Đó là Bùi Trần Quang Khải (sinh năm 2004, tại TP.HCM), sinh viên ngành công nghệ thông tin chuyên ngành khoa học máy tính Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM).
Hiện đang là sinh viên năm cuối, Khải dự kiến sẽ bảo vệ tốt nghiệp vào tháng 8 tới. Tuy nhiên, tin vui đã đến sớm khi em nhận được thông báo trúng tuyển chương trình tiến sĩ tại 3 trường – ĐH Stony Brook, ĐH Tulane, đặc biệt là ĐH Duke (Mỹ) – nơi mà Khải chọn theo học với chuyên ngành kỹ thuật điện và máy tính.
Điều đáng nói, Khải lựa chọn lộ trình nộp thẳng từ cử nhân, dùng kết quả năm 3 để lên thẳng tiến sĩ mà không cần qua bậc thạc sĩ. Tại Mỹ, hệ thống giáo dục cho phép điều này nếu ứng viên chứng minh được sự trưởng thành vượt bậc trong nghiên cứu và học thuật. Khải nhận được bao gồm học bổng toàn phần và hỗ trợ sinh hoạt phí lên đến 43.775 USD mỗi năm, kéo dài trong suốt 5 năm nghiên cứu (tổng giá trị ước tính hơn 5 tỉ đồng). Khải dự kiến sẽ chính thức nhập học vào đầu tháng 8.
Để có được thành quả này, Khải đã tích lũy hơn một năm kinh nghiệm nghiên cứu cùng nhóm AIMA Research Program. Tại đây, em không chỉ được rèn luyện chuyên môn mà còn xây dựng được mạng lưới kết nối với các giáo sư tại Mỹ. Dưới sự dẫn dắt của đàn anh và gia đình, Khải đã được trang bị nền tảng về tư duy nghiên cứu đến kỹ năng chuẩn bị hồ sơ, phỏng vấn và đối ứng với hội đồng tuyển sinh quốc tế.
Chia sẻ về phương pháp học tập, Khải nhấn mạnh yếu tố đam mê và tinh thần tự tìm tòi. Đặc biệt, trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo (AI) bùng nổ, nam sinh này quan niệm: “Điều quan trọng không chỉ là tiếp cận được nhiều thông tin mà còn phải rèn tư duy logic và giữ được khả năng suy nghĩ độc lập, ‘be original’, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào công cụ”.
Khải cho rằng, người làm nghiên cứu cần biết chuyển hóa kiến thức nền tảng thành cơ sở để ứng dụng và sáng tạo phát triển ý tưởng mới. Đôi khi, ta phải chấp nhận đánh đổi, dành nhiều thời gian để đào sâu một chủ đề cụ thể thay vì cố gắng biết tất cả mọi thứ một cách hời hợt. “Khi làm nghiên cứu khoa học, em nghĩ thay vì chỉ đọc nhiều, mình cần phải bắt tay vào tự thực hiện thực nghiệm các thuật toán trong các bài báo khoa học đã được công bố, nhằm hiểu sâu hơn về phương pháp cốt lõi, từ đó tìm ra được hướng đi mới để sáng tạo phát triển”, sinh viên Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM) chia sẻ.
Bùi Trần Quang Khải vốn là học sinh chuyên hóa tại Trường THPT Nguyễn Hữu Huân (TP.HCM). Những năm tháng THPT, Khải từng đạt huy chương đồng Olympic mở rộng tại TP.HCM ở bộ môn này. Thế nhưng, đại dịch Covid-19 xuất hiện đã trở thành một bước ngoặt lớn làm thay đổi hoàn toàn định hướng nghề nghiệp của chàng trai trẻ.
Trong bối cảnh dịch bệnh, việc tiếp cận các phòng thí nghiệm để thực hành hóa học trở nên vô cùng hạn chế. Khải nhận ra rằng, thay vì chờ đợi, mình cần một công cụ linh hoạt hơn để có thể nghiên cứu và làm việc ngay tại nhà. Với suy nghĩ đó, Khải quyết định chuyển hướng sang ngành khoa học máy tính – nơi chiếc máy tính cá nhân có thể trở thành một “phòng thí nghiệm di động”. Nói thêm về quan điểm chọn ngành, Khải cho rằng: “Em nghĩ chọn ngành sao cho phù hợp với đam mê hứng thú và điều kiện thực tế của bản thân, đặc biệt là về kinh tế và thiết bị để xác định được định hướng nghề nghiệp rõ ràng”.
Với kết quả tốt nghiệp đại học dự kiến loại xuất sắc, Khải cho rằng đó là nhờ luôn duy trì mối quan hệ tốt với bạn bè để cùng trao đổi, phát triển theo nhóm. Khải quan niệm học là không ngại kiên trì tìm hiểu thêm, luyện tập thực hành thêm nhuần nhuyễn các đề tài khác nhau.
Nhìn về tương lai, với mong muốn kết hợp nghiên cứu và ứng dụng thực tế với hy vọng mang lại đột phá công nghệ cho ngành y tế, chàng trai sinh năm 2004 đã vạch sẵn hai hướng đi rõ rệt: nếu tiếp tục con đường học thuật sẽ phấn đấu trở thành giáo sư, nếu bước chân vào thị trường công nghiệp đặt mục tiêu trở thành nhà khoa học nghiên cứu,
Câu chuyện của chàng sinh viên Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM không chỉ là minh chứng cho trí tuệ của người trẻ Việt Nam mà còn là bài học về sự đam mê bền bỉ, khả năng thích nghi và tư duy định hướng rõ ràng phù hợp – những yếu tố cốt lõi để vươn ra biển lớn trong thế giới công nghệ đầy thử thách.
Yêu cầu về trình độ ngoại ngữ của học sinh trường chất lượng cao được đề cập trong quyết định của UBND thành phố, hiệu lực từ ngày 7/5.
Theo đó, ở tiêu chí về kết quả giáo dục và cam kết chất lượng, học sinh THCS phải đạt tối thiểu trình độ ngoại ngữ B1, tương đương bậc 3 theo khung năng lực 6 bậc của Việt Nam. Với hệ THPT, yêu cầu đầu ra là tối thiểu B2 (bậc 4/6). Thành phố cho biết việc này phù hợp với điều kiện của trường và nhu cầu học sinh.
Đây là điểm mới so với quy định cũ có từ năm 2013. Hiện các trường chất lượng cao chủ yếu dạy tiếng Anh.
Hiện, B1, B2 là chuẩn đầu ra ngoại ngữ của nhiều trường đại học. Ví dụ, trường Đại học Thương mại quy định sinh viên chương trình chuẩn, không thuộc các ngành ngôn ngữ, đạt bậc 3/6, còn nhóm theo hệ định hướng chuyên sâu nghề nghiệp quốc tế phải đạt 4/6.
Ở Đại học Kinh tế Quốc dân, chuẩn đầu ra tiếng Anh với sinh viên chương trình chuẩn là 5.5 IELTS, chương trình chất lượng cao là 6.0 IELTS (tương đương B2).
Ngoài tiêu chí về ngoại ngữ, các trường chất lượng cao phải có ít nhất 90% học sinh đạt kết quả khá; có giải học sinh giỏi, nghiên cứu khoa học cấp thành phố trở lên. Các em được tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng, xã hội, định hướng nghề nghiệp. Mức độ hài lòng của cha mẹ học sinh phải đạt tối thiểu 80%, qua khảo sát hàng năm. Tất cả tương đương quy định cũ.
Hà Nội hiện có 23 trường chất lượng cao, trong đó 17 trường công lập. Những trường này gần như tự chủ chi thường xuyên (lương, sửa chữa cơ sở vật chất...), được tuyển trái tuyến, có thể thi tuyển thay vì nhận theo tuyến. Sĩ số lớp đạt chuẩn (35-45 học sinh, tùy bậc học).
Ngoài chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường chất lượng cao có thể dạy thêm các chương trình nâng cao, bổ trợ. Phụ huynh phải đóng học phí (khoảng 3-6 triệu đồng một tháng), thay vì được miễn như ở trường đại trà, kèm một số khoản như học tăng cường, hoạt động ngoại khóa, xe đưa đón...
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 271 quy định về miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông và miễn học phí, giáo trình môn học Giáo dục quốc phòng - an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.
Nghị định quy định về miễn phí sách giáo khoa đối với học sinh phổ thông, người học tại các cơ sở giáo dục thực hiện các chương trình giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, bao gồm: Chương trình giáo dục phổ thông, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp THCS, THPT và Chương trình xóa mù chữ (Chương trình giáo dục).
Chính phủ cũng nêu rõ áp dụng hình thức mượn - trả để tái sử dụng sách giáo khoa nhiều lần, ưu tiên tận dụng tối đa số lượng sách giáo khoa hiện có và điều chuyển thông qua cơ chế liên thông thư viện giữa các cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn trước khi quyết định mua sắm mới.
Việc này, theo Chính phủ, nhằm giảm áp lực lên ngân sách Nhà nước và bảo vệ môi trường, hạn chế lãng phí và nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công.
Mỗi học sinh được mượn 1 bộ sách giáo khoa đầy đủ các môn học
Sách giáo khoa được miễn phí sử dụng trong Nghị định này thuộc danh mục sách giáo khoa được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định sử dụng thống nhất toàn quốc và sách giáo khoa chuyển đổi hoặc học liệu thay thế phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh khuyết tật.
Theo quy định của Chính phủ, vào đầu mỗi năm học hoặc học kỳ, mỗi học sinh được mượn 1 bộ sách giáo khoa đầy đủ các môn học/hoạt động giáo dục (môn học) tương ứng với chương trình học tập tại lớp. Học sinh có nghĩa vụ hoàn trả bộ sách cho thư viện nhà trường quản lý sau khi kết thúc năm học hoặc học kỳ đó.
Đối với học sinh chuyển trường, Nghị định quy định học sinh chuyển trường có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ sách giáo khoa đã mượn cho cơ sở giáo dục nơi chuyển đi trước thời điểm hoàn tất thủ tục chuyển trường.
Cơ sở giáo dục nơi tiếp nhận học sinh chuyển đến có trách nhiệm bố trí, cho học sinh mượn bổ sung sách giáo khoa kể từ ngày tiếp nhận học sinh vào học, bảo đảm không làm gián đoạn việc học tập của học sinh.
Nghị định Chính phủ vừa ban hành còn nêu rõ quy trình quản lý sách giáo khoa, việc điều chuyển sách giáo khoa giữa các thư viện cùng cấp trên mỗi địa bàn, nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng.
Về hình thức thực hiện, Chính phủ cho biết Nhà nước đầu tư mua sắm sách giáo khoa trang bị cho thư viện các cơ sở giáo dục để tổ chức cho học sinh mượn và trả sách sử dụng trong năm học hoặc học kỳ.
Cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm tổ chức cho học sinh mượn và trả sách giáo khoa có thời hạn. Sau khi kết thúc thời gian sử dụng, sách giáo khoa được thu hồi, kiểm kê và bảo quản để tiếp tục sử dụng cho các năm học tiếp theo.
Việc quản lý sách giáo khoa được thực hiện thông qua hệ thống số đăng ký hoặc phần mềm quản lý thư viện; cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm kiểm kê định kỳ hằng năm để xác định số lượng sách còn sử dụng được và nhu cầu bổ sung.
Nhà nước khuyến khích việc phát triển sách giáo khoa điện tử và các hình thức cung cấp tài liệu học tập số nhằm hỗ trợ người học tiếp cận tài liệu học tập thuận lợi, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay.
Miễn phí sách giáo khoa cho học sinh cả nước từ năm học 2029-2030
Liên quan chính sách miễn phí sách giáo khoa cho học sinh, Chính phủ nêu rõ việc này được thực hiện theo lộ trình.
Cụ thể, từ năm học 2029-2030, Nhà nước sẽ miễn phí sách giáo khoa cho tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc.
Đối với các địa phương có khả năng cân đối ngân sách (hoặc xã hội hóa), Chính phủ khuyến khích thực hiện chính sách miễn phí sách giáo khoa sớm hơn quy định trên.
Chính phủ cũng nêu định hướng ưu tiên bố trí nguồn lực để triển khai trước đối với các địa bàn biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn và khả năng ngân sách của địa phương.
Thời điểm cung cấp miễn phí sách giáo khoa tiếng dân tộc thiểu số thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ về việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên.