Chồng chị, 38 tuổi, bị thương nặng sau tai nạn giao thông, cấp cứu ở Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh. Hội đồng chuyên môn ba lần chẩn đoán chết não. Anh là trụ cột chính trong gia đình, nuôi ba con nhỏ, công việc chính là đi giao hàng, gặp tai nạn trong một chuyến giao hàng.
Bố của anh cũng đang điều trị tại Đơn vị Thận lọc máu của bệnh viện này. Gia đình quyết định hiến tặng các mô, tạng của anh để ghép cứu sống nhiều bệnh nhân khác.
Trước khi rút ống thở, người vợ lặng lẽ vào phòng để nói lời vĩnh biệt. Bàn tay chị run rẩy khẽ chạm vào mặt chồng lần cuối cùng. Sau đó, kíp bác sĩ rút ống thở, đứng cúi đầu một phút mặc niệm.
“Cả cuộc đời con tôi làm nhiều việc thiện, đến lúc mất vẫn có thể cứu được nhiều người”, mẹ của người hiến tạng, nói.
Ngày 11/5, đại diện Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh cho biết đã kích hoạt quy trình lấy – ghép tạng với sự tham gia của khoảng 100 y bác sĩ, kỹ thuật viên và nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Đại học Y dược TP HCM.
Các tạng được hiến gồm một trái tim, hai thận, hai lá gan và hai giác mạc. Trong đó, tim và một phần tạng được vận chuyển đến Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức để ghép, số tạng còn lại chuyển vào Bệnh viện Đại học Y Dược TP HCM. Hai quả thận được ghép ngay tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh.
Đây là trường hợp hiến tạng thứ 4 tại Quảng Ninh và là lần thứ hai lấy ghép tạng tại bệnh viện đa khoa tỉnh.
Ghép tạng là một trong những thành tựu quan trọng nhất của y học nhân loại từ thế kỷ 20. Đây là phương pháp cuối cùng trong điều trị bệnh nhân mắc bệnh mạn tính, hiểm nghèo do các mô, tạng bị suy giảm chức năng và không hồi phục như suy thận mạn, gan, tim, tủy, hỏng giác mạc…
Ca ghép tạng từ người cho chết não đầu tiên tại Việt Nam thực hiện hồi tháng 5/2010. Đến nay, hơn 9.500 ca ghép tạng thành công, trong đó nhiều nhất là ghép thận, gan…
Một video lan truyền trên mạng xã hội tại Indonesia đang gây chú ý khi cho rằng thế giới xuất hiện dịch bệnh hoặc đại dịch do vi rút theo chu kỳ 6 năm/lần, thậm chí ám chỉ các đợt bùng phát đã được "dàn dựng có chủ đích". Tuy nhiên, các chuyên gia dịch tễ học khẳng định không có bằng chứng khoa học nào cho giả thuyết này.
Theo đó, video đăng trên Instagram đã liệt kê hàng loạt dịch bệnh lớn như SARS năm 2002, cúm H1N1 năm 2009, Ebola, COVID-19 và vi rút Hanta để tạo cảm giác tồn tại một "chu kỳ đại dịch" cố định.
Tuy nhiên, nhà dịch tễ học Dicky Budiman thuộc Đại học Griffith cho biết lịch sử các đợt bùng phát dịch cho thấy khoảng cách xuất hiện giữa các dịch bệnh rất khác nhau và không hề tuân theo quy luật 6 năm.
Ông dẫn chứng SARS xuất hiện năm 2002, cúm H1N1 năm 2009, Hội chứng hô hấp vùng Trung Đông (MERS) năm 2012 và COVID-19 năm 2019. Ngoài ra, Ebola, Zika, cúm gia cầm hay vi rút Hanta cũng xuất hiện ở nhiều thời điểm khác nhau.
Theo ông Budiman, việc lựa chọn có chủ đích một số mốc thời gian rồi bỏ qua nhiều đợt dịch khác đã tạo ra cảm giác như tồn tại một "mô hình bí mật".
Ông nhấn mạnh rằng Ebola thực tế đã được phát hiện từ những năm 1970, còn vi rút Hanta đã được biết đến từ giai đoạn 1950 - 1970 chứ không phải mới xuất hiện gần đây.
Chuyên gia này cho biết giới khoa học hiện ước tính có khoảng 1,6 triệu loại vi rút tồn tại trong tự nhiên và khoảng 800.000 loại có khả năng gây bệnh cho con người. Tuy vậy, nhân loại mới chỉ nghiên cứu kỹ một phần rất nhỏ trong số đó.
Các chuyên gia cũng cảnh báo con người thường có xu hướng tìm kiếm quy luật trong các sự kiện ngẫu nhiên - hiện tượng được gọi là apophenia, tức nhìn thấy mối liên hệ dù không tồn tại quan hệ nhân quả rõ ràng.
Giới khoa học đồng thời khuyến cáo công chúng cần thận trọng với các thông tin về dịch bệnh lan truyền trên mạng xã hội, bởi các thuyết âm mưu liên quan đến đại dịch dễ gây hoang mang và làm sai lệch hiểu biết khoa học.
Cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á TP.HCM, cho biết khi trời nắng nóng việc uống nước lạnh sẽ mang lại một số tác dụng như làm mát cơ thể nhanh, tăng cảm giác kích thích uống nước vì nước mát lạnh dễ uống. Tuy nhiên việc uống nước lạnh sẽ gây ra nhiều tác hại như sau:
Tiêu hóa chậm, đầy hơi, chuột rút. Uống nước ở nhiệt độ 2 - 4°C trong hoặc ngay sau bữa ăn có thể tạm thời làm gián đoạn quá trình tiêu hóa. Nhiệt độ lạnh làm chậm quá trình co bóp dạ dày và làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày (sự di chuyển của thức ăn vào ruột). Những tác động này không phải lúc nào cũng xảy ra, nhưng chúng giải thích tại sao một số người có thể gặp các vấn đề về đường ruột (đau bụng, đầy hơi...) sau khi uống đồ uống rất lạnh.
Có thể xảy ra sốc nhiệt. Uống đồ quá lạnh và quá nhanh sẽ gây ra sự giảm nhiệt độ đột ngột trong đường tiêu hóa. Nếu bạn có dạ dày nhạy cảm, cú sốc nhiệt này có thể gây ra chuột rút và khó chịu.
Đau họng. Uống nước lạnh, đặc biệt là sau bữa ăn, dẫn đến hình thành các chất nhầy dư thừa (niêm mạc đường hô hấp), tạo thành lớp bảo vệ của đường hô hấp. Tuy nhiên, nó sẽ gây ra hiện tượng bỏng lạnh, khiến cổ họng bị đau rát và tổn thương.
Giảm nhịp tim. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nước lạnh có thể làm giảm nhịp tim của bạn. Uống nước đá được cho là kích thích dây thần kinh sọ thứ 10 - dây thần kinh phế vị.
Xoang và nhức đầu. Uống quá nhiều đồ lạnh cũng có thể gây ra vấn đề "đóng băng não", đặc biệt khi bạn uống quá nhiều nước đá hoặc ăn kem. Khi đó, nước lạnh làm mát các dây thần kinh nhạy cảm của cột sống, do đó nó ảnh hưởng đến não. Vì lý do này, nhức đầu và các vấn đề về xoang cũng có thể xảy ra
Đau răng và ê buốt men răng. Thường xuyên uống đồ uống rất lạnh làm tăng độ nhạy cảm của răng, đặc biệt nếu men răng bị mòn hoặc nướu bị tụt. Cần lưu ý rằng sự thay đổi nhiệt độ (lạnh - nóng) cũng tạo ra sức căng trong mô răng. Về lâu dài, điều này có thể thúc đẩy sự xuất hiện của các vết nứt nhỏ và làm tăng độ nhạy cảm với lạnh.
Để duy trì sự hydrat hóa và tiêu hóa hằng ngày, nước ở nhiệt độ phòng (20 - 22°C) thường được khuyến nghị. Trong khi tập thể dục hoặc ở những vùng khí hậu nắng nóng, các nghiên cứu cho thấy nước mát ở nhiệt độ 10 - 16°C giúp tối ưu hóa quá trình hydrat hóa và điều hòa thân nhiệt.
Theo cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, nếu bạn thích uống đồ uống lạnh, sau đây là một số lời khuyên:
Tránh uống trong bữa ăn. Hãy đợi ít nhất 30 phút sau ăn.
Uống từ từ, từng ngụm nhỏ: Thay vì uống vội một cốc lớn, điều này sẽ giúp cơ thể dần thích nghi với sự thay đổi nhiệt độ hơn.
Bảo vệ răng: Dùng ống hút, giúp hạn chế sự tiếp xúc trực tiếp nước lạnh với men răng.
Theo dõi tín hiệu cơ thể: Đau bụng dữ dội, đầy hơi hoặc đau răng tái phát sau khi uống đồ uống lạnh cho thấy bạn cần điều chỉnh nhiệt độ đồ uống của mình.
Không cần bữa sáng cầu kỳ, một ly sữa đậu nành cũng có thể giúp cơ thể khởi động nhẹ nhàng sau một đêm dài. Nhờ giàu protein thực vật và các hợp chất sinh học có lợi, sữa đậu nành được xem là lựa chọn phù hợp cho nhiều đối tượng.
Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ, protein từ đậu nành và các thực phẩm nguồn gốc thực vật có thể giúp cải thiện cholesterol và hỗ trợ sức khỏe tim mạch khi được sử dụng hợp lý.
Sữa đậu nành cung cấp protein giúp cơ thể duy trì năng lượng và hỗ trợ hoạt động của cơ bắp. Đặc biệt, loại protein này không chứa cholesterol và ít chất béo bão hòa.
Bà Penny Kris-Etherton, chuyên gia dinh dưỡng tim mạch tại Đại học Penn State (Mỹ), cho biết việc thay thế một phần protein động vật bằng protein thực vật có thể giúp giảm nguy cơ bệnh tim và cải thiện huyết áp.
Đậu nành chứa isoflavone - hợp chất có khả năng giúp giãn mạch và cải thiện chức năng nội mạc mạch máu. Nhờ đó, huyết áp có thể được kiểm soát tốt hơn khi duy trì thói quen sử dụng đều đặn.
Sữa đậu nành cung cấp năng lượng vừa phải, giúp tạo cảm giác no mà không gây nặng bụng. Đây là lựa chọn phù hợp cho người muốn kiểm soát cân nặng.
Bà Roxana Ehsani, chuyên gia dinh dưỡng lâm sàng tại Nevada (Mỹ), cho biết bữa sáng giàu protein giúp giảm cảm giác đói và hạn chế ăn quá nhiều vào các bữa sau.
Sữa đậu nành nên được uống vào buổi sáng, khi cơ thể bắt đầu lại quá trình chuyển hóa sau một đêm dài. Thời điểm này giúp hấp thu protein và vi chất hiệu quả hơn, đồng thời cung cấp năng lượng nhẹ mà không gây nặng bụng.
Ngoài ra, nên kết hợp protein thực vật với chất béo lành mạnh và chất xơ có thể giúp cải thiện chuyển hóa và kéo dài cảm giác no. Vì vậy, sữa đậu nành nên dùng cùng một ít hạt (hạnh nhân, óc chó) hoặc trái cây tươi để cân bằng dinh dưỡng.
Bác sĩ JoAnn Manson, chuyên gia nội tiết tại Bệnh viện Brigham and Women’s, Trường Y Harvard (Mỹ), khuyến nghị nên dùng sữa đậu nành với lượng vừa phải, khoảng 200 - 250 ml mỗi lần, tránh uống quá nhiều vì có thể gây đầy bụng hoặc dư năng lượng.
Người có vấn đề về tuyến giáp hoặc dị ứng đậu nành nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng thường xuyên.