Không ít chủ nhà trọ “choáng” khi bước vào phòng của người thuê trẻ tuổi.
Gần 20 năm cho thuê phòng trọ tại TP.HCM, bà Nguyễn Thị Loan, chủ một dãy trọ gần khu vực có nhiều văn phòng và trường đại học, nói rằng điều khiến bà bất ngờ là sự đối lập giữa vẻ ngoài và cách sống của không ít người trẻ.
Bà kể, có những bạn trẻ sáng nào cũng ăn mặc rất đẹp, quần áo được ủi phẳng phiu, tóc tai gọn gàng, giày dép sạch sẽ, nhìn rất văn minh và hiện đại. Thế nhưng đến kỳ kiểm tra phòng định kỳ, mở cửa bước vào, cảnh tượng bên trong lại khiến bà không khỏi lắc đầu.
“Có phòng mở cửa ra là mùi đồ ăn cũ bốc lên. Quần áo sạch, quần áo bẩn để lẫn lộn, ly trà sữa uống xong để cả tuần chưa bỏ, rác chất đầy một góc.
Có bạn nữ nhìn bên ngoài rất sáng sủa, thơm tho, trang điểm kỹ, nhưng trong phòng mỹ phẩm để lẫn với đồ ăn, khăn ướt, giấy gói… ngổn ngang”, bà chia sẻ.
Không riêng bà Loan, nhiều chủ nhà trọ cũng thừa nhận tình trạng này đang xuất hiện ngày càng nhiều ở nhóm người thuê trẻ tuổi.
Trong đời sống hiện đại, đặc biệt ở thế hệ trẻ, ngoại hình đang trở thành một phần quan trọng trong giao tiếp xã hội. Một bộ đồ đẹp, một mùi nước hoa dễ chịu, một kiểu tóc gọn gàng hay một hình ảnh chỉn chu trên mạng xã hội đều có thể tạo ấn tượng tốt trong công việc, tình cảm và các mối quan hệ.
Nhiều bạn trẻ sẵn sàng dành từ ba mươi phút đến một tiếng mỗi sáng, thậm chí nhiều hơn để chọn quần áo, trang điểm, làm tóc trước khi ra khỏi nhà.
Ngọc Trâm, 24 tuổi, làm trong lĩnh vực truyền thông tại TP.HCM, thừa nhận bản thân rất kỹ chuyện ăn mặc khi ra ngoài. Thế nhưng không phải lúc nào cô cũng giữ được sự gọn gàng cho căn phòng trọ.
“Có hôm đi làm về mệt quá, thay đồ xong tôi quăng tạm lên ghế, hộp cơm ăn tối để đó nghĩ bụng lát dọn, nhưng rồi nằm xuống là ngủ luôn. Cứ thế vài ngày là phòng bắt đầu bừa bộn”, cô nói.
Nếu chỉ nhìn hiện tượng này bằng góc độ “lười” hay “ở bẩn”, có lẽ vẫn còn chưa đủ.
Phần lớn người trẻ sống xa nhà hiện nay đang đối mặt với rất nhiều áp lực: học tập, công việc, tiền thuê nhà, chi phí sinh hoạt, các mối quan hệ cá nhân, áp lực thành công, áp lực phải luôn hoàn hảo trong mắt người khác.
Sau một ngày dài trở về phòng trọ, nhiều người chỉ muốn tắm, nằm xuống và ngủ, không còn năng lượng để dọn dẹp, sắp xếp hay chăm chút không gian sống.
Minh Tuấn, 27 tuổi, nhân viên công nghệ, chia sẻ rằng có những tuần anh về phòng sau 10h tối. “Có lúc nhìn phòng rất bừa bộn, bản thân cũng khó chịu, nhưng thực sự đầu óc quá mệt. Tôi nghĩ mai dọn, rồi mai lại tiếp tục tăng ca”, Tuấn chia sẻ.
Một căn phòng bừa bộn đôi khi không chỉ phản ánh thói quen sống thiếu ngăn nắp, mà còn có thể là biểu hiện của sự kiệt sức, mất cân bằng hoặc thiếu thời gian chăm sóc bản thân.
Sống chung với rác không chỉ ảnh hưởng thẩm mỹ, mà còn ảnh hưởng sức khỏe.
Nhiều chủ nhà trọ cho biết điều họ lo không chỉ là mỹ quan, mà là những nguy cơ lâu dài về sức khỏe. Đồ ăn thừa để nhiều ngày, rác sinh hoạt không được xử lý đúng lúc, quần áo ẩm chất đống, nhà vệ sinh ít được dọn… có thể trở thành môi trường cho vi khuẩn, nấm mốc, côn trùng phát triển.
Một số trường hợp, hàng xóm đã phản ánh vì mùi từ phòng bên cạnh hoặc sự xuất hiện của gián, kiến, ruồi. Chị Phạm Thu Hà, quản lý một khu trọ tại TP.HCM, cho biết có lần chị phải trực tiếp nhắc nhở một nhóm sinh viên vì để rác trong phòng hơn một tháng.
Giữa nhịp sống đô thị vội vã, không ai có thể giữ mọi thứ hoàn hảo mỗi ngày. Nhưng thực tế cho thấy việc một người chăm sóc không gian sống riêng đôi khi sẽ phản ánh cách họ đối xử với chính bản thân, đồng thời cũng phản ánh cách giáo dục của gia đình về những kỹ năng sinh hoạt thường ngày.
Với kinh nghiệm của một huấn luyện viên yoga, Thanh Huyền đã mở lớp yoga trực tuyến miễn phí dành cho bệnh nhân đang điều trị ung thư. Chị gọi ấy là lớp học của những "chiến binh K".
Chừng 5 năm trước trong một lần khám sức khỏe định kỳ, Huyền bất ngờ nhận chẩn đoán có khối u ác tính tuyến giáp. Đó là cú sốc không dễ chấp nhận với một huấn luyện viên yoga như chị. Cuộc sống như đảo lộn khi cô gái trẻ buộc phải gác lại công việc, bắt đầu hành trình điều trị mà Huyền nhớ rằng mọi thứ như suy sụp vì không biết phải làm gì tiếp theo.
Những ngày đầu trong bệnh viện là chuỗi ngày hụt hẫng và hoang mang. Song khi thấy nhiều bệnh nhân khác cũng đang chiến đấu với bệnh tật, Huyền dần ổn định tâm lý hơn và bắt đầu thay đổi suy nghĩ. Cô duy trì thói quen tập yoga để cải thiện thể chất, giữ tinh thần lạc quan.
Hình ảnh cô gái trẻ đều đặn trải thảm tập yoga mỗi ngày nhanh chóng thu hút sự chú ý tại bệnh viện. Có người tò mò hỏi thăm, người xin tập cùng. Những buổi tập nhỏ dần hình thành ngay tại phòng bệnh.
Thanh Huyền nhận ra nhiều bệnh nhân khi xuất viện vẫn cần môi trường vận động nhưng không phải ai cũng có điều kiện đến các trung tâm thể thao, nhất là người ở xa hay sức khỏe yếu.
"Tôi nghĩ mình có thể mở lớp yoga miễn phí chừng ba tháng cũng đủ để mọi người nắm kiến thức và kỹ thuật cơ bản. Còn sau đó họ có thể tự tập tại nhà hoặc chọn khóa học phù hợp với lịch trình cá nhân", Huyền bộc bạch.
Thêm bạn bè động viên, Huyền chia sẻ thông tin lớp học trên các hội nhóm hỗ trợ bệnh nhân ung thư rồi nhờ bác sĩ giới thiệu thêm. Nhưng chính việc miễn phí lại khiến không ít người e dè, thậm chí còn bị nghi lừa đảo và nhắn hỏi thẳng: "Có thật là miễn phí không?". Nhiều người nhắn tin hỏi nhưng khi Huyền gửi link lớp học lại không tham gia.
Nhưng cũng còn nhiều bệnh nhân tin và tham gia tập luyện mà khóa đầu tiên hoàn thành với nhu cầu của người bệnh đông hơn Huyền dự tính. Từ lớp ban đầu chỉ dành cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp, dự án dần mở rộng cho bệnh nhân đang điều trị nhiều căn bệnh khác miễn họ có nhu cầu muốn tập yoga.
Việc mở rộng người học đi kèm áp lực chuyên môn, không thể chỉ một giáo án cố định mà mỗi buổi tập đều phải nghiên cứu kỹ bởi tùy giai đoạn điều trị khác nhau cần giáo án linh hoạt cho người tham gia. Huyền quan sát màn hình từng buổi học trực tuyến, chỉ cần thấy học viên có dấu hiệu mệt mỏi hay đau đớn sẽ điều chỉnh bài tập hoặc dừng lại ngay.
Làm sao mọi người thấy vui khỏe chứ không phải cố tập hết sức là điều Huyền tâm niệm. Huyền nói nhiều cô chú chỉ cần duy trì 15 phút vận động mỗi ngày đã là nỗ lực rất lớn. Thoáng cái mà lớp yoga của Huyền đã qua ba năm, trở thành điểm hẹn quen thuộc của nhiều bệnh nhân ung thư nhiều tỉnh thành cả nước.
Mỗi khóa học chừng 15-20 học viên. Niềm vui là dự án dần lan tỏa, thu hút thêm một vài huấn luyện viên yoga khác tình nguyện tham gia, tiếp thêm nguồn lực để duy trì lớp học lâu dài. Bà Hồ Thị Vân Anh bị ung thư vú kể biết đến dự án trong thời gian truyền hóa chất.
"Tình cờ thấy thông tin lớp yoga của cô Huyền trên Facebook, tôi quyết định tham gia và theo lớp hơn nửa năm nay. Nhờ vậy giúp tôi ăn ngon miệng hơn, tinh thần cũng trở nên thoải mái", bà Anh bày tỏ.
Một bệnh nhân ung thư khác, bà Vũ Thị Thu nói tham gia vì học trực tuyến khá tiện lợi, có thể chủ động sắp xếp thời gian mà không phải di chuyển.
"Thời gian đầu có hơi quá sức nhưng nhờ sự hướng dẫn tận tình của các huấn luyện viên nên tôi dần theo kịp. Không chỉ sức khỏe mà tinh thần của tôi cũng cải thiện đáng kể, giúp tôi có thêm động lực trên hành trình chữa bệnh", bà Thu nói.
Sau bốn tháng con gái đi học mẫu giáo tại Brussels (Bỉ), chị Kim Ngọc, 33 tuổi, quê Hà Nội bất ngờ nhận được thư mời họp từ hiệu trưởng. Lý do là con gái 18 tháng tuổi thường xuyên đi vệ sinh ra quần và người bố hiếm khi xuất hiện tại trường.
Bước vào phòng họp, thay vì những lời phàn nàn về thành tích hay kỷ luật, những câu hỏi của nhà trường khiến người mẹ Việt bất ngờ. "Gần đây bố mẹ có lớn tiếng trước mặt con không?", "Nhà có sự xáo trộn nào về chỗ ở hay người thân chuyển đến không?". Giáo viên giải thích, việc một đứa trẻ đã biết tự chủ bỗng nhiên đi vệ sinh không đúng chỗ thường là cảnh báo về sự bất ổn tâm lý.
Không khí cuộc họp chùng xuống khi giáo viên chất vấn sự vắng mặt của người bố. Chị Ngọc phân trần bản thân là nội trợ toàn thời gian, muốn quán xuyến mọi việc để chồng tập trung phát triển sự nghiệp. Tuy nhiên, lý do này bị nhà trường bác bỏ.
Trong triết lý giáo dục mầm non tại Bỉ, sự hiện diện của người cha là mắt xích không thể thay thế đối với quá trình định hình nhân cách trẻ. Người cha không được phép lấy lý do kinh tế để vắng mặt trong chuỗi ngày khôn lớn của con. Ngay sau buổi họp, chồng chị Ngọc buộc phải sắp xếp lại công việc để tham gia đón con và góp mặt trong các buổi biểu diễn văn nghệ tại trường.
"Tôi thực sự sốc. Tư duy giáo dục của họ quá khác biệt so với thói quen bao bọc và phân công vai trò trong gia đình tại Việt Nam", chị Ngọc nói.
Cuộc va chạm giữa hai hệ giá trị
Trải nghiệm của chị Ngọc chỉ là một trong số vô vàn "cú sốc" mà phụ huynh Việt gặp phải khi đưa con hòa nhập vào nền giáo dục phương Tây. Trên các diễn đàn cộng đồng người Việt tại Bỉ, chủ đề rèn tính tự lập trong bữa ăn luôn nhận được nhiều sự đồng cảm.
Một bà mẹ có con hai tuổi kể lại cảm giác xót xa trong những ngày đầu con đi học. Tại trường, trẻ phải tự xúc ăn thay vì được giáo viên dỗ dành. Nếu đứa trẻ từ chối bữa trưa, giáo viên chỉ nhẹ nhàng hỏi lại một hai lần. Sau 30 phút, khay thức ăn sẽ được dọn đi, bất chấp việc đứa trẻ có thể phải chịu đói đến bữa phụ.
Nhiều phụ huynh Việt ban đầu tỏ ra bức xúc, cho rằng giáo viên thiếu trách nhiệm. Nhưng phía nhà trường lý giải, đây là phương pháp khoa học để trẻ học cách lắng nghe nhu cầu của cơ thể. Trẻ được quyền tự quyết định khẩu phần của mình, và quan trọng nhất, chúng học được bài học về hệ quả: Nếu từ chối đồ ăn, cơ thể sẽ phải nếm trải cơn đói.
Sự khác biệt không chỉ dừng ở bữa ăn. Khi con gái bước sang tuổi lên hai, chị Ngọc tiếp tục nhận thông báo về lớp học bơi. Vốn bé có thể trạng hay ốm vặt, việc để con lặn ngụp dưới nước vào mùa lạnh là điều chị Ngọc chưa từng nghĩ tới. Trái ngược với sự lo lắng của vợ, chồng chị lại tỏ ra bình thản. Ở phương Tây, việc rèn luyện thể chất và khả năng sinh tồn được đặt ngang hàng, thậm chí cao hơn việc học chữ. Những hoạt động ngoại khóa ngoài trời, bất chấp thời tiết, là bắt buộc tại nhiều hệ thống trường học nhằm tôi luyện sự dẻo dai.
Những trải nghiệm như của chị Ngọc không hề mới. Trong một nghiên cứu về "Nghịch âm văn hóa" đối với các gia đình gốc Á định cư tại phương Tây, Giáo sư Désirée Baolian Qin từ Đại học Bang Michigan (Mỹ) đã chỉ ra 60%-70% người nhập cư thừa nhận rơi vào áp lực thích nghi văn hóa (acculturative stress) trong hai năm đầu. Cảm giác lo âu này phần lớn xuất phát từ sự sai lệch giữa kỳ vọng của gia đình và thực tế vận hành của hệ thống giáo dục bản địa.
Thay vì phòng thủ, hãy chủ động thích nghi
Bà Joke Otter van Zuijlen, Hiệu trưởng một trường mầm non quốc tế tại phường An Khánh, Hồ Chí Minh, người có 30 năm kinh nghiệm trong ngành giáo dục châu Âu, cho rằng căn nguyên của sự ngột ngạt này đến từ triết lý văn hóa cốt lõi.
Văn hóa Á Đông coi gia đình là trung tâm vũ trụ, đề cao sự gắn kết đa thế hệ. Một đứa trẻ lớn lên thường nhận được sự chăm bẵm tỉ mỉ từ ông bà, cha mẹ. Thói quen đút cháo, bế ẵm tận cửa lớp hay xót xa khi thấy con đi chân trần trên đất là biểu hiện của tình yêu thương mang tính bảo bọc. Ngược lại, phương Tây tôn thờ chủ nghĩa cá nhân. Trẻ em từ 18 tháng tuổi đã được rèn thói quen tự chủ sinh hoạt: Tự đi giày, tự đeo balo, tự xử lý thức ăn thô.
Ngoài ra, bối cảnh kinh tế cũng là yếu tố chi phối. Ở Việt Nam, các gia đình trung lưu dễ dàng tìm kiếm sự hỗ trợ từ bảo mẫu. Trong khi đó, tại các quốc gia như Hà Lan hay Bỉ, chi phí dịch vụ chăm sóc tại nhà vô cùng đắt đỏ. Hoàn cảnh buộc những đứa trẻ phải tự lập để thích nghi với nhịp sống bận rộn của cha mẹ.
Dẫu vậy, bà Joke Otter van Zuijlen cho rằng không có phương pháp nào ưu việt tuyệt đối. Nhận thức được sự khác biệt tất yếu này, nhiều phụ huynh Việt chọn cách chủ động chuẩn bị hành trang thay vì để con chịu cú sốc khi chuyển môi trường.
Chị Ngô Thị Bắc (40 tuổi, sống tại Melbourne, Australia) là một ví dụ. Nhiều lần chứng kiến những đứa trẻ hàng xóm vô tư chạy nhảy lấm lem bùn đất, vục tay vào vũng nước lạnh buốt trong khi con mình được bọc kín bằng nhiều lớp áo len, chị Bắc nhận ra mình cần thay đổi.
Để chuẩn bị cho con gái ba tuổi bước vào mẫu giáo bản địa, vợ chồng chị bắt đầu thả lỏng sự kiểm soát. Từ 11 tháng tuổi, bé được tự cầm thìa xúc ăn dù thức ăn vương vãi khắp sàn. Cuối tuần, thay vì giữ con trong nhà, chị đưa con ra các khu vui chơi công cộng.
"Tôi để con tập quen với đất cát, thời tiết và những va vấp nhỏ. Việc học qua trải nghiệm thực tế giúp con xây dựng sức đề kháng và sự tự tin, nhờ đó những ngày đầu đến trường trôi qua nhẹ nhàng hơn rất nhiều", chị Bắc đúc kết.
Lời khuyên từ các chuyên gia giáo dục là phụ huynh cần gạt bỏ tâm lý khép kín. Rào cản lớn nhất không nằm ở ngôn ngữ, mà ở tư duy phòng thủ. Khi giáo viên phương Tây đặt câu hỏi về đời sống gia đình, đó không phải là sự tò mò xoi mói, mà là nghiệp vụ để tìm kiếm mảnh ghép tâm lý của trẻ. Việc thẳng thắn chia sẻ văn hóa gốc sẽ giúp đôi bên tìm được tiếng nói chung.
"Nên để trẻ học cách đối mặt với những bất tiện nhỏ từ sớm, bởi đó chính là nền tảng của khả năng thích ứng linh hoạt trong một thế giới không ngừng biến đổi", bà Joke Otter van Zuijlen nói.
Năm 2025, số ca sinh của Trung Quốc giảm còn 7,92 triệu trẻ, mức thấp nhất lịch sử (kể từ khi được thống kê). Tổng tỷ suất sinh ở mức 1,09, bằng một nửa mức sinh thay thế 2,1, bất chấp chính sách một con đã được bỏ từ năm 2016 và có nhiều chính sách khuyến sinh. Trong bối cảnh đó, cấu trúc gia đình phân hóa thành hai thái cực: kiên quyết không đẻ hoặc sinh nhiều con.
Lu Lu, 36 tuổi, ở Bắc Kinh nhận thấy sự thay đổi này khi con gái vào tiểu học. Trong lớp có 46 học sinh, 33 em đến từ gia đình có hai con, hai gia đình khác chuẩn bị sinh con thứ ba. Việc chỉ có một con khiến Lu Lu trở thành thiểu số trong nhóm phụ huynh.
Dữ liệu chính thức cho thấy tỷ lệ sinh con thứ hai đã tăng từ 45% lên 51% vào năm 2017. Đến năm 2022, tỷ lệ trẻ là con thứ hai trở lên đạt 53,9%, vượt qua số lượng con đầu lòng. Cùng lúc, tỷ lệ hộ gia đình một thế hệ (sống một mình hoặc vợ chồng không con) tăng từ 34% (năm 2010) lên gần 50% (năm 2020).
Tại Thượng Hải, Li Lixia, 33 tuổi, kể cô từng mặc định thế hệ mình sẽ duy trì mô hình gia đình một con. Suy nghĩ này thay đổi khi cô dự một đám cưới hồi tháng 5. Trong 5 cặp vợ chồng là con một sinh sau năm 1995, hai cặp đã có con thứ hai hoặc thứ ba, hai cặp quyết định không có con (DINK). Chỉ một cặp muốn có một con nhưng chưa sinh.
Phần lớn những người kiên định đẻ một con thuộc tầng lớp trung lưu thành thị, ưu tiên "nuôi tốt" thay vì số lượng. "Từ nhỏ tôi đã là duy nhất của bố mẹ. Họ dành điều tốt nhất cho tôi và tôi cũng muốn dành tất cả cho con mình", Li Lixia nói.
Nhóm từ chối sinh con phần lớn là người rời quê lên phố lập nghiệp. Chen Fang, 39 tuổi, làm việc tại một doanh nghiệp nhà nước ở Nam Kinh, cho biết cô từ bỏ ý định sinh con thứ hai do áp lực thời gian. "Sau 35 tuổi, tôi nhận thấy sức lực giảm đi. Đi làm về còn phải kèm con học, tôi sẽ không gánh nổi nếu sinh thêm", cô nói.
Lu Lu cũng kể cô từng nghĩ đến chuyện sinh nhiều con, nhưng chi phí sinh hoạt cao và việc không có ông bà nội ngoại hỗ trợ khiến cô dừng lại ở một con.
Ở thái cực ngược lại, những người vốn là con một nhưng quyết định đẻ nhiều con lại gặp lúng túng. Wang Jianan, 33 tuổi, cho biết cô sinh bé thứ hai với niềm tin tài chính ổn định sẽ giải quyết được mọi việc. Tuy nhiên, do lớn lên không có anh chị em, cô thiếu kinh nghiệm khi phải học cách cân bằng cảm xúc và hóa giải mâu thuẫn giữa hai con.
Tương tự, sau khi có con trai thứ hai, vợ chồng anh Liu Feng kể họ liên tục cãi nhau về việc phân bổ tài chính: nên cho con gái lớn dự trại hè hay ưu tiên mua nhà ở khu có trường học tốt cho con trai nhỏ. "Trước đây có một con, vợ chồng hiếm khi cãi nhau. Giờ số lần tranh cãi nhiều hơn cả 10 năm trước cộng lại", anh nói.
Phó giáo sư Shen Yifei, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Gia đình tại Đại học Phục Đán, cho biết áp lực "nuôi dạy con chuyên sâu" đang vắt kiệt sức lực của các bậc cha mẹ, khiến người trẻ e ngại sinh đẻ. Bà Shen cho biết chính sách khuyến sinh cần các giải pháp thực tế, như giảm chi phí giáo dục mầm non và hỗ trợ đời sống cho nhóm người cao tuổi từ quê lên phố trông cháu, nhằm trực tiếp giảm tải cho người trẻ.