Sáng nay 3.4, Ngày hội Tuyển dụng & Triển lãm công nghệ thông tin – Hutech it Open Day 2026 do trường ĐH Công nghệ TP.HCM tổ chức, đã quy tụ gần 70 doanh nghiệp tham gia, cung cấp 2.500 vị trí thực tập, việc làm.
Cùng tham dự ngày hội tuyển dụng có đại diện của các đơn vị như Hội Tin học TP.HCM, Hiệp hội Phần mềm và dịch vụ CNTT Việt Nam, Liên minh Công nghệ số Việt Nam, Khu Công viên phần mềm Quang Trung và Khu Công nghệ cao TP.HCM.
Bà Nguyễn Thị Xuân Dung, Giám đốc Trung tâm Truyền thông Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, cho biết: “Hơn 2.500 cơ hội thực tập và tuyển dụng hôm nay thuộc các lĩnh vực trọng điểm như lập trình, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), cloud, bảo mật, kiểm thử phần mềm và vận hành hệ thống…”.
Theo bà Dung, trong khuôn khổ ngày hội, hàng trăm sinh viên đã nộp hồ sơ và tham gia phỏng vấn trực tiếp tại các gian hàng của các doanh nghiệp.
Song song đó, trường đã tổ chức các hội thảo chuyên đề như: Vũ trụ nghề nghiệp ngành công nghệ: Thị trường lao động và kỹ năng chinh phục nhà tuyển dụng; Debut sự nghiệp công nghệ thông tin và định vị bản sắc cùng AI Coach; AI và nghề nghiệp: Hành trình trở thành kỹ sư AI…
Tại đây, sinh viên được nghe các chuyên gia đầu ngành giải mã những xu hướng công nghệ “thời thượng” như trí tuệ nhân tạo trong doanh nghiệp, điện toán đám mây và an ninh mạng…
Đặc biệt, sinh viên tham gia ngày hội đã được “mãn nhãn” với khu vực triển lãm công nghệ tương tác của các tập đoàn cùng các hệ thống phân phối. Các doanh nghiệp này đã trực tiếp trình diễn các giải pháp AI, thiết bị phần cứng và nền tảng số hiện đại.
PGS-TS Võ Đình Bảy, Trưởng khoa Công nghệ thông tin Trường ĐH Công nghệ TP.HCM, chia sẻ: “Trong kỷ nguyên AI, trường đã tổ chức ngày hội này theo mô hình tích hợp tuyển dụng, trải nghiệm công nghệ và định hướng nghề nghiệp, giúp sinh viên tiếp cận thực tiễn và sẵn sàng gia nhập thị trường lao động”.

Đây không chỉ là một vấn đề quản lý giáo dục đơn thuần, mà phản ánh một thách thức mang tính cấu trúc của đô thị lớn: sự lệch pha giữa tốc độ gia tăng dân số học đường và năng lực đáp ứng của hệ thống trường lớp.
Nếu chỉ nhìn nhận vấn đề dưới góc độ "thiếu phòng học", chúng ta có thể đưa ra giải pháp ngắn hạn nhưng nếu đặt nó trong mối quan hệ với dự báo số trẻ, số học sinh đến trường, thì đây thực chất là một bài toán chiến lược, đòi hỏi tư duy hệ thống và tầm nhìn dài hạn.
Trước hết, cần khẳng định xây dựng thêm trường học để giảm ca học, giảm sĩ số lớp, đáp ứng nhu cầu học của nhóm học sinh di cư tự nhiên trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo điều kiện giáo dục cho tất cả trẻ em… là một mục tiêu đúng đắn và cần thiết.
Tuy nhiên, điều đáng suy nghĩ là vì sao tình trạng thiếu phòng học kéo dài nhiều năm và chưa được giải quyết triệt để? Câu trả lời nằm ở chỗ chúng ta vẫn đang giải bài toán phòng học theo cách "chạy theo nhu cầu", thay vì "đi trước nhu cầu" bằng các công cụ dự báo khoa học.
"Không dự báo thì mọi quy hoạch đều mang tính hồi ứng, không phải dẫn dắt". Kết quả nếu chỉ xây đủ, xây vừa đủ thì việc chạy theo nhu cầu thực tế sẽ mãi là bài toán dài lâu chưa thể giải.
Trong một đô thị năng động như TP.HCM, dân số không chỉ tăng tự nhiên mà còn tăng cơ học do làn sóng nhập cư. Những khu vực có khu công nghiệp, khu chế xuất hay các khu đô thị mới thường chứng kiến sự gia tăng đột biến của trẻ em trong độ tuổi đến trường.
Nếu không có hệ thống dự báo chính xác và cập nhật, việc xây dựng trường học sẽ luôn rơi vào trạng thái bị động: nơi cần thì chưa có, nơi có thì chưa đủ, và khi xây xong thì nhu cầu đã tiếp tục thay đổi. Do đó, phòng học phải bắt đầu từ câu chuyện dự báo.
Dự báo ở đây không chỉ là ước lượng số lượng trẻ em hay học sinh trong tương lai, mà phải là một hệ thống phân tích đa chiều: theo độ tuổi, theo cấp học, theo không gian địa lý và theo biến động dân cư.
Một vấn đề đáng lưu ý là khoảng cách giữa "có dự báo" và "sử dụng dự báo". Trên thực tế nhiều địa phương đã có số liệu về dân số, về trẻ em trong độ tuổi đến trường nhưng việc chuyển hóa các con số đó thành kế hoạch cụ thể vẫn còn chậm.
Dữ liệu tồn tại nhưng chưa trở thành cơ sở cho quyết định. Điều này dẫn đến một nghịch lý: chúng ta biết trước áp lực sẽ đến nhưng vẫn không chuẩn bị đủ để đón nhận.
Bên cạnh yếu tố dự báo cần nhìn nhận phòng học trong mối quan hệ với chất lượng giáo dục. Việc xây thêm trường lớp để giảm tải số học sinh, giảm số ca học nếu có là cần thiết nhưng nếu chỉ dừng lại ở số lượng, chúng ta có thể vô tình tạo ra một hệ thống "đủ chỗ nhưng chưa đủ chất".
Một khía cạnh khác không thể bỏ qua là sự đồng bộ giữa phòng học và đội ngũ giáo viên. Có những nơi xây được trường mới nhưng lại thiếu giáo viên; ngược lại, có nơi đội ngũ dồi dào nhưng cơ sở vật chất không đáp ứng. Điều này cho thấy phòng học chỉ là một phần của bài toán lớn hơn - bài toán về hệ sinh thái giáo dục.
Việc giảm sĩ số học sinh, tăng trường lớp buộc phải dự báo số giáo viên và cả nhu cầu đào tạo bởi đào tạo một giáo viên cần ít nhất 4 năm.
Ngay cả việc sử dụng cơ chế tuyển dụng đột phá cũng cần phải tính toán về đảm bảo chất lượng, tuyển và giữ chân dài lâu, bồi dưỡng phát triển năng lực liên tục, nhất là thích nghi với các yêu cầu chất lượng cao về "làm nghề" để đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố. Nếu không giải quyết đồng thời các yếu tố liên quan, việc tăng số phòng học cũng khó mang lại hiệu quả như mong đợi.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng các hệ thống dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích xu hướng dân số và nhu cầu học tập là hoàn toàn khả thi.
Khi đó, dự báo không còn là những con số tĩnh, mà là một quá trình động, được cập nhật liên tục và phản ánh sát thực tế nhất là cần thỏa mãn các "thông số" định hướng phát triển giáo dục cũng như "gia tốc" phát triển về sức khỏe, tâm lý của học sinh thành phố.
Một điểm quan trọng khác là cần thay đổi cách tiếp cận trong đầu tư. Thay vì tập trung dồn lực để giải quyết các "điểm nóng" khi đã quá tải, cần có cơ chế đầu tư sớm, đi trước một bước. Điều này có thể gặp khó khăn về nguồn lực trong ngắn hạn, nhưng sẽ giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả trong dài hạn.
Không thể không nhắc đến vai trò của giáo dục ngoài công lập trong việc giảm áp lực phòng học.
Cần nhìn nhận linh hoạt rằng chúng ta vẫn rất cần giáo dục ngoài công lập nhưng nếu chúng ta đầu tư nhiều phòng lớp cho giáo dục công lập thì giáo dục ngoài công lập phải vận hành mới, phát triển mới với các điều kiện tốt, mô hình hiện đại và các thành tựu giáo dục không ngừng vượt trội.
Sự phát triển của khu vực này cũng cần được đặt trong quy hoạch tổng thể, tránh tình trạng phân bố không đồng đều hoặc chênh lệch quá lớn về chất lượng. Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo quyền học tập phổ cập, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở ngoài công lập phát triển theo định hướng chung.
Có thể thấy rằng phòng học chỉ là "phần nổi" của một bài toán sâu hơn. Đó là bài toán về cách chúng ta nhìn nhận và quản lý sự phát triển của hệ thống giáo dục và cả văn hóa xã hội trong một đô thị lớn.
Nếu chỉ tập trung vào việc xây dựng thêm phòng học, chúng ta có thể giải quyết được vấn đề trước mắt; nhưng nếu muốn xây dựng một hệ thống giáo dục bền vững thì cần bắt đầu từ nền tảng: dự báo chính xác số trẻ, số học sinh đến trường.
Mỗi phòng học được xây dựng hôm nay không chỉ phục vụ cho hiện tại mà còn là một cam kết cho tương lai.
Nguồn: https://tuoitre.vn/dong-bo-giua-phong-hoc-va-doi-ngu-giao-vien-20260331233803002.htm
Giáo Dục
Trao huân chương Nhật Bản cho thầy cô Trường ĐH Hà Nội, Ngoại thương, Việt Nhật

Theo thông tin từ Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, 4 cá nhân nêu trên được trao tặng huân chương vì những đóng góp vào việc thúc đẩy quan hệ giữa Nhật Bản - Việt Nam. Nổi bật nhất là GS-TS Furuta Motoo, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Việt Nhật (ĐH Quốc gia Hà Nội), giáo sư danh dự ĐH Tokyo (Nhật Bản) và trước đó từng đảm nhận vị trí Phó giám đốc ĐH này.
GS-TS Furuta được giới chuyên môn đánh giá là nhà Việt Nam học hàng đầu của Nhật Bản và từng xuất bản sách chuyên khảo về lịch sử chính sách dân tộc từ năm 1925 đến nay của Đảng Cộng sản Việt Nam - tác phẩm giúp ông nhận giải thưởng quốc gia Bảo Sơn vào năm 2025. Ông cũng là hiệu trưởng người nước ngoài đầu tiên ở một trường thành viên của ĐH Quốc gia Hà Nội và thông thạo tiếng Việt như người bản xứ.
GS-TS Furuta cũng là gương mặt quen thuộc với những thế hệ sinh viên khi nhiều lần dành phần thưởng, nhuận bút từ các công trình nghiên cứu của ông để trao tặng học bổng cho người Việt.
Với "đóng góp vào hoạt động giao lưu học thuật Nhật-Việt", GS-TS Furuta được trao Huân chương Thụy Bảo có tia vàng và ruy băng cổ.
Hai học giả Việt được trao Huân chương Mặt trời mọc có tia sáng vàng và nơ thắt hoa hồng là ông Nghiêm Việt Hương, nguyên Trưởng khoa tiếng Nhật ở Trường ĐH Hà Nội và PGS-TS Nguyễn Thị Bích Hà, nguyên Trưởng khoa tiếng Nhật ở Trường ĐH Ngoại thương. Cả hai thầy cô đều được trao huân chương vì đã góp phần phát triển hoạt động giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa Nhật-Việt.
Thầy Nghiêm Việt Hương là người đặt những viên gạch đầu tiên cho nền móng Khoa Tiếng Nhật, Trường ĐH ngoại ngữ Hà Nội, nay là Trường ĐH Hà Nội. Năm 2021, thầy từng được nhận bằng khen của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản bởi những công lao trong sự nghiệp giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam.
Tương tự, cô Nguyễn Thị Bích Hà cũng từng được trao bằng khen của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản trong cùng năm 2021. Ngoài đảm nhận vai trò lãnh đạo tại Khoa Tiếng Nhật của Trường ĐH Ngoại thương, cô còn hỗ trợ ĐH này ký kết thỏa thuận hợp tác với các ĐH Nhật Bản và trực tiếp dạy tiếng Nhật thương mại trên Đài truyền hình Việt Nam.
Cùng nhận huân chương từ chính phủ Nhật Bản đợt này còn có ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Tập đoàn FPT. Ông Bình được trao Huân chương Mặt trời mọc có tia sáng vàng và ruy băng cổ vì những "đóng góp vào việc thúc đẩy hoạt động giao lưu kinh tế giữa Nhật Bản - Việt Nam". FPT hiện có hơn 5.000 nhân sự làm việc trực tiếp tại 18 văn phòng và trung tâm nghiên cứu ở Nhật Bản, cùng hơn 18.000 chuyên gia toàn cầu chuyên trách thị trường này.
Tin Gốc: Thanh Niên

Lê Quốc Khang, học sinh lớp 12, trường THCS và THPT Nguyễn Tất Thành, Hà Nội, đạt điểm tuyệt đối 1600/1600 SAT trong lần thi thứ tư, hồi cuối tháng 3. Ngoài ra, Khang chinh phục IELTS 8.0 sau lần thi lại toàn bộ bốn kỹ năng.
"Khi được báo đạt điểm tuyệt đối, em vỡ òa vì những nỗ lực đã có kết quả", Khang chia sẻ, cho biết không dám tự xem điểm nên đưa tài khoản nhờ bạn kiểm tra trước.
Theo College Board, tổ chức sở hữu SAT, từ mốc 1530 trở lên, người thi lọt top 1% cao nhất thế giới trong hơn hai triệu thí sinh mỗi năm. Bài thi gồm hai phần là Reading and Writing (Đọc - Viết với 54 câu hỏi), và Math (Toán gồm 44 câu), kéo dài hơn hai giờ.
Khang bắt đầu ôn SAT từ lớp 10. Ở ba lần thi trước, điểm số của em lần lượt là 1440, 1430 và 1500. Nam sinh nhận ra mình thường xuyên mất điểm ở phần Đọc - Viết, đặc biệt là xác định nghĩa của từ trong ngữ cảnh cụ thể hoặc chọn từ đồng nghĩa (Word in context), còn phần Toán đôi khi mất điểm do bất cẩn.
Vốn định dừng lại sau lần thi vào năm 2024 vì điểm số chững lại, song thấy bạn bè đạt kết quả cao, năm nay, Khang quyết định thi tiếp.
"Em nghĩ tại sao mình được cho cùng cơ hội mà chưa nỗ lực bằng các bạn", Khang nói.
Khác với những lần trước, khi ôn tập ở trung tâm, lần thi cuối, nam sinh chủ yếu tự học tại nhà, ôn tập trong khoảng 1-2 tháng. Thay vì luyện đề, Khang tìm tài liệu trên mạng, xin giáo trình từ bạn bè rồi ôn tập theo dạng bài.
"Còn vướng mắc ở đâu, em sẽ tập trung luyện bài tập ở dạng đó", Khang nói.
Để không mất điểm ở dạng bài Word in context - vốn dùng nhiều từ vựng học thuật và hiếm gặp, em ghi lại và tra nghĩa tiếng Việt khoảng 30-40 từ hàng ngày. Nam sinh viết ra giấy, che đi phần nghĩa tiếng Việt rồi đọc lại nhiều lần để nhớ. Gần ngày thi, nam sinh làm một vài đề để căn thời gian cho chuẩn.
Ngoài SAT, Khang cũng thi IELTS hai lần. Lần đầu, em đạt 7.5. Sau khi chinh phục 1600 SAT, Khang thi lại vì muốn kết quả tốt hơn, đạt 8.0.
Nam sinh cho hay phần Writing (Viết) và Speaking (Nói) khó hơn cả vì cần nhiều môi trường sử dụng tiếng Anh thực tế. Khang ôn luyện với công cụ AI trên một trang web, giúp rèn phản xạ trong phòng thi. Cùng đó, em rủ bạn bè học nhóm, tăng cường trao đổi, tương tác.
"Em không có bí quyết nào đặc biệt. Điều quan trọng là nhận ra điểm yếu, luyện đúng phần cần cải thiện và có động lực đủ mạnh để theo đuổi mục tiêu đến cùng", Khang nói.
Ngoài học, nam sinh duy trì thói quen tập gym khoảng ba buổi mỗi tuần, không học vào chủ nhật để não bộ có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn. Em cũng tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, nhận chụp ảnh để kiếm tiền tiêu vặt.
"Những hoạt động ngoài việc học giúp em không bị cuốn vào áp lực thi cử", nam sinh nói.
Theo thầy Trần Minh Đức, giáo viên chủ nhiệm của Khang, đa số học sinh hoàn thành SAT từ cuối lớp 11 hoặc đầu lớp 12 để tập trung cho việc xét tuyển đại học trong nước. Tuy nhiên, Khang vẫn kiên trì theo đuổi mục tiêu điểm tuyệt đối.
"Khang luôn muốn mọi thứ phải tốt hơn nữa nên đã quyết tâm thi lại", thầy Đức nói, cho biết em là người đầu tiên đạt điểm SAT tuyệt đối tại THPT Nguyễn Tất Thành năm nay, tạo động lực cho học sinh trong trường.
Hiện, Khang cân nhắc sử dụng kết quả SAT và IELTS để đăng ký xét tuyển vào các trường đại học trong nước, hướng đến Đại học Ngoại thương và khối ngành kinh doanh, phân tích dữ liệu. Về lâu dài, em muốn học lên cao và nếu có cơ hội sẽ du học để thêm trải nghiệm.
Tin Gốc: Vnexpress

