Gừng chứa các hợp chất hoạt tính sinh học như gingerol – chất có đặc tính chống viêm và chống oxy hóa mạnh. Những hoạt chất này giúp bảo vệ tế bào khỏi tổn thương do gốc tự do, đồng thời hỗ trợ giảm viêm trong cơ thể, theo Cleveland Clinic (Mỹ).
Một trong những lợi ích rõ rệt nhất của gừng là hỗ trợ tiêu hóa. Bác sĩ Roxanne B. Sukol, chuyên gia y học dự phòng ở Mỹ, cho biết gừng có thể kích thích nhu động ruột và giúp thức ăn di chuyển trong hệ tiêu hóa nhanh hơn. Điều này đặc biệt hữu ích với những người thường xuyên bị đầy bụng, khó tiêu hoặc buồn nôn.
Chuyên gia Cynthia Sass, nhà dinh dưỡng học tại Mỹ, cho biết gừng không chỉ hỗ trợ tiêu hóa mà còn có thể giúp kiểm soát đường huyết và giảm viêm mạn tính – 2 yếu tố liên quan mật thiết đến nhiều bệnh lý hiện đại như tiểu đường và tim mạch. Theo bà Cynthia Sass, việc sử dụng gừng thường xuyên với liều lượng hợp lý có thể góp phần cải thiện sức khỏe tổng thể.
Không chỉ vậy, gừng còn được biết đến với khả năng giảm buồn nôn. Nhiều nghiên cứu cho thấy gừng có thể giúp giảm triệu chứng buồn nôn do say tàu xe, mang thai hoặc sau phẫu thuật. Một lượng nhỏ gừng mỗi ngày có thể giúp cải thiện đáng kể tình trạng này.
Ở góc độ tim mạch, gừng cũng mang lại những lợi ích nhất định. Bác sĩ Andrew Freeman, chuyên gia tim mạch tại National Jewish Health (Mỹ), nhận định các thực phẩm giàu hợp chất chống viêm như gừng có thể hỗ trợ giảm cholesterol và cải thiện chức năng mạch máu, từ đó góp phần bảo vệ tim mạch.
Ngoài ra, gừng còn có tác dụng làm ấm cơ thể và hỗ trợ tăng cường miễn dịch. Trong y học cổ truyền, gừng thường được sử dụng để giảm triệu chứng cảm lạnh, đau họng. Dù không phải là “thuốc chữa bệnh”, nhưng việc bổ sung gừng vào chế độ ăn hằng ngày có thể giúp cơ thể chống chọi tốt hơn với các tác nhân gây bệnh.
Các chuyên gia khuyến nghị chỉ cần khoảng 1 – 2 lát gừng tươi mỗi ngày là đủ để tận dụng lợi ích, có thể dùng dưới dạng pha trà, thêm vào món ăn hoặc ăn trực tiếp. Tuy nhiên, không nên lạm dụng, đặc biệt với người có bệnh dạ dày, sỏi mật hoặc đang dùng thuốc chống đông máu.
Dù chỉ là một lát nhỏ, gừng lại mang trong mình nhiều giá trị cho sức khỏe. Duy trì thói quen sử dụng gừng hợp lý mỗi ngày có thể là cách đơn giản để cải thiện tiêu hóa, tăng cường miễn dịch và hỗ trợ bảo vệ tim mạch lâu dài.
Ngày 2/6, TS.BS Trương Quang Khanh, Trưởng khoa Nhịp tim, Bệnh viện Thống Nhất cho biết nơi này vừa thực hiện thành công ba trường hợp điều trị rung nhĩ bằng năng lượng từ xung điện (PFA). Mỗi ca can thiệp diễn ra thuận lợi trong chưa đầy 30 phút, giúp người bệnh phục hồi tốt. Đây là bệnh viện thứ hai tại Việt Nam thực hiện kỹ thuật này, sau vài ngày so với Viện Tim mạch Việt Nam (Bệnh viện Bạch Mai).
Rung nhĩ là dạng rối loạn nhịp tim phổ biến, khiến tim đập hỗn loạn, làm tăng nguy cơ đột quỵ, suy tim và giảm chất lượng sống. Với nhiều bệnh nhân, đây là bệnh lý kéo dài, phải dùng thuốc chống đông hoặc can thiệp để kiểm soát nhịp tim.
Triệt đốt rung nhĩ hiện nay có ba kỹ thuật, gồm đốt bằng sóng cao tần (RF) kết hợp hệ thống lập bản đồ 3D; đốt bằng bóng áp lạnh; đốt bằng năng lượng từ xung điện (PFA). Trong đó, đốt bằng sóng cao tần có thời gian dài nhất, tốn khoảng 2-3 giờ song chi phí thấp nhất, khoảng hơn 100 triệu đồng, hiện đã được bảo hiểm y tế chi trả. Đốt bằng bóng lạnh có chi phí cao hơn, khoảng 250 triệu đồng, kéo dài khoảng 1h30 phút.
Còn công nghệ PFA sử dụng các xung điện cường độ cao trong thời gian cực ngắn để tác động chọn lọc lên vùng cơ tim gây rối loạn nhịp mà không dùng nhiệt. Nhờ vậy, phương pháp này giúp hạn chế tổn thương ngoài tim và rút ngắn đáng kể thời gian can thiệp, song chi phí còn khá cao với khoảng 350 triệu đồng, chưa được bảo hiểm thanh toán.
PGS.TS.BS Lê Đình Thanh, Giám đốc Bệnh viện Thống Nhất, cho biết bệnh viện đã cử bốn bác sĩ sang đào tạo chuyên sâu tại Bệnh viện Đại học Juntendo (Nhật Bản) trước khi triển khai kỹ thuật. Các bác sĩ được trực tiếp thực hành trên bệnh nhân và nhận chứng nhận hoàn thành chương trình.
Theo PGS.TS Hayashi Hidemori, Trưởng khoa Sinh học và Y học Tim mạch, Trường Sau Đại học Y khoa, Bệnh viện Juntendo, nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy PFA có tỷ lệ cô lập tĩnh mạch phổi cao, thời gian thủ thuật ngắn hơn và hồ sơ an toàn đầy hứa hẹn so với phương pháp triệt đốt bằng nhiệt truyền thống.
Các chuyên gia kỳ vọng việc triển khai thành công kỹ thuật này sẽ mở thêm cơ hội điều trị hiện đại cho người mắc rung nhĩ tại Việt Nam, đồng thời cho thấy năng lực tiếp cận và làm chủ kỹ thuật chuyên sâu của đội ngũ bác sĩ trong nước.
Chiều tối 24.4, trao đổi với PV Thanh Niên, bác sĩ chuyên khoa 1 Phạm Xuân Duy, Trưởng khoa Ngoại - Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh Quảng Ngãi, cho biết đơn vị vừa phẫu thuật thành công, lấy ra một búi tóc lớn trong dạ dày của bé gái 7 tuổi, ở xã Trà Giang.
Theo bác sĩ Duy, bệnh nhi nhập viện trong tình trạng xuất huyết tiêu hóa, da xanh, mệt mỏi kéo dài. Qua thăm khám, các bác sĩ phát hiện vùng thượng vị của trẻ xuất hiện một khối bất thường, giới hạn rõ, mật độ chắc.
Bệnh nhi sau đó được chỉ định thực hiện các cận lâm sàng, gồm: Siêu âm, chụp MRI và nội soi tiêu hóa. Kết quả cho thấy trong dạ dày có một búi tóc kích thước lớn, chiếm gần toàn bộ thể tích.
Sau khi hội chẩn, các bác sĩ quyết định phẫu thuật để lấy dị vật. Ca mổ diễn ra thuận lợi, khối tóc lớn được lấy ra an toàn, với trọng lượng gần 0,3 kg.
Theo bác sĩ Duy, đây là một dạng rối loạn tâm lý liên quan đến hành vi ăn tóc, thường gặp ở trẻ em, đặc biệt là bé gái. Điểm đáng chú ý là người mắc vẫn sinh hoạt, ăn uống bình thường nên rất khó phát hiện sớm.
"Tình trạng này còn được gọi là hội chứng Rapunzel, lấy theo tên nhân vật công chúa tóc mây trong truyện cổ Grimm. Nếu không được can thiệp kịp thời, búi tóc sẽ lớn dần, gây tắc nghẽn và nhiều biến chứng nguy hiểm", bác sĩ Duy cho biết.
Các bác sĩ khuyến cáo, việc điều trị hội chứng này không chỉ dừng lại ở phẫu thuật lấy dị vật mà cần kết hợp can thiệp tâm lý. Nếu không điều trị tận gốc hành vi, nguy cơ tái phát là rất cao.
Phụ huynh cần theo dõi sát các biểu hiện bất thường ở trẻ, như: Hay nhai, nuốt tóc, đau bụng kéo dài, nôn ói hoặc sụt cân không rõ nguyên nhân để kịp thời đưa đi khám, tránh những hậu quả đáng tiếc.
Mới đây, bác sĩ Hung Yung-hsiang, chuyên gia ung thư tại Bệnh viện Đa khoa Tam Quân (Đài Loan), chia sẻ quá trình tìm ra căn bệnh ác tính cho nữ quản lý.
Theo đó, người bệnh đến phòng khám trong tình trạng thừa cân, phù nề chi dưới, mệt mỏi và ho kéo dài. Trước đó, cô thăm khám nhiều nơi nhưng các y bác sĩ chỉ chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày, do ảnh chụp X-quang phổi hoàn toàn bình thường.
Khai thác bệnh sử, bác sĩ Hung nhận thấy anh trai nữ quản lý từng mắc ung thư biểu mô tuyến phổi khi còn trẻ. Ông lập tức chỉ định cô chụp cắt lớp vi tính liều thấp (LDCT). Kỹ thuật chụp chuyên sâu này giúp ông nhìn thấy rõ một tổn thương kích thước 1,5 cm ở ngay phổi phải của bệnh nhân.
Bác sĩ đánh giá người bệnh mang nhiều yếu tố nguy cơ khởi phát ung thư. Căng thẳng công việc kéo dài cùng tình trạng mất ngủ bào mòn sức khỏe nữ quản lý. Cô cũng ăn đồ ngọt và thực phẩm chế biến sẵn hàng ngày để giải tỏa áp lực tâm lý. Ê kíp y tế lập tức phẫu thuật cắt bỏ khối u cho người phụ nữ kịp thời.
Nhằm ngăn chặn tế bào ác tính tái phát sau ca mổ, bác sĩ yêu cầu cô thay đổi triệt để nếp sinh hoạt. Người bệnh phải chuyển sang dùng thực phẩm tự nhiên, loại bỏ đồ ngọt và ngừng thức khuya. Bệnh nhân tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định y khoa suốt hai năm qua, duy trì thể trạng ổn định và không xuất hiện dấu hiệu khối u quay lại.
Ung thư phổi chia làm hai dạng chính là ung thư phổi tế bào nhỏ, chiếm 15% và ung thư phổi không tế bào nhỏ, 85%. Trong đó, ung thư phổi không tế bào nhỏ là một trong những bệnh ung thư thường gặp tại châu Á.
Loại không tế bào nhỏ ở giai đoạn sớm có tỷ lệ khỏi bệnh cao, 92% sống 5 năm nếu khối u kích thước dưới một cm, 1% sống sau 5 năm nếu di căn xa. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân thường vào viện khi bệnh ở giai đoạn muộn (giai đoạn III, IV).
Chẩn đoán và điều trị sớm ung thư phổi vẫn là thách thức lớn đối y bác sĩ. Nhóm nguy cơ cao như tuổi trên 50, hút thuốc lá nhiều năm; người làm việc trong môi trường tiếp xúc với hóa chất độc hại, các chất phóng xạ hoặc trong gia đình có nhiều người mắc ung thư..., cần khám sức khỏe định kỳ để phòng ngừa bệnh.
Hiện, điều trị nhắm trúng đích là một trong những phương pháp điều trị mới trong điều trị nội khoa trên bệnh nhân ung thư phổi. Phương pháp này có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với các hóa trị, xạ trị và phẫu thuật để thời gian sống, giảm bớt các tác dụng phụ cho người bệnh.