến lược phát triển KH-CN của quốc gia này, theo bà Oanh.
"Trung Quốc đã tái cơ cấu giáo dục ĐH theo nhu cầu phát triển kinh tế và thị trường lao động. Thực tế, yếu tố việc làm đã trở thành một trong những tiêu chí quan trọng nhất khi điều chỉnh ngành. Không ít nơi áp dụng cơ chế cảnh báo với các ngành có tỷ lệ việc làm thấp trong nhiều năm liền. Những ngành bị cảnh báo có thể giảm chỉ tiêu hoặc tạm dừng tuyển sinh, thậm chí tiến tới đóng ngành", bà Oanh nói.
Song, điều này không đồng nghĩa Trung Quốc bỏ rơi các ngành như ngoại ngữ. Thay vào đó, các trường chuyển dịch từ đào tạo ngoại ngữ đơn thuần sang ngoại ngữ kèm chuyên môn như tiếng Anh kết hợp logistics quốc tế, thương mại điện tử xuyên biên giới... "Điều doanh nghiệp cần không chỉ là người biết ngoại ngữ, mà là nhân sự dùng được ngoại ngữ để giải quyết công việc thực tế", tiến sĩ Oanh nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, tiến sĩ Trần Thị Cẩm Tú, Viện trưởng Viện Đào tạo và hợp tác quốc tế kiêm Giám đốc chương trình ngôn ngữ Trung Quốc, Trường ĐH Hoa Sen, cho rằng các ĐH Trung Quốc không "bỏ" ngành ngoại ngữ, nghệ thuật, nhân văn hay quản trị, mà buộc các ngành này phải tái định vị trong bối cảnh mới theo hướng tích hợp công nghệ, tăng cường kiến thức thực tiễn và gắn với nghề cụ thể.
"Học ngoại ngữ ngày nay phải có yếu tố liên ngành, kết hợp năng lực liên văn hóa. Các ngành khoa học nhân văn cũng không thể chỉ dừng ở tri thức hàn lâm mà phải có năng lực phân tích xã hội, chính sách, thiết kế trải nghiệm con người trong kỷ nguyên AI", bà Tú nhận định. Chuyên gia này cho biết thêm một nguyên do khác khiến nhóm ngành ngoại ngữ tại Trung Quốc ít được quan tâm hơn trước là nước này đang muốn tăng cường lan tỏa văn hóa, ngôn ngữ Trung ra thế giới.
Đó là nguyên nhân bà cho rằng tại VN cần xem xét thận trọng cả ưu tiên phát triển của quốc gia lẫn nhu cầu của thị trường lao động, thay vì học hỏi rập khuôn các mô hình ở nước ngoài. Thực tế, VN và các quốc gia không chỉ khác nhau về vị trí địa lý mà còn về giai đoạn phát triển. Chưa kể, VN đang mở rộng quan hệ đối tác với các quốc gia và cán cân kinh tế đang dịch chuyển sang khối dịch vụ, sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là tiền đề dẫn tới sự phát triển "nóng" của một số ngành tại VN như quản trị, truyền thông, marketing, nghệ thuật ứng dụng, ngoại ngữ - đặc biệt là tiếng Trung khi dòng vốn đầu tư từ Trung Quốc, Đài Loan, Singapore... đang đổ về.
"Rồi sẽ tới giai đoạn các ngành học phát triển đủ mạnh, đủ đa dạng cũng như đáp ứng đủ nhu cầu thị trường. Lúc này, chúng ta phải xem xét lại danh mục đào tạo hiện hành để chuyển đổi theo hướng bền vững hơn", bà Tú lưu ý.
Tiến sĩ Tú nói thêm riêng việc đào tạo ngoại ngữ ở VN cũng đang có chuyển dịch đáng kể. Chẳng hạn, nếu muốn theo đuổi định hướng sư phạm, sinh viên được đào tạo thêm kỹ năng ứng dụng AI và công nghệ số trong dạy học. Còn nếu theo hướng ứng dụng, việc đào tạo gắn chặt với AI và kỹ năng ngành nghề nhất định, trải rộng nhiều lĩnh vực để sinh viên sau khi ra trường có thể làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ và đa văn hóa. "Đã không còn cảnh chỉ học thuần túy ngôn ngữ để thi lấy chứng chỉ như xưa", bà Tú chia sẻ.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo ghi nhận của Tuổi Trẻ Online, tính đến ngày 12-5, gần 20 trường đào tạo khối ngành sức khỏe đã công bố dự kiến mức học phí năm học 2026 - 2027, với mức thu dao động từ 20 đến hơn 800 triệu đồng/năm, tùy theo ngành, trường đào tạo.
Trong đó Trường đại học VinUni dự kiến mức học phí cao nhất: hơn 815 triệu đồng/năm với ngành y khoa, chưa bao gồm khoản hỗ trợ 35% học phí do Tập đoàn Vingroup tài trợ.
Theo nhà trường, khoản hỗ trợ 35% này được tự động áp dụng cho tất cả sinh viên trúng tuyển và duy trì trong suốt toàn bộ thời gian học tập tại trường. Như vậy, học phí của ngành y khoa còn khoảng gần 530 triệu đồng/năm.
Hai trường có học phí ngành y khoa trên 100 triệu đồng là Đại học Phenikaa và Trường đại học Tân Tạo.
Trong các trường có học phí tăng mạnh, Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam tăng học phí 102,9% với ngành dược học (từ 27,6 lên 56 triệu đồng/năm), hai ngành y khoa và y học cổ truyền đều tăng học phí trên 80% so với năm ngoái.
Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch tăng học phí ngành y khoa từ 55,2 lên 81 triệu đồng/năm (tăng hơn 46%)...
Một số trường như Trường đại học Đại Nam, Trường đại học Phan Châu Trinh, Trường đại học Y Dược Buôn Ma Thuột khi công bố học phí kèm theo cam kết không tăng học phí trong toàn khóa học.
Theo danh sách các chương trình đào tạo được đánh giá, công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng, do Cục Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo cập nhật đến ngày 28-2-2026, có gần 3.200 chương trình đào tạo đại học đạt tiêu chuẩn chất lượng.
Theo nghị định của Chính phủ về học phí, mức trần (mức cao nhất được thu) năm học 2026 - 2027 từ 1,71 - 3,5 triệu đồng/tháng, áp dụng với các trường công lập chưa tự chủ. Nhóm trường tự chủ, tùy mức độ có thể thu học phí cao hơn trần 2 - 2,5 lần.
Với chương trình đạt kiểm định, các trường được tự xác định mức học phí.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

