Sau hơn 2 năm theo đuổi công nghệ in 3D sinh học tiên tiến, nhóm dự án do PGS.TS Nguyễn Ngọc Đỉnh, Trưởng khoa Vật lý, Trường Đại học Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đồng chủ nhiệm, đã xây dựng một hệ máy in do Việt Nam làm chủ toàn trình và tạo ra được mạch máu nhân tạo.
PGS Đỉnh cho biết, hành trình phát triển hệ máy in 3D sinh học của nhóm khởi nguồn từ một cuộc thảo luận cùng PGS.BS.TS Đỗ Xuân Hai, Chủ nhiệm Bộ môn Phẫu thuật thực hành, thực nghiệm – Học viện Quân y, về nhu cầu cấp thiết trong ghép tạng.
Thống kê của Bộ Y tế cho thấy, hiện Việt Nam ước tính khoảng 8.000-9.000 người cần ghép thận, 10.000 người cần ghép gan, 1.000 người cần ghép tim. Số bệnh nhân chờ cấy ghép giác mạc cũng lên tới hàng nghìn người. Những con số này tăng thêm mỗi năm, do nguồn tạng hiến không theo kịp nhu cầu.
Trên thế giới cũng gặp vấn đề tương tự, trong khi hiến tạng không còn là giải pháp bền vững. Giới khoa học tìm các giải pháp thay thế, trong đó in 3D sinh học là công nghệ đang được khám phá.
Tin tưởng năng lực trong nước hoàn toàn có thể theo đuổi công nghệ này, PGS Đỉnh cùng với các đồng nghiệp tại Khoa Sinh học – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Viện nghiên cứu Tế bào gốc và Công nghệ gene Vinmec – VinUni và Bộ môn Phẫu thuật thực hành, thực nghiệm – Học viện Quân y xây dựng dự án liên ngành phát triển hệ máy in 3D sinh học.
Trong đó, Khoa Vật lý nghiên cứu hệ máy in, Khoa Sinh học và VinUni phát triển mực in, Học viện Quân y đưa sản phẩm cuối, mạch máu nhân tạo, vào thử nghiệm trên chuột.
TS Thân Thị Trang Uyên, VinUni, thành viên nhóm phụ trách vật liệu sinh học cho biết, không khó để nhập khẩu các hệ máy, nhưng như vậy đội ngũ trong nước chỉ đóng vai trò người vận hành cho các hệ sinh thái khép kín của nhà cung cấp nước ngoài, nhiều linh kiện và công thức độc quyền, bí mật. “Việc làm chủ công nghệ nền tảng nhằm cải tiến sâu cho các nghiên cứu đặc thù tại Việt Nam”, TS Uyên giải thích về lý do nhóm theo đuổi giải mã công nghệ.
Theo đó, nhiều cấu phần cốt lõi của công nghệ, trong đó có mực in hay công thức các khối cầu tế bào được ví như những viên “gạch sống” được nhóm dành gần 2 năm thử nghiệm nhiều phương án phối trộn các vật liệu sinh học sao cho đạt tỷ lệ và thành phần tối ưu. “Mục tiêu là tạo ra các khối cầu tế bào gốc đạt độ đồng nhất về cả kích thước lẫn mật độ tế bào để máy in có thể vận hành ổn định, không bị tắc hay lệch tọa độ”, TS Uyên kể lại.
Nhóm cho biết, mỗi viên “gạch sống” là một khối cầu tế bào, được nuôi cấy từ tế bào gốc. Một cánh tay robot gắn và thả các khối cầu này lên một bàn chông, tạo thành từ những mũi kim siêu nhỏ, theo thiết kế và tọa độ đã lập trình. Sau khi bị găm lên bàn chông, theo thời gian, các khối cầu tế bào sẽ tự liên kết với nhau thành mô hoàn chỉnh. Khi mô đã đủ ổn định, toàn bộ cấu trúc sẽ được rút ra và các lỗ nhỏ sẽ tự khép lại nhờ quá trình di cư của tế bào, cơ chế như khi cơ thể làm lành vết thương.
Thay vì in 3D bằng đùn ép thông thường, nhóm đặt mục tiêu làm chủ phương pháp in trên bàn kim Kenzan, với ưu điểm là tạo ra cấu trúc có mật độ tế bào và chất nền ngoại bào tương đương với mô tự nhiên, giúp tăng khả năng tương thích sinh học sau ghép. Đây cũng là phương pháp tương tự với các dự án in 3D nội tạng tiên tiến nhất hiện nay trên thế giới.
Theo TS Uyên, giải pháp đã có nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới thực hiện, nhưng hàng loạt chi tiết liên quan đến công thức và kỹ thuật bắt buộc phải thử và sai để tìm ra.
Có mực in, môi trường và hệ thống cơ khí tiếp tục là các bài toán dành cho nhóm vật lý. Bàn kim Kenzan đòi hỏi các cây kim phải được bố trí với mật độ cao và độ chính xác ở mức 0,001 mm. Kim phải đủ cứng, bề mặt phải được xử lý mịn tuyệt đối để không làm tổn thương hoặc làm vỡ cấu trúc của các khối cầu tế bào khi găm vào, đồng thời phải đảm bảo tính trơ về mặt sinh học để tế bào không bị biến tính khi tiếp xúc.
Khác với in đùn ép, phương pháp Kenzan yêu cầu robot phải gắp từng khối cầu tế bào và găm chính xác vào từng cây kim theo tọa độ 3D đã lập trình. Quá trình này đòi hỏi hệ thống cơ khí chính xác phải có độ phản hồi cực nhạy, kiểm soát lực hút nhả vừa đủ để không làm dập nát khối tế bào sống vốn rất mong manh.
“Nhiều linh kiện cơ khí chính xác siêu nhỏ hay cảm biến độ nhạy cao gần như không có sẵn trên thị trường, nhóm phải tự chế tạo hoặc tùy chỉnh từ nhiều nguồn khác nhau để tích hợp thành hệ thống hoàn chỉnh”, PGS Đỉnh nói.
Tiềm năng tạo da, sụn, giác mạc và mô thử nghiệm thuốc
Nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc in và ghép mạch máu in 3D, nuôi cấy từ tế bào gốc trung mô cuống rốn người, vào động mạch chủ bụng, phần dưới thận của chuột Wistar. Kết quả bước đầu cho thấy mạch máu đạt mức độ tương thích sinh học cao, ít nguy cơ bị đào thải – vấn đề thường gặp nhất trong cấy ghép nội tạng. Toàn bộ chuột thí nghiệm đều duy trì lưu thông máu và huyết áp ổn định, khả năng đi lại và vận động bình thường, các chỉ số xét nghiệm không có khác biệt tiêu cực.
Tuy nhiên PGS Đỉnh cho biết, in 3D chưa thể giải quyết được ngay vấn đề khan hiếm nội tạng, nhưng là hướng nghiên cứu giúp tiếp cận và làm chủ một công nghệ lõi tiềm năng.
Theo PGS Hai, với công nghệ, hạ tầng và nhu cầu của ngành y tế Việt Nam, sản phẩm hệ in 3D sinh học đầu tiên tạo ra tác động thực tế sẽ không phải là các cơ quan nội tạng phức tạp, mà là các cấu trúc mô mỏng, mô không có mạch máu phức tạp hoặc các mô hình mô phỏng để thử nghiệm thuốc.
Hướng khả thi nhất để ứng dụng lâm sàng trong thời gian ngắn tới là in các mảnh sụn tai cho trẻ em dị tật bẩm sinh, sụn khớp gối cho người già thoái hóa khớp hoặc sụn định hình theo khiếm khuyết từ tế bào gốc sụn. Ngoài ra, công nghệ in 3D sinh học này có thể tạo ra các cấu trúc da biểu bì nuôi cấy từ tế bào gốc của chính bệnh nhân để đắp lên vết thương.
Giác mạc cũng được nhóm nghiên cứu đánh giá là có tính khả thi cao và mong muốn phát triển. Nhu cầu ghép giác mạc tại Việt Nam lớn do các tổn thương vì tai nạn lao động, bệnh lý hoặc sẹo giác mạc, trong khi nguồn giác mạc phụ thuộc hoàn toàn vào hiến tặng, vốn khan hiếm.
Hành lang pháp lý – rào cản ứng dụng
PGS Đỉnh cho biết, đến nay rào cản lớn nhất để đưa công nghệ này vào ứng dụng là hành lang pháp lý. Do sử dụng tế bào gốc sống, sản phẩm in 3D sinh học được xem là mô sống hoặc thuốc sinh học đặc biệt, không phải vật liệu trơ như in xương nhân tạo. Hiện nay Việt Nam và thế giới chưa có bộ tiêu chuẩn, quy trình kiểm định rõ ràng cho sản phẩm cá thể hóa này.
Quy trình phê duyệt y tế truyền thống dựa trên việc thử nghiệm lâm sàng diện rộng hàng nghìn mẫu đồng nhất để chứng minh tính an toàn. Nhưng bản chất của in 3D sinh học là cá thể hóa theo từng bệnh nhân, cấu trúc cơ quan và nguồn tế bào gốc riêng biệt, đặt ra bài toán quản lý cấp phép cho sản phẩm mà mỗi lần chế tạo lại là một phiên bản.
Rủi ro sinh học dài hạn cũng là điểm cần lưu ý. Tế bào gốc sau khi được in và cấy ghép vào cơ thể có nguy cơ biến đổi sai hoặc nghiêm trọng hơn là tạo khối u.
“Việc chứng minh và kiểm soát tuyệt đối tính an toàn này để được cơ quan pháp lý phê duyệt lâm sàng là một rào cản tốn rất nhiều thời gian, có thể 5 đến 10 năm”, PGS Hai cho biết.
Trong khi hướng lâm sàng còn nhiều rào cản pháp lý, thì in 3D sinh học để tạo mô hình thử nghiệm cho ngành dược sẽ tạo ra tác động kinh tế sớm. Trước mắt, công nghệ này sẽ hướng đến việc in các cấu trúc mô người thu nhỏ như mô gan, mô thận hoặc mô hình khối u ung thư của bệnh nhân Việt Nam.
Các viện nghiên cứu và doanh nghiệp dược phẩm trong nước có thể dùng các mô sống này để thử nghiệm độc tính của thuốc, thay thế việc thử nghiệm trên động vật vốn bị hạn chế về đạo đức và độ chính xác. Cách này cũng giúp sàng lọc thuốc cá thể hóa, thử nghiệm xem phác đồ hóa trị nào hiệu quả nhất trên khối u nuôi cấy từ tế bào của mỗi bệnh nhân trước khi truyền thuốc vào cơ thể.
“Với sự đồng hành của các trung tâm y tế, bệnh viện đầu ngành, Việt Nam có cơ hội thiết lập các quy trình thử nghiệm trên mô sống, phục vụ ngành dược phẩm nội địa”, PGS Đỉnh kỳ vọng.
Trong khi trước đây, tốc độ 100 Mbps được coi là kỳ diệu, người dùng giờ đây có thể tải xuống hàng chục gigabyte (GB) chỉ trong vài phút. Tuy nhiên, mặc dù ngày càng phụ thuộc vào Wi-Fi, nhiều người vẫn chưa hiểu rõ cách thức hoạt động của nó, dẫn đến nhiều hiểu lầm.
Một số lầm tưởng chỉ gây lãng phí thời gian, trong khi những lầm tưởng khác lại liên quan đến những lo ngại nghiêm trọng, như việc sóng Wi-Fi có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Ngoài ra, nhiều người vẫn tin vào những mẹo cải thiện tốc độ Wi-Fi mà thực tế không mang lại hiệu quả, chỉ tốn kém thời gian và tiền bạc. Việc hiểu rõ cách thức hoạt động của Wi-Fi sẽ giúp người dùng đưa ra quyết định tốt hơn về cách sử dụng kết nối internet tại nhà. Dưới đây là những lầm tưởng phổ biến nhất về Wi-Fi.
Nhiều người nghĩ rằng việc kết nối thiết bị với mạng internet có dây thông qua bộ mở rộng Wi-Fi sẽ giúp cải thiện tốc độ, nhưng đây là điều không đúng. Điều đầu tiên người dùng cần biết là kết nối có dây thường nhanh hơn kết nối không dây. Ngay cả khi đang kết nối thiết bị với bộ mở rộng Wi-Fi bằng cáp Ethernet, nó vẫn dựa vào kết nối dữ liệu không dây. Để có kết nối Ethernet thực sự, người dùng cần kết nối bộ mở rộng qua cáp Ethernet và sau đó nối cáp đến thiết bị của mình.
Nhiều người nghĩ rằng việc hướng ăng-ten về phía thiết bị sẽ tăng cường tín hiệu. Tuy nhiên, ăng-ten router là đa hướng có khả năng phát tín hiệu theo mọi hướng. Việc điều chỉnh ăng-ten có thể cải thiện vùng phủ sóng ở xa, nhưng không giúp ích nhiều cho tốc độ kết nối khi người dùng ở gần router.
Mặc dù có nhiều lo ngại về sóng Wi-Fi và tác động của chúng đến sức khỏe, nhưng không có bằng chứng xác đáng cho thấy sóng Wi-Fi thông thường gây hại cho con người. Sóng Wi-Fi thuộc loại sóng không ion hóa, không đủ mạnh để thay đổi hoạt động của tế bào. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khẳng định mức độ sóng Wi-Fi mà con người tiếp xúc trong môi trường sống hằng ngày thấp hơn nhiều so với ngưỡng gây hại.
Mặc dù băng tần Wi-Fi 5 GHz đã trở nên phổ biến, băng tần 2,4 GHz vẫn có những ưu điểm riêng. Nó có thể kết nối tốt với các thiết bị nhà thông minh và có phạm vi hoạt động rộng hơn, mặc dù tốc độ truyền tải thấp hơn so với băng tần cao hơn.
Trước khi đầu tư vào một router đắt tiền, người dùng nên kiểm tra gói dịch vụ internet của mình thay vì cứ nghĩ rằng router đắt tiền sẽ giúp cải thiện tốc độ internet. Với router Wi-Fi, giá không phải lúc nào cũng tương đương với chất lượng, bởi nhiều router giá rẻ vẫn có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng internet hằng ngày mà không cần phải chi tiêu quá nhiều.
Luật được Quốc hội thông qua cuối năm 2025, điều chỉnh một số nội dung về quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và việc bảo hộ các quyền này.
Giảm thời gian đăng ký sáng chế
Thay đổi rõ nhất của luật là rút ngắn thời gian xử lý đơn sở hữu công nghiệp và đơn giản hóa thủ tục xác lập, đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. Các mốc thời gian ở từng khâu đều được điều chỉnh giảm.
Cụ thể, thời gian thẩm định nội dung đơn sáng chế giảm từ 18 xuống còn 12 tháng, đơn nhãn hiệu từ 9 còn 5 tháng, đơn kiểu dáng công nghiệp từ 7 xuống 5 tháng. Thời gian công bố đơn cũng rút từ 2 xuống còn 1 tháng. Luật đồng thời bổ sung cơ chế thẩm định nhanh với đơn sáng chế và nhãn hiệu. Trong trường hợp đáp ứng điều kiện, việc thẩm định nội dung có thể rút xuống còn 3 tháng. Đây là mức thời gian rất ít quốc gia đang áp dụng.
Để đáp ứng, luật đặt yêu cầu chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động sở hữu trí tuệ. Quy trình xử lý đơn được đơn giản hóa, tăng hậu kiểm, ứng dụng công nghệ mới và AI nhằm cải thiện hiệu quả.
Tài sản trí tuệ có thể góp vốn, thế chấp
Luật thúc đẩy khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ, coi đây như một loại tài sản sinh lời. Chủ sở hữu có thể sử dụng quyền này trong các giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư, dùng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp vay vốn.
Để hỗ trợ, luật bổ sung quy định hình thành cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, nhằm minh bạch thị trường. Các tổ chức trung gian như định giá, môi giới cũng được khuyến khích phát triển.
Luật cũng yêu cầu doanh nghiệp lập danh mục riêng để quản trị nội bộ đối với quyền sở hữu trí tuệ chưa đủ điều kiện ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán. Thực tế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa có thói quen quản lý quyền sở hữu trí tuệ như một tài sản quan trọng, dẫn đến tình trạng không duy trì hoặc gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ.
Quy định mới là bước khởi đầu cho việc chuyển trọng tâm từ "bảo hộ quyền" sang "khai thác, sử dụng quyền như một tài sản có giá trị", giảm tình trạng "bằng độc quyền để treo", mở rộng nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Mở rộng bảo hộ, tăng chế tài xử lý vi phạm
Luật hiện mở rộng phạm vi bảo hộ. Việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp giờ áp dụng cả với phần không tách rời được của sản phẩm và các sản phẩm phi vật lý, như giao diện đồ họa người dùng (GUI), biểu tượng (icon). Quyền tác giả và quyền liên quan cũng được bảo hộ đối với tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa.
Song song, luật bổ sung các chế tài và biện pháp dân sự nhằm xử lý hành vi xâm phạm quyền trên môi trường số. Trách nhiệm của nền tảng số trong việc triển khai biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng được quy định rõ hơn. Mức bồi thường thiệt hại theo luật định được nâng lên, nhằm tăng tính răn đe và phù hợp với thực tiễn.
Chính sách với sáng chế tạo bởi AI
Luật lần đầu đưa ra quy định nhằm xử lý những vấn đề phát sinh do sự phát triển của công nghệ mới, nhất là trí tuệ nhân tạo. Theo đó, việc khai thác dữ liệu để nghiên cứu, thử nghiệm và huấn luyện hệ thống AI được cho phép, với điều kiện không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, tác giả, đồng thời tuân thủ quy định liên quan.
Đặc biệt, luật bổ sung quy định từ chối và hủy bỏ văn bằng bảo hộ khi phát hiện chủ thể tạo ra không phải con người. Quy định này phù hợp với chính sách chỉ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm có tác giả là con người hay do con người tạo ra. Với trường hợp sử dụng AI trong quá trình tạo sản phẩm, luật giao Chính phủ quy định cụ thể về việc phát sinh và xác lập quyền sở hữu trí tuệ.
Bên cạnh đó, về vấn đề đăng ký nhãn hiệu chứa tên quốc gia Việt Nam, Luật cũng bổ sung quy định kiểm soát việc đăng ký đối với nhãn hiệu này.
Trọng Đạt
Chính sách mới về sở hữu trí tuệ có hiệu lực
Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi có hiệu lực
Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng danh mục AI rủi ro cao
Công bố 522 thủ tục hành chính thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ
Ngày 5-6, tại phường Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, Công ty cổ phần Tập đoàn Amaccao (Tập đoàn Amaccao) tổ chức lễ động thổ dự án nhà máy đốt chất thải rắn phát điện.
Đây là một trong hai dự án hạ tầng môi trường trọng điểm được Tập đoàn Amaccao đồng loạt triển khai ở phường Tùng Thiện, Hà Nội và phường Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, đánh dấu bước ngoặt lớn trong việc chuyển đổi mô hình xử lý rác thải từ chôn lấp truyền thống sang công nghệ thu hồi năng lượng hiện đại.
Dự án nhà máy đốt chất thải rắn phát điện tại phường Phú Tân có tổng vốn đầu tư 1.919 tỉ đồng, được xây dựng trên diện tích khoảng 4,2ha.
Nhà máy được thiết kế với công suất xử lý 650 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày đêm và công suất phát điện đạt 13 MW.
Điểm nhấn quan trọng của công trình này chính là việc ứng dụng công nghệ đốt rác phát điện Martin của Cộng hòa Liên bang Đức - một trong những công nghệ tiên tiến nhất thế giới hiện nay, giúp đảm bảo toàn bộ chỉ tiêu khí thải và bụi đạt tiêu chuẩn châu Âu 2010/75/EU.
Ngoài ra hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn Cột A (QCVN 40:2025/BTNMT), cho phép tái sử dụng hoàn toàn trong nhà máy mà không phát thải ra môi trường bên ngoài.
Ông Nguyễn Hà - Phó tổng giám đốc Tập đoàn Amaccao - cam kết sẽ tập trung tối đa nguồn lực, ứng dụng công nghệ số hóa và trí tuệ nhân tạo vào vận hành để đảm bảo an toàn, hiệu quả.
"Nhà máy khi hoàn thành không chỉ là công trình hạ tầng kỹ thuật mà còn được định hướng trở thành một "điểm nhấn xanh" với kiến trúc thẩm mỹ cao, phục vụ mục đích tham quan, nghiên cứu và lan tỏa ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng địa phương", ông Hà nói.