Sau khi đọc bài viết Cặp vợ chồng dắt con vào nhà sách mua đồ chơi làm tôi chột dạ và tình cờ xem được một chia sẻ của một bạn trẻ. Bạn cho biết mở nhà sách hai năm và lỗ hơn nửa tỷ đồng, dường như đang thanh lý đồ đạc.
Bằng một cách lạc quan nhất, tôi nghĩ trong thời gian hai năm và số tiền lỗ nửa tỷ đồng chưa phải là quá nhiều. Tác giả trong bài viết trên cho biết chột dạ khi thấy một cặp vợ chồng dắt con vào nhà sách nhưng lại mua đồ chơi. Nhưng ít ra, việc bán được đồ chơi cho trẻ em vẫn tạo ra doanh thu, góp phần duy trì hoạt động của nhà sách.
Thực tế ở Việt Nam, hầu như chẳng ai mở một tiệm sách để chỉ bán sách. Người ta thường bán thêm văn phòng phẩm, bút viết, quà lưu niệm, gấu bông, đồ chơi giáo dục… Không bán được sách chưa hẳn là điều tệ nhất, nhưng không bán được cả những mặt hàng phụ trợ này mới thực sự đáng lo.
Tôi nhớ hơn chục năm trước, tiệm sách gần nhà tôi mỗi mùa tựu trường bán cặp sách học sinh rất chạy. Nhưng vài năm trở lại đây, mặt hàng này gần như biến mất. Nhiều trường học bây giờ cung cấp đồng phục, balo in logo trường theo hình thức “trọn gói”.
Văn phòng phẩm, đồ chơi hay quà tặng cũng khó cạnh tranh với các sàn thương mại điện tử, nơi người mua chỉ cần vài thao tác là có thể tìm được sản phẩm đa dạng hơn và giá rẻ hơn.
Đó là lý do tôi cho rằng khó khăn của các nhà sách hiện nay không chỉ nằm ở việc người ta đọc ít sách hơn. Vấn đề lớn hơn là mô hình kinh doanh truyền thống của nhà sách đang bị cạnh tranh từ nhiều phía.
Người tiêu dùng mua sách trực tuyến ngày càng nhiều. Một cuốn sách trên mạng thường được giảm giá, khuyến mãi. Trong khi đó, một nhà sách vật lý phải trả tiền thuê mặt bằng, tiền điện nước, tiền nhân viên, chi phí tồn kho và rất nhiều khoản chi khác. Chỉ riêng việc duy trì cửa hàng đã là một áp lực lớn.
Nhiều người thường trách giới trẻ không đọc sách. Tôi nghĩ nhận định này chưa hoàn toàn chính xác. Người trẻ vẫn đọc, nhưng cách họ tiếp cận tri thức đã thay đổi. Họ đọc ebook, nghe sách nói, xem video tóm tắt kiến thức, tham gia các khóa học trực tuyến hoặc tiếp nhận thông tin qua những nền tảng số. Sách giấy không còn là lựa chọn gần như duy nhất như cách đây 15 hay 20 năm.
Điều đáng suy nghĩ là không ít nhà sách hiện nay đã trở thành nơi bán đủ thứ, ngoại trừ sách là mặt hàng nổi bật nhất. Khi doanh thu từ sách không đủ nuôi cửa hàng, người ta buộc phải mở rộng sang những sản phẩm khác để tồn tại. Đây không hẳn là sự xuống cấp của văn hóa đọc, mà là phản ứng tự nhiên của thị trường.
Tôi từng thấy nhiều phụ huynh đưa con đến nhà sách, nhưng đứa trẻ chỉ chăm chú vào khu đồ chơi, còn cha mẹ lại mua vài món quà lưu niệm hoặc văn phòng phẩm rồi ra về. Nhiều người xem đó là tín hiệu đáng buồn. Nhưng nhìn ở góc độ kinh doanh, nếu những món hàng đó giúp nhà sách có thêm doanh thu để tiếp tục mở cửa, thì cũng không phải điều tiêu cực.
Bởi nếu không bán được đồ chơi, quà tặng hay văn phòng phẩm, có thể nhà sách ấy đã đóng cửa từ lâu. Khi đó, người ta sẽ không còn nơi nào để đưa con đến tiếp xúc với sách nữa.
Theo tôi, điều đáng lo không phải là một đứa trẻ được dẫn vào nhà sách để mua một món đồ chơi. Điều đáng lo là ngày càng ít nhà sách có thể tồn tại đủ lâu để đứa trẻ ấy còn cơ hội quay lại.
Muốn cứu nhà sách, có lẽ không thể chỉ kêu gọi mọi người đọc nhiều sách hơn. Các nhà sách cũng phải thay đổi cách vận hành, tạo ra những trải nghiệm mà mua sắm trực tuyến không thể thay thế. Đó có thể là không gian đọc, khu sinh hoạt cộng đồng, các buổi giao lưu tác giả, hoạt động dành cho trẻ em hoặc những dịch vụ gia tăng khác.
Một nhà sách tồn tại được trước hết phải là một doanh nghiệp tồn tại được. Chỉ khi còn sống sót trên thị trường, họ mới có thể thực hiện sứ mệnh lan tỏa văn hóa đọc.
Vì thế, thay vì chột dạ khi thấy một cặp vợ chồng dắt con vào nhà sách mua đồ chơi, có lẽ chúng ta nên tự hỏi một điều rằng nếu ngay cả doanh thu từ đồ chơi cũng không còn, liệu bao nhiêu nhà sách sẽ còn trụ lại trong vài năm tới?
Lần gần nhất tôi đi nhà sách là vào trước Tết. Đang mải mê xem các tựa sách và định nhờ một bạn nhân viên nhà sách bóc seal nhựa để tôi xem trước nội dung và mục lục của một quyển sách thì tôi chợt thấy có một cặp vợ chồng dắt con đi vào.
Họ không dừng lại ở khu trưng bày sách mà đi thẳng đến các tủ kính chất đầy đồ chơi. Đứa bé chọn một mẫu đồ chơi rồi cùng bố mẹ ra quầy tính tiền.
Tôi cảm thấy mình bỗng chột dạ lạ vì đang định khôn lỏi nhờ bóc seal để xem trước vài phần nội dung quyển sách, thấy ưng ý thì về nhà lên mạng đặt mua để rẻ hơn giá ở nhà sách.
Thú thực, đã lâu lắm rồi tôi rất hiếm khi vào nhà sách mua sách. Lần trước nữa thì tôi vào nhà sách để... gói quà sinh nhật tặng cho một đứa cháu. Dĩ nhiên là món quà tôi cũng đặt hàng qua mạng.
Hôm qua, một người bạn gửi cho tôi một bài viết nói về một phố sách ế ẩm, doanh thu đến từ những quầy cà phê chiếm phần nhiều.
Tôi chợt nhớ đến một nhà sách to rộng gần nhà đã chuyển thành một cửa hàng bách hóa. Nhà sách cuối cùng của một chuỗi nhà sách khác cũng sắp đóng cửa trong tháng 6 này.
Tôi bỗng thấy có phải thành phố đang thiếu các hiệu sách, những hiệu sách đang tồn tại lây lất, tìm cách kiếm thêm doanh thu từ khu vui chơi giải trí trẻ em, bán đồ chơi, văn phòng phẩm... Thật là nghịch lý khi khách vào nhà sách nhưng không phải để mua sách.
Người tiêu dùng, tất nhiên không có lỗi vì chỗ nào bán được giá, kinh tế hơn thì họ (trong đó có tôi) lựa chọn. Nhưng nếu ai cũng nghĩ như vậy, có lẽ chúng ta nên thành thật với nhau rằng nhà sách đang phải gánh một bài toán rất khó giải.
Nhà sách phải thuê mặt bằng, trả lương nhân viên, đầu tư không gian trưng bày, bảo quản sách, cho khách đọc thử, tham khảo, trải nghiệm. Trong khi đó, ngày càng nhiều người xem nhà sách như một nơi để "xem hàng mẫu" rồi về đặt mua trên các sàn thương mại điện tử với giá thấp hơn vài chục nghìn đồng.
Nhiều người thường trách giới trẻ ngày nay ít đọc sách. Nhưng nhìn kỹ hơn, có lẽ vấn đề không nằm ở việc người ta không đọc. Điều đang thay đổi là cách con người tiêu thụ sách và cách họ mua sách. Các sàn thương mại điện tử với lợi thế về quy mô có thể giảm giá sâu, tung voucher, miễn phí vận chuyển.
Khi một cuốn sách ở nhà sách đắt hơn so với mua trực tuyến, trong bối cảnh chi tiêu ngày càng phải tính toán kỹ lưỡng, việc người tiêu dùng chọn phương án tiết kiệm hơn là điều hoàn toàn dễ hiểu.
Tuy nhiên, điều khiến tôi suy nghĩ là khi doanh thu từ sách ngày càng giảm, các nhà sách buộc phải tìm nguồn thu khác để tồn tại.
Bởi vậy, chúng ta thấy ngày càng nhiều nhà sách dành diện tích lớn cho đồ chơi, quà lưu niệm, văn phòng phẩm, khu vui chơi trẻ em, thậm chí là đồ ăn và cà phê. Có những nơi, khu vực bán sách bị thu hẹp dần để nhường chỗ cho những mặt hàng có biên lợi nhuận cao hơn và quay vòng vốn nhanh hơn.
Xét ở góc độ kinh doanh, đó là quyết định hợp lý. Nhưng xét ở góc độ văn hóa đọc, đó lại là một tín hiệu đáng suy ngẫm.
Nếu chúng ta vẫn muốn thành phố còn những nhà sách để ghé vào cuối tuần, còn những nơi để trẻ em được tiếp xúc với sách từ nhỏ, còn những không gian văn hóa thì ai sẽ là người giúp những nhà sách ấy tồn tại?
Câu hỏi đó khiến tôi nhớ lại khoảnh khắc nhìn thấy cặp vợ chồng dắt con vào nhà sách hôm trước. Đứa trẻ đã ra về với một món đồ chơi. Nhà sách có thêm một hóa đơn để duy trì hoạt động thêm một ngày. Còn tôi, người bước vào nhà sách vì sách, lại đang tính cách mua cuốn sách ấy ở một nơi khác rẻ hơn.
Nghĩ đến đó, tôi thấy mình chột dạ. Có lẽ sự khó khăn của các nhà sách hôm nay không đến từ việc người ta không còn bước chân vào nhà sách nữa. Mà đến từ việc ngày càng nhiều người bước vào nhà sách nhưng không còn mua sách ở đó.
Tôi sống ở khu vực An Sương. Dù cùng nằm trong TP HCM nhưng gần như cả năm tôi không đi xuống quận 7 cũ.
Nếu chạy xe máy hoặc ôtô từ An Sương xuống quận 7, Thủ Thiêm hay khu vực phía Đông thành phố thì thường mất khoảng một giờ, chưa kể kẹt xe. Nhiều người sống ở phía Tây thành phố chắc cũng có cảm giác tương tự. Chúng ta vẫn ở chung một thành phố nhưng khoảng cách về thời gian khiến mỗi khu vực gần như trở thành một "thế giới riêng".
TP HCM đang quy hoạch một mạng lưới metro rất lớn. Đây là hướng đi đúng và cần thiết. Nhưng khi nhìn vào bản đồ quy hoạch, tôi có một băn khoăn: Nếu sau này mạng lưới metro hoàn thành, người dân từ An Sương, Tân Kiên hay Suối Tiên sẽ mất bao lâu để đi tới Thủ Thiêm?
Bởi phần lớn các tuyến metro hiện nay được thiết kế theo hướng đưa hành khách vào khu vực trung tâm rồi mới tỏa đi các hướng khác. Muốn đi từ cực này sang cực khác của thành phố, nhiều trường hợp vẫn phải đi qua trung tâm hoặc chuyển tuyến tại các ga lớn.
Điều đó có nghĩa là metro sẽ giúp người dân có thêm lựa chọn đi lại, nhưng chưa chắc giải quyết triệt để bài toán thời gian giữa các cực của thành phố.
Tôi lấy một ví dụ đơn giản. Trong tương lai, nếu tuyến đường sắt tốc độ cao TP HCM - Cần Thơ được xây dựng, người dân có thể chỉ mất khoảng một giờ để đi từ Cần Thơ đến Tân Kiên. Nhưng sau khi đến TP HCM, họ có thể lại mất thêm gần một giờ nữa để đi tiếp tới Thủ Thiêm hoặc khu vực phía Đông thành phố.
Hay nếu sau này có tuyến đường sắt tốc độ cao đi Cần Giờ, người dân ở An Sương hoặc Suối Tiên vẫn có thể phải mất gần một giờ để vào khu vực trung tâm rồi mới tiếp tục hành trình khoảng 30 phút tới Cần Giờ.
Một người đi từ Cần Thơ tới TP HCM chỉ mất khoảng một giờ, nhưng để đi từ phía Tây sang phía Đông của cùng một thành phố lại mất gần bằng từng đó thời gian?
Theo tôi, đó là khoảng trống mà quy hoạch hiện nay vẫn chưa giải quyết được.
TP HCM có thể cần thêm một lớp giao thông khác bên cạnh hệ thống metro: Một tuyến đường sắt tốc độ cao vành đai kết nối các cực lớn của thành phố như An Sương, Tân Kiên, Tân Thuận, Thủ Thiêm và Suối Tiên.
Tuyến này không cần quá nhiều ga. Mỗi khu vực chỉ cần một ga trung chuyển lớn kết nối với mạng metro hiện hữu. Người dân đi metro đến ga gần nhất rồi chuyển sang tuyến vành đai tốc độ cao để thực hiện những hành trình dài trong nội đô.
Nếu được thiết kế với mục tiêu kết nối nhanh giữa các cực phát triển của thành phố, tuyến vành đai dài khoảng 80 km hoàn toàn có thể rút ngắn đáng kể thời gian di chuyển giữa An Sương, Tân Kiên, Thủ Thiêm hay Suối Tiên.
Khi đó, người ở An Sương muốn đến Thủ Thiêm không nhất thiết phải đi xuyên qua trung tâm. Người ở Suối Tiên muốn xuống khu vực phía Nam cũng không cần phải vòng qua Bến Thành. Thời gian di chuyển giữa các cực có thể giảm từ gần một giờ xuống còn khoảng 20-30 phút. Theo tôi, đây mới là điều quan trọng.
Bài toán giao thông của TP HCM không chỉ là làm sao đưa thêm người vào trung tâm nhanh hơn. Bài toán lớn hơn là làm sao giúp người dân đi từ nơi mình sống tới nơi mình cần đến nhanh hơn.
Nếu An Sương chỉ còn cách Thủ Thiêm khoảng 20-30 phút, nếu Tân Kiên chỉ còn cách Suối Tiên chưa đầy nửa giờ, rất nhiều thứ sẽ thay đổi. Doanh nghiệp sẽ không còn quá phụ thuộc vào khu vực trung tâm. Người lao động cũng có thêm lựa chọn việc làm mà không phải cân nhắc quá nhiều về khoảng cách.
Khi đó, An Sương, Tân Kiên, Tân Thuận hay Suối Tiên sẽ không chỉ là những cửa ngõ của thành phố, mà có thể trở thành những trung tâm mới của hoạt động kinh tế và dịch vụ.
Cuối cùng, điều người dân quan tâm không phải trên bản đồ có bao nhiêu tuyến metro hay bao nhiêu nhà ga. Điều họ quan tâm là sáng nay đi làm mất bao lâu, cuối tuần muốn sang phía bên kia thành phố có còn phải mất cả tiếng đồng hồ hay không?
Một hệ thống giao thông tốt không chỉ giúp thành phố phát triển, mà còn giúp người dân tiết kiệm thứ quý giá nhất của mình đó chính là thời gian.
Tôi có một người bạn năm nay 34 tuổi. Cô ấy có hai con nhỏ, đi làm giờ hành chính như bao người khác. Điều khiến tôi ngạc nhiên là hầu như ngày nào cô ấy cũng tự nấu cơm cho gia đình. Chưa hết, cô ấy còn đang học thạc sĩ vào buổi tối.
Nhiều lần nhìn lịch sinh hoạt của bạn, tôi tự hỏi: "Một ngày của cô ấy có phải dài gấp đôi 24h đồng hồ của người khác hay không"?
Trong khi đó, tôi chỉ mỗi việc đi làm về đã cảm thấy kiệt sức. Có hôm gọi đồ ăn vì ngại nấu, lúc nào cũng lờ đờ, chỉ muốn ngủ bù để lấy lại năng lượng. Chưa nói đến việc học thêm một tấm bằng hay theo đuổi một kỹ năng mới.
Điều đó khiến tôi băn khoăn, liệu đây là kết quả của khả năng quản lý thời gian rất tốt, hay đơn giản là vì mỗi người có một cách sắp xếp ưu tiên khác nhau?
Có người cho rằng ai cũng có 24 giờ mỗi ngày, vấn đề là sử dụng chúng như thế nào. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng hoàn cảnh mỗi gia đình khác nhau, công việc khác nhau, sức khỏe và áp lực cũng khác nhau nên không thể lấy một người làm chuẩn cho tất cả.
Bạn tôi một người vừa đi làm, nuôi hai con, học thạc sĩ mà vẫn nấu ăn hằng ngày là nhờ quản lý thời gian quá giỏi, hay đơn giản là họ chấp nhận hy sinh nhiều thời gian nghỉ ngơi hơn người khác hay là có một người chồng biết đỡ đần việc nhà?