Ngoại trưởng Iran Abbas Araghchi ngày 17/4 đăng trên mạng xã hội X rằng eo biển Hormuz đã “mở cửa hoàn toàn” cho tàu thương mại, khiến giá dầu Brent giảm khoảng 10 USD, xuống mức 89 USD mỗi thùng chỉ sau vài phút và chứng khoán Mỹ lập đỉnh kỷ lục mới.
Tổng thống Donald Trump cho biết eo biển đã “hoàn toàn mở cửa và sẵn sàng cho giao thương”, song ông khẳng định lệnh phong tỏa các cảng biển Iran sẽ không thay đổi cho đến khi một thỏa thuận giữa Washington với Tehran được “hoàn tất 100%”. Tổng thống nói thêm quá trình đàm phán “sẽ diễn ra rất nhanh chóng” vì hầu hết các điều khoản đã được thống nhất.
Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội Iran Mohammad Bagher Ghalibaf, người từng dẫn đầu phái đoàn đàm phán của Iran tại Pakistan, sau đó lại tuyên bố rằng eo biển Hormuz “sẽ không được mở nếu chiến dịch phong tỏa các cảng vẫn diễn ra”.
Ông Ghalibaf còn nói rằng eo biển Hormuz mở hay đóng, cũng như các quy định liên quan, sẽ “được quyết định trên thực địa chứ không phải mạng xã hội”, dường như ám chỉ bài đăng trên X của Ngoại trưởng Araghchi.
Tasnim, hãng thông tấn bán chính thức có liên hệ với Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) cũng đăng bài viết cho rằng thông báo trên X của Ngoại trưởng Araghchi là “tệ và không đầy đủ”, thêm rằng hoạt động qua lại Hormuz của tàu thuyền sẽ bị xem là “không phù hợp” nếu Mỹ vẫn phong tỏa cảng biển Iran.
Một số tờ báo Iran còn kêu gọi giới chức làm rõ về vấn đề này. Hiện chưa rõ lý do có sự khác biệt về quan điểm giữa Ngoại trưởng Araghchi và Chủ tịch Quốc hội Ghalibaf.
Do sự thiếu rõ ràng này, nhiều hãng tàu thương mại vẫn chưa có đủ tự tin để khôi phục hoạt động bình thường qua Hormuz, dù eo biển được cho là “đã mở cửa”. Theo Wall Street Journal, một số hãng tàu cho biết họ đang chờ đợi thêm những bảo đảm an ninh rõ ràng hơn trước khi nối lại lưu thông qua Hormuz.
Dữ liệu mà hãng tư vấn an ninh hàng hải Control Risks thu thập được cho thấy tình hình ở eo biển Hormuz “gần như không có gì thay đổi” sau thông báo của Ngoại trưởng Iran.
Các lãnh đạo ngành vận tải muốn đảm bảo chắc chắn rằng tàu của họ không gặp nguy hiểm, đồng thời họ có thể không muốn tuân thủ yêu cầu từ phía Iran về việc đi theo lộ trình sát bờ biển nước này, thay vì hai làn chính vốn được sử dụng trước chiến sự. Giới chức Iran cảnh báo các tàu vẫn cần được cho phép nếu muốn đi qua eo biển.
Yêu cầu trên của Iran đồng nghĩa với việc tuyến đường vẫn chưa thực sự mở cửa. “Điều đó không phải tự do hàng hải”, Martin Navias, tác giả cuốn Chiến tranh tàu dầu: Cuộc tấn công vào tàu thương mại trong cuộc khủng hoảng Iran – Iraq, nhận định.
Trước xung đột, mỗi ngày có khoảng 130 tàu đi qua eo biển Hormuz, sử dụng hai làn đường chính khác biệt với lộ trình mà Iran quy định. Nếu muốn tối ưu hóa lượng lưu thông, tàu thuyền sẽ phải quay lại hai tuyến đường chính đó. Tuy nhiên, để các chủ tàu yên tâm, họ cần phải chắc chắn rằng chúng đã sạch bóng thủy lôi.
Theo giới chức Mỹ, Iran hiện không thể xác định được vị trí tất cả các bãi thủy lôi mà họ đã rải bên trong eo biển và thiếu khả năng gỡ bỏ chúng.
Trong điều kiện bình thường, hai tuyến đường này hoạt động như một “hệ thống phân luồng giao thông” mà Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc, đã thông qua vào năm 1968 để tránh va chạm.
Tổng thư ký IMO Arsenio Dominguez ngày 17/4 cho hay họ đang xem xét liệu thông báo về việc mở lại eo biển có tuân thủ “quyền tự do hàng hải cho tất cả tàu thương mại và đảm bảo việc di chuyển an toàn bằng hệ thống phân luồng giao thông do IMO thiết lập hay không”.
Các công ty vận tải biển lớn vốn đang do dự trong việc đưa tàu qua eo biển cho hay họ cũng đang tiến hành đánh giá liệu Hormuz đã trở nên an toàn hơn thực sự hay chưa.
“Chúng tôi vẫn còn một số câu hỏi chưa được giải đáp, nhưng chúng có thể được xử lý trong vòng 24 giờ tới”, Nils Haupt, người phát ngôn công ty Hapag-Lloyd từ Đức, hãng vận tải container lớn thứ 5 thế giới, nói.
Ông cho biết thêm rằng Hapag-Lloyd muốn 6 con tàu đang bị kẹt của mình băng qua eo biển càng sớm càng tốt, nhưng họ vẫn cần câu trả lời về phạm vi bảo hiểm cũng như những chỉ thị rõ ràng từ phía chính phủ Iran về hành lang biển được phép sử dụng và trình tự các tàu rời đi.
“Trên lý thuyết, điều này có vẻ rất khả quan”, Alexis Ellender, chuyên gia phân tích tại Kpler, công ty theo dõi dữ liệu hàng hải, bình luận, song ông dự đoán sẽ phải mất ít nhất một tuần trước khi lưu lượng tàu thuyền đi qua eo biển tăng lên đáng kể.
Một số công ty nhỏ hơn có thể sẵn sàng nối lại hoạt động nếu họ đảm bảo được các gói bảo hiểm với mức phí hợp lý. Theo phân tích dữ liệu của Kpler, có khoảng 900 con tàu đã bị kẹt lại tại vùng Vịnh trong suốt thời gian diễn ra xung đột giữa Mỹ – Israel với Iran.
Một nhà điều hành tàu tại Istanbul đang có tàu bị kẹt cho hay ông sẽ xem xét việc đưa tàu ra khỏi eo biển ngay lập tức nếu chắc chắn được về vấn đề bảo hiểm, nhưng ông dự kiến việc này sẽ mất vài ngày.
Tính đến chiều 17/4, theo dữ liệu vận tải của MarineTraffic, tàu thuyền vẫn chưa quay trở lại eo biển Hormuz với số lượng lớn. Chỉ khoảng 6 tàu hàng đi qua eo biển từ khi có thông báo của Iran, một số tàu khác di chuyển về phía Hormuz nhưng sau đó đã phải quay đầu chưa rõ lý do.
Nhìn bề ngoài, việc mở lại eo biển Hormuz là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy cuộc chiến kéo dài gần hai tháng qua giữa Mỹ và Iran đang đi đến hồi kết. Tuy nhiên, câu chuyện lớn hơn vẫn là mối lo về việc Iran có thể tận dụng eo biển như một đòn bẩy để gây áp lực lên kinh tế toàn cầu trong tương lai.
“Eo biển Hormuz giờ đây có chức năng gần giống như một công cụ răn đe không khác gì vũ khí hạt nhân”, Jim Krane, chuyên gia năng lượng vùng Vịnh tại Viện Baker thuộc Đại học Rice, Mỹ, nhận định. “Đây là một quân bài khá mạnh của họ mà về cơ bản là bắt nền kinh tế toàn cầu làm con tin để ngăn chặn các cuộc tấn công nhắm vào mình”.
Khoảng 20% lượng dầu mỏ và một phần lớn khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) toàn cầu được vận chuyển qua eo biển Hormuz. Khi Iran đóng cửa eo biển hồi tháng 3, nó đã tác động tức thì tới nền kinh tế thế giới. Nhiều quốc gia đối mặt tình trạng thiếu nhiên liệu trầm trọng và phải phân phối theo định mức, đồng thời nguồn cung phân bón bị thắt chặt, đe dọa năng suất cây trồng.
“Áp lực lên nền kinh tế toàn cầu thực sự đã vượt ngưỡng chịu đựng” khi chiến sự kéo dài sang tuần thứ 7, Krane cho hay.
Theo Ed Morse, cựu trưởng bộ phận nghiên cứu hàng hóa tại tập đoàn tài chính và đầu tư đa quốc gia Citigroup, ngay cả khi eo biển mở cửa trở lại hoàn toàn, cũng phải mất ít nhất 7 tuần để lượng dầu rời Trung Đông trước chiến sự có thể cập cảng các thị trường truyền thống.
Việc rà phá thủy lôi tại eo biển, điều mà ông Trump viết trên mạng xã hội Truth Social rằng đang diễn ra với sự hợp tác từ phía Iran, có thể mất gần một tháng tùy thuộc vào mức độ phối hợp.
Morse lưu ý trong quá trình này, các chủ tàu sẽ cực kỳ thận trọng khi đưa tàu quay trở lại Hormuz. Một tàu VLCC, loại tàu chở dầu thô lớn nhất, có giá khoảng 120 đến 130 triệu USD. “Bạn sẽ không mạo hiểm đối mặt nguy cơ mất đi cỗ máy in tiền của mình đâu”, ông nói.
Hãng thông tấn Fars News của Iran cho biết 3 tiếng nổ lớn đã vang lên lúc 1h30 hôm nay tại phía đông Bandar Abbas, thành phố cảng nằm gần eo biển Hormuz và là nơi đặt căn cứ hải quân chiến lược của nước này. Hệ thống phòng không triển khai ở Bandar Abbas đã kích hoạt trong thời gian ngắn.
"Vị trí chính xác và nguồn gốc của những âm thanh vẫn chưa được xác định, các biện pháp theo dõi đang được triển khai để làm rõ sự việc", Fars News cho hay.
Hãng thông tấn Reuters sau đó dẫn lời quan chức Mỹ giấu tên cho biết nước này đã tiến hành thêm một đợt không kích nhằm vào mục tiêu quân sự của Iran, nói rằng địa điểm này gây ra mối đe dọa với lực lượng của Washington và hoạt động hàng hải trong khu vực.
Quan chức Mỹ thêm rằng một số máy bay không người lái (UAV) phóng từ Iran cũng bị bắn hạ, nhưng không nêu thêm chi tiết.
Lầu Năm Góc và Bộ tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cơ quan đặc trách hoạt động của quân đội Mỹ tại Trung Đông, chưa đưa ra bình luận.
Cuộc tập kích diễn ra 3 ngày sau khi quân đội Mỹ tiến hành đợt "tấn công tự vệ" nhằm vào tàu Iran bị cáo buộc đang rải thủy lôi ở eo biển Hormuz. Diễn biến xảy ra giữa lúc các nhà đàm phán Mỹ và Iran đang nỗ lực hoàn thiện bản ghi nhớ nhằm mở lại eo biển Hormuz, đồng thời tạo thêm thời gian để đạt được thỏa thuận về số phận các kho dự trữ uranium làm giàu cấp độ cao của Iran.
Phát biểu tại cuộc họp nội các được truyền hình trực tiếp từ Nhà Trắng ngày 27/5, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Iran muốn có một thỏa thuận nhưng những gì họ đưa ra vẫn là chưa đủ.
"Iran rất có thiện chí, họ rất muốn đạt được thỏa thuận. Đến nay họ vẫn chưa đạt được điều đó. Chúng tôi chưa hài lòng với việc này, nhưng rồi chúng ta sẽ hài lòng thôi. Hoặc là như vậy, hoặc là chúng ta sẽ phải hoàn thành nốt công việc", ông nói.
Ông Trump nói thêm rằng bản thân không có gì phải vội vã, dù cuối tuần trước tuyên bố một thỏa thuận "đã ở rất gần".
Hãng thông tấn Tasnim dẫn lời tướng Mohammad Akbarzadeh, quan chức cấp cao Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran, cho biết khả năng xung đột tái bùng phát là "rất thấp vì khả năng yếu kém của đối phương", nhưng cảnh báo quân đội Iran "đang chờ sẵn với những băng đạn đầy" nếu bị tấn công.
Theo Hãng tin AFP ngày 25-6, dựa trên báo cáo chung của Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) và Tổ chức Các bác sĩ vì nhân quyền (PHR), ít nhất 52 người đã tử vong trong các cơ sở giam giữ của ICE kể từ khi ông Trump bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai vào tháng 1-2025.
Báo cáo cho biết từ giai đoạn đó đến tháng 1 năm nay, tỉ lệ tử vong hằng năm trong các cơ sở giam giữ của ICE đã tăng 140% so với cùng kỳ năm trước.
Tỉ lệ này cao gấp bốn lần so với thời cựu Tổng thống Joe Biden và cao hơn gấp đôi so với nhiệm kỳ đầu tiên của ông Trump từ năm 2017 đến năm 2021.
Trong lần thứ hai quay lại Nhà Trắng, ông Trump coi chống nhập cư trái phép là một trong những ưu tiên hàng đầu của mình. Chính quyền Mỹ đã tăng cường truy quét, bắt giữ hàng nghìn người nhập cư và mở rộng hệ thống các trung tâm giam giữ trên cả nước.
Nhóm tác giả của báo cáo nhận định thay vì giải quyết tình trạng quá tải và cải thiện điều kiện chăm sóc y tế, chính quyền tiếp tục dồn nguồn lực để đưa thêm nhiều người vào diện bị giam giữ trong thời gian dài.
Báo cáo cũng nêu một số trường hợp được cho là phản ánh những thiếu sót nghiêm trọng trong công tác chăm sóc y tế.
Cụ thể, một người đàn ông Ukraine 44 tuổi bị đột quỵ nhưng không được điều trị kịp thời dù xuất hiện nhiều dấu hiệu cấp cứu rõ ràng. Một người đàn ông Mexico 39 tuổi được cho là tử vong vì ngừng tim sau khi tình trạng áp xe nhiễm trùng của ông không được xử lý đúng cách.
Ngoài ra báo cáo cũng ghi nhận bảy trường hợp tự tử trong các cơ sở giam giữ của ICE từ tháng 1-2025 đến tháng 1-2026, tăng mạnh so với chỉ một trường hợp trong cả năm 2024.
ICE từ lâu đã vấp phải nhiều chỉ trích vì các biện pháp cưỡng chế cứng rắn. Năm 2026, cơ quan này phải tiến hành thay đổi lãnh đạo sau vụ các đặc vụ ở Minneapolis bắn chết hai công dân Mỹ.
Phản hồi thông tin trên, Bộ An ninh nội địa Mỹ (DHS) - cơ quan quản lý ICE - bác bỏ kết luận của báo cáo.
Người phát ngôn bộ này khẳng định tỉ lệ tử vong dưới thời chính quyền Trump chỉ chiếm 0,009% tổng số người bị giam giữ, đồng thời cho rằng ICE vẫn duy trì tiêu chuẩn chăm sóc y tế cao hơn phần lớn các nhà tù giam giữ công dân Mỹ.
Tuy nhiên cả hai tổ chức cho biết việc mở rộng quá nhanh hệ thống giam giữ đã khiến chất lượng chăm sóc y tế suy giảm, do tình trạng quá tải và thời gian giam giữ kéo dài. HRW và PHR cho rằng nhiều trường hợp tử vong cho thấy cơ quan chức năng đã không thực hiện đầy đủ trách nhiệm bảo vệ sức khỏe và tính mạng của những người bị ICE giam giữ.
Các đợt nắng nóng khắc nghiệt đang xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn ở châu Âu, khiến hàng triệu người phải chật vật thích nghi với mức nhiệt độ cao chưa từng có.
Pháp và nhiều nước Tây Âu những ngày qua ghi nhận mức nhiệt cao kỷ lục ngay từ đầu hè, với một số khu vực nhiệt độ vượt quá 40 độ C, khiến cuộc sống của người dân bị đảo lộn.
Dù vậy, máy điều hòa không khí lại vô cùng hiếm hoi trong các ngôi nhà ở châu Âu, khiến nhiều người chỉ có thể chống chọi với cái nóng hầm hập bằng quạt điện, túi chườm đá và tắm nước lạnh.
Theo thống kê của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), trong khi gần 90% hộ gia đình ở Mỹ lắp điều hòa, tỷ lệ này ở châu Âu chỉ khoảng 20%. Khi biến đổi khí hậu khiến các đợt nắng nóng xảy ra thường xuyên hơn, dữ dội hơn và kéo dài hơn, nhiều người tự hỏi tại sao các quốc gia châu Âu lại ít sử dụng điều hòa như vậy.
Laura Paddison, bình luận viên của CNN, cho rằng một phần lớn nguyên nhân là do vấn đề lịch sử, bởi châu Âu chủ yếu nằm ở vùng ôn đới và trong những năm trước hiếm khi xảy ra nắng nóng giống Mỹ. Kết quả là nhiều nước châu Âu ít có nhu cầu làm mát, đặc biệt là ở Bắc Âu. Các đợt nắng nóng thỉnh thoảng xảy ra, nhưng hiếm khi đạt đến mức nhiệt độ cao kéo dài như hiện nay.
"Tại châu Âu, chúng tôi đơn giản là không có truyền thống dùng điều hòa bởi vì cho đến tận gần đây, nó chưa phải là nhu cầu thiết yếu", Brian Motherway, người đứng đầu Văn phòng Hiệu quả Năng lượng và Chuyển dịch Toàn diện tại IEA, cho biết.
Điều này đồng nghĩa với việc điều hòa từ trước đến nay thường được coi là một "xa xỉ phẩm" hơn là nhu cầu thiết yếu, đặc biệt là khi chi phí lắp đặt và vận hành có thể rất tốn kém.
Chi phí năng lượng ở nhiều nước châu Âu cao hơn ở Mỹ, trong khi thu nhập lại có xu hướng thấp hơn. Tiền điện để chạy một chiếc điều hòa vẫn có thể vượt quá khả năng chi trả của nhiều người dân châu Âu.
Ngoài ra, việc các công trình ở châu Âu ít lắp điều hòa còn liên quan vấn đề kiến trúc. Một số tòa nhà ở các quốc gia Nam Âu, khu vực ấm áp hơn, được xây dựng để đối phó với cái nóng với tường dày, cửa sổ nhỏ để ngăn ánh nắng chiếu trực tiếp vào bên trong và được thiết kế để tối đa hóa luồng không khí lưu thông. Điều này giúp giữ cho nhà mát mẻ hơn và làm giảm bớt nhu cầu sử dụng hệ thống làm mát nhân tạo.
Tuy nhiên, ở những khu vực khác của châu Âu, nhà cửa lại không được thiết kế để đối phó với cái nóng. "Chúng tôi chưa từng có thói quen nghĩ về việc làm thế nào để giữ mát vào mùa hè. Đây thực sự là một hiện tượng tương đối mới", Motherway nói.
Nhiều tòa nhà trên khắp châu Âu được xây dựng trước khi công nghệ điều hòa trở nên phổ biến. Tại Anh, nơi đang trải qua tháng 6 nóng nhất trong lịch sử, cứ 6 ngôi nhà thì có một căn được xây dựng từ trước năm 1900.
Motherway cho biết việc lắp đặt hệ thống làm mát trung tâm cho những ngôi nhà cũ có thể khó khăn hơn dù không phải là không thể.
Đôi khi, rào cản lớn hơn lại là thủ tục hành chính, theo Richard Salmon, giám đốc công ty Air Conditioning Company có trụ sở tại Anh.
Các cơ quan quản lý tại Anh thường sẽ bác bỏ các đơn xin lắp đặt điều hòa "với lý do ảnh hưởng đến mỹ quan của cục nóng bên ngoài, đặc biệt là trong các khu vực bảo tồn hoặc trên các tòa nhà được xếp hạng di sản", ông nói.
Ngoài ra còn có góc độ chính sách. Châu Âu đã cam kết trở thành lục địa "trung hòa khí hậu" vào năm 2050 và sự gia tăng đột biến của máy điều hòa sẽ khiến các cam kết về khí hậu càng khó đạt được hơn.
Máy điều hòa không chỉ là những "cỗ máy ngốn điện" mà chúng còn đẩy hơi nóng ra môi trường bên ngoài. Một nghiên cứu về việc sử dụng điều hòa ở Paris cho thấy chúng có thể làm tăng nhiệt độ bên ngoài từ khoảng 2 đến 4 độ C. Tác động này đặc biệt nghiêm trọng tại các thành phố có mật độ dân cư đông đúc của châu Âu.
Một số quốc gia đã áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế điều hòa không khí. Năm 2022, Tây Ban Nha ban hành quy định điều hòa ở nơi công cộng không được đặt dưới 27 độ C để tiết kiệm năng lượng.
Tuy nhiên, thái độ và mối lo ngại xung quanh điều hòa ở châu Âu đang thay đổi khi lục địa này trở thành một "điểm nóng" về khí hậu, với tốc độ nóng lên nhanh gấp đôi so với phần còn lại của thế giới.
Lục địa này đang đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan là chấp nhận sử dụng điều hòa không khí tiêu tốn nhiều năng lượng cùng với những tác động tiêu cực đến khí hậu mà nó mang lại, hoặc tìm những cách khác để thích nghi với một tương lai ngày càng nóng bức hơn.
"Nhà cửa của chúng ta cần phải có khả năng chống chịu không chỉ với cái lạnh, mà còn với cái nóng ngày càng tàn khốc", Yetunde Abdul, giám đốc tại Hội đồng Công trình Xanh Vương quốc Anh, phát biểu.
Đã có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy tỷ lệ sử dụng điều hòa đang gia tăng ở châu Âu, giống như ở nhiều nơi trên thế giới. Một báo cáo của IEA dự báo số lượng máy điều hòa ở EU có thể sẽ tăng lên 275 triệu chiếc vào năm 2050, cao hơn gấp đôi so với con số năm 2019.
Salmon cho hay ông đã chứng kiến nhu cầu điều hòa tăng vọt trong các hộ gia đình.
"Trong 5 năm qua, số lượng yêu cầu lắp đặt cho hộ gia đình đã tăng hơn gấp ba lần. Đặc biệt, đợt nắng nóng lần này đã đẩy mọi thứ lên đến đỉnh điểm. Mọi người đơn giản là không thể ngủ nổi khi họ bị 'luộc chín' vào lúc 3h sáng", ông nói.
Các chuyên gia cảnh báo rằng điều hòa có thể là giải pháp thoát khỏi nhiệt độ thiêu đốt một cách nhanh chóng, nhưng nó lại ngốn rất nhiều năng lượng, chủ yếu từ các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch vốn đang làm nóng hành tinh.
Tình trạng này lại làm tăng nhiệt độ, "đổ thêm dầu vào lửa", khiến vòng luẩn quẩn của biến đổi khí hậu ngày càng tồi tệ hơn, Radhika Khosla, phó giáo sư tại Trường Doanh nghiệp và Môi trường Smith thuộc Đại học Oxford, cho biết.
Motherway, đại diện của IEA, nhận định tư duy về điều hòa ở châu Âu chắc chắn sẽ thay đổi khi hiện tượng nắng nóng cực đoan ngày càng gia tăng.
Thách thức hiện nay là đảm bảo mọi quốc gia có quy định nghiêm ngặt về hiệu suất của các hệ thống làm mát để giảm thiểu tác động tiềm tàng của chúng đối với khí hậu.
"Bởi vì mỗi chiếc điều hòa được bán ra ngày hôm nay sẽ 'khóa chặt' lượng năng lượng tiêu thụ và lượng khí thải trong một hoặc hai thập kỷ tới. Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta phải làm đúng ngay từ đầu", ông nói.