Đây là thông tin được chia sẻ tại lễ tổng kết công tác phòng chống lao năm 2025 và phương hướng hoạt động năm 2026 diễn ra tại Hà Nội ngày 7-5.
Chia sẻ tại chương trình, TS.BS Đinh Văn Lượng, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương, cho biết trong năm 2025, Việt Nam phát hiện trên 119.000 bệnh nhân lao mới, mức cao nhất từ trước đến nay.
Tỉ lệ điều trị khỏi và hoàn thành điều trị duy trì ở mức 90%. Dù vậy, Chương trình Chống lao Quốc gia vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn.
Cụ thể, gánh nặng bệnh lao tại Việt Nam còn cao so với khu vực, đứng thứ 12/30 nước có gánh nặng bệnh lao, 10/30 nước có gánh nặng bệnh lao kháng thuốc cao nhất trên toàn cầu.
Mầm bệnh lao vẫn âm thầm lây lan trong cộng đồng. Năm 2024, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính Việt Nam có 184.000 bệnh nhân lao mới, 9.400 bệnh nhân lao kháng thuốc và khoảng 12.000 người tử vong do lao hằng năm. Trong đó, TP.HCM hiện là địa phương phát hiện nhiều bệnh nhân lao nhất cả nước, với 20.000 ca mỗi năm.
“Ngoài ra, có tới gần 40% bệnh nhân lao chưa được phát hiện và báo cáo. Nguồn lực cho công tác phòng, chống lao tại một số địa phương còn chưa đáp ứng được nhu cầu”, TS Lượng nhấn mạnh.
Vì thế, năm nay Chương trình Chống lao xác định trọng tâm là phát hiện bệnh lao gắn với khám sức khỏe định kỳ cho người dân. Để triển khai hiệu quả giải pháp này, Bệnh viện Phổi Trung ương – Chương trình Chống lao Quốc gia đề xuất Bộ Y tế chỉ đạo tất cả các cơ sở y tế triển khai kịp thời, đồng bộ việc lồng ghép khám sàng lọc lao trong khám sức khỏe định kỳ hằng năm cho mỗi người dân.
Báo cáo về chương trình chống lao tại TP.HCM, đại diện Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch cho hay năm qua thành phố đã thực hiện sàng lọc lao gắn với khám sức khỏe định kỳ cho người dân. Thực hiện xây dựng đề án tham mưu cho Sở Y tế về việc tầm soát phát hiện sớm bệnh lao gắn với khám sức khỏe định kỳ. Hiện thành phố đang theo dõi, điều trị cho hơn 20.500 người mắc lao.
Dự kiến trong năm 2026, thành phố ưu tiên lựa chọn mô hình sàng lọc chẩn đoán sớm bệnh lao tùy theo từng khu vực như lồng ghép sàng lọc lao trong khám chữa bệnh cho người nguy cơ mắc lao cao và có triệu chứng nghi lao; khám sức khỏe định kỳ, các chương trình sức khỏe cộng đồng,… nhằm phát hiện sớm bệnh nhân lao để đưa vào điều trị kịp thời.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương, Chương trình Chống lao Quốc gia vẫn đang đối mặt với những khó khăn, thách thức. “Gánh nặng bệnh lao tại Việt Nam còn cao so với khu vực, chúng ta vẫn là một trong những nước có gánh nặng bệnh lao kháng thuốc cao nhất thế giới. Hằng năm vẫn có hàng chục nghìn người tử vong do lao.
Tình trạng phát hiện muộn, bỏ sót ca bệnh trong cộng đồng vẫn còn cao. Nguồn lực cho công tác phòng, chống lao tại một số địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu”, Thứ trưởng Nguyễn Thị Liên Hương nói.
Để tiến tới mục tiêu chấm dứt bệnh lao tại Việt Nam vào năm 2030, bà đề nghị tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm như tổ chức nghiên cứu, đánh giá dịch tễ học bệnh lao, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực hiệu quả; củng cố, nâng cao năng lực của các bệnh viện lao/bệnh viện phổi của các địa phương.
Bên cạnh đó cần tăng cường phát hiện lao trong công tác khám chữa bệnh, coi đây là nhiệm vụ thường quy của tất cả các cơ sở y tế, cả công lập và ngoài công lập.
Ngày 20/4, sức khỏe bệnh nhân tiến triển tích cực, tỉnh táo và vết thương khô ráo sau ca mổ căng thẳng kéo dài hai giờ. Trước đó, thanh niên nhập Bệnh viện Việt Đức cấp cứu với hai chiếc đũa dài 7-10 cm cắm ngập vào hai hốc mắt sau một tai nạn.
PGS.TS Nguyễn Hồng Hà, Trưởng khoa Phẫu thuật Hàm mặt - Tạo hình và Thẩm mỹ, đánh giá đây là tai nạn y khoa vô cùng hy hữu. Hình ảnh chụp CT đa dãy và dựng hình 3D cho thấy dị vật nằm sâu dưới sàn hốc mắt.
"Dị vật nằm rất sâu dưới sàn hốc mắt, đi sát nhãn cầu bên trái và đi xuyên ra đằng sau rồi dừng ngay cạnh các động mạch cảnh lớn – đi lên để cung cấp máu cho vùng đầu mặt cổ, chỉ cần thêm một milimet là có thể vô cùng nguy hiểm đến tính mạng", ThS.BS Nguyễn Thị Hương Giang, khoa Phẫu thuật Hàm mặt - Tạo hình và Thẩm mỹ, cho biết.
Bà Giang nói thêm y văn thế giới hiện chưa ghi nhận ca chấn thương đâm xuyên hai hốc mắt cùng lúc, bởi cơ thể luôn có phản xạ che chắn con mắt còn lại khi mắt đầu tiên gặp nguy hiểm.
Đứng trước ca bệnh phức tạp, kíp trực cấp cứu lập tức huy động nhiều chuyên khoa cùng hội chẩn nhằm tìm ra phương án tối ưu. Trong phòng mổ, các bác sĩ cẩn thận rút dị vật ra từng milimet để không làm vỡ mạch máu hay tổn thương nhãn cầu. Ca phẫu thuật thành công giúp người bệnh thoát khỏi cửa tử và giữ lại gần như trọn vẹn thẩm mỹ cùng chức năng thị giác.
PorMedTec, một công ty khởi nghiệp công nghệ sinh học của Nhật Bản, hôm 29/6 thông báo kế hoạch thử nghiệm lâm sàng nhằm cấy ghép thận lợn sang cơ thể người tại hai bệnh viện trong nước, dự kiến sớm nhất là vào năm 2028, theo The Japan Times.
Mỹ và Trung Quốc hiện là những quốc gia đi đầu trong lĩnh vực cấy ghép dị chủng (xenotransplantation), phương pháp sử dụng nội tạng động vật để điều trị cho người. Đến nay, hai quốc gia này ghi nhận tổng cộng 8 ca ghép thận lợn sang người. Trong đó, một trường hợp suy thận tại Mỹ đã duy trì sự sống mà không cần chạy thận nhân tạo trong suốt 38 tuần trước khi được nhận tạng từ người hiến tặng.
PorMedTec được tách ra từ Đại học Meiji, hiện nhập khẩu các tế bào lợn chỉnh sửa gene do công ty công nghệ sinh học eGenesis của Mỹ phát triển, sau đó nuôi cấy lợn nhân bản phục vụ cho mục đích ghép tạng tại Nhật Bản.
Theo The Mainichi, startup này đã đạt được thỏa thuận với Bệnh viện Đại học Hokkaido, thành phố Sapporo, và Bệnh viện Đa khoa Shonan Kamakura, thành phố Kamakura, tỉnh Kanagawa, để bắt đầu chuẩn bị cho các đợt thử nghiệm. Các cơ sở phẫu thuật lấy tạng từ lợn hiến tặng sẽ được xây dựng ngay trong khuôn viên hoặc khu đất liền kề bệnh viện. Điều này giúp nội tạng được vận chuyển ngay lập tức đến phòng mổ cho người, đảm bảo duy trì trạng thái chất lượng tốt nhất.
Kế hoạch thử nghiệm lâm sàng sẽ được trình lên Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thiết bị Y tế Nhật Bản (PMDA) sớm nhất là vào cuối năm tài chính 2026. Mỗi bệnh viện dự kiến thực hiện một vài ca để đánh giá cả tính an toàn lẫn hiệu quả của phương pháp. Một tiêu chí để đánh giá hiệu quả là bệnh nhân không phải chạy thận nhân tạo trong ít nhất 24 tuần.
Người đủ điều kiện tham gia thử nghiệm dự kiến là bệnh nhân trong độ tuổi 50 và 60 bị suy thận mạn tính cần phải chạy thận hoặc ghép tạng nhưng ít có khả năng nhận được thận hiến từ người thân hoặc các nguồn khác, đồng thời không mắc các biến chứng nghiêm trọng như bệnh tim. Tình trạng sức khỏe tổng thể của người bệnh cũng sẽ được xem xét kỹ lưỡng, do phương pháp này đòi hỏi phải sử dụng các loại thuốc ức chế miễn dịch mạnh hơn so với các ca ghép tạng thông thường.
Những chú lợn hiến tạng sẽ được tạo ra bằng công nghệ nhân bản vô tính từ các tế bào lợn nhập khẩu của công ty công nghệ sinh học Mỹ, đơn vị đã có kinh nghiệm lâm sàng trong lĩnh vực này. Mười gene trong các tế bào này đã được chỉnh sửa để làm giảm nguy cơ thải ghép miễn dịch. Tính đến ngày 28/6, một bệnh nhân được ghép thận vào tháng 11/2025 từ nguồn lợn do công ty Mỹ này cung cấp đã sống khỏe mạnh mà không cần chạy thận trong suốt 31 tuần.
PorMedTec lên kế hoạch thiết lập một hệ thống có khả năng sản xuất 100 con lợn hiến tạng mỗi năm vào năm 2027. Nếu các cuộc thử nghiệm diễn ra suôn sẻ, công ty dự định nộp đơn xin chính phủ phê duyệt quy trình này như một sản phẩm y học tái sinh vào năm 2029, đồng thời tiến tới hợp tác rộng rãi với các cơ sở y tế trong nước để triển khai kỹ thuật này.
Nhật Bản hiện có hơn 300.000 người phải chạy thận nhân tạo do mắc các bệnh lý về thận và khoảng 15.000 người trong danh sách chờ ghép thận. Trong khi đó, theo dữ liệu từ Mạng lưới Ghép tạng Nhật Bản, số ca ghép tạng từ người hiến chết não chỉ đạt khoảng 200 ca mỗi năm.
Trước bối cảnh đó, chính phủ Nhật Bản đã đưa cấy ghép dị chủng vào danh sách một trong những lĩnh vực trọng điểm thuộc lộ trình đầu tư công - tư được công bố vào đầu tháng này. Chính phủ kỳ vọng sẽ sớm làm chủ các công nghệ nội địa và hệ thống sản xuất nhằm đưa giải pháp này vào ứng dụng thực tiễn trong thời gian ngắn nhất.
"Trước mắt, chúng tôi muốn tận dụng những thành tựu của tập đoàn hàng đầu thế giới tại Mỹ, từ đó xây dựng nền móng cho việc đưa cấy ghép dị chủng vào ứng dụng thực tiễn tại Nhật Bản", ông Hiroshi Nagashima, Giám đốc PorMedTec đồng thời là giáo sư tại Đại học Meiji, chia sẻ.
Ngày 31/3, đại diện Bệnh viện Từ Dũ (TPHCM) cho biết, vừa qua các bác sĩ nơi này đã phối hợp cùng ê-kíp Bệnh viện Chợ Rẫy phẫu thuật cứu sống một sản phụ mang thai trong ổ bụng ở vị trí cực kỳ hiếm gặp và nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến tính mạng.
Bệnh nhân là chị L.T.T. (36 tuổi, ngụ tỉnh Đồng Nai) có tiền sử hai lần sinh thường và một lần mang thai ngoài tử cung, đã phẫu thuật nội soi cắt tai vòi tử cung trái cách đây hơn 11 năm. Lần này, chị quên sử dụng biện pháp dự phòng và có thai ngoài ý muốn.
Gần đây, do xuất hiện tình trạng đau bụng tăng dần, người phụ nữ đến khám tại bệnh viện địa phương và được nghi ngờ có thai trong ổ bụng khoảng 10 tuần. Ngay sau đó, bệnh nhân được chuyển tuyến khẩn cấp đến Bệnh viện Từ Dũ.
Tại khoa Cấp cứu, các bác sĩ nhanh chóng thăm khám, hội chẩn và chỉ định thực hiện các cận lâm sàng chuyên sâu. Kết quả cho thấy bệnh nhân có thai nằm sau phúc mạc, ngay sát động mạch chủ bụng.
Khối thai ở ngay dưới vị trí phân nhánh của động mạch thận trái, có dấu hiệu dính vào thành động mạch chủ bụng một đoạn khoảng 10mm, xung quanh có nhiều dịch, nghi xuất huyết tiến triển.
Đây là một trong những thể thai ngoài tử cung rất hiếm gặp, nguy cơ vỡ mạch máu lớn gây nguy cơ tử vong nếu không can thiệp kịp thời. Trước tính chất phức tạp và nguy hiểm của ca bệnh, trưởng tua trực đã quyết định kích hoạt báo động đỏ liên viện, mời ê-kíp phẫu thuật mạch máu từ Bệnh viện Chợ Rẫy sang phối hợp xử trí.
Các chuyên gia hai phía đã cùng hội chẩn, xây dựng phương án phẫu thuật tối ưu nhằm đảm bảo an toàn tối đa cho người bệnh.
3 giờ cân não cứu thai phụ
Ca phẫu thuật được tiến hành lúc 23h45 ngày 26/3. Khi mở bụng bệnh nhân, ê-kíp ghi nhận tình trạng xuất huyết lan tỏa vùng sau phúc mạc. Khối thai nằm sát hàng loạt mạch máu quan trọng ở bụng, thận trái và niệu quản trái.
Các bác sĩ phải tiến hành bóc tách tỉ mỉ khối thai, để tránh tổn thương và bảo tồn được những mạch máu lớn ở thận, động mạch chủ bụng, bảo vệ niệu quản bên trái. Đáng chú ý, khối thai còn chèn ép động mạch sinh dục trái, gây tổn thương vị trí này trong quá trình bóc tách, khiến ê-kíp phải kiên nhẫn xử trí và phục hồi bảo tồn.
Cuối cùng, khối thai và bánh nhau bám sát vùng thận bên trái được lấy trọn vẹn. Sau gần 3 giờ cân não, ca mổ kết thúc thành công. Bệnh nhân mất khoảng 500ml máu và không cần truyền thêm.
Hậu phẫu 2 ngày, chị T. hoàn toàn tỉnh táo, sinh hiệu ổn định, vết mổ khô, có thể đi lại và ăn uống gần như bình thường. Đến sáng 31/3, chị T. hồi phục gần như hoàn toàn, đủ điều kiện xuất viện.
Theo Bệnh viện Từ Dũ, thành công của ca phẫu thuật không chỉ thể hiện trình độ chuyên môn cao của 2 đơn vị y tế tuyến cuối, mà còn cho thấy hiệu quả của mô hình phối hợp liên viện trong xử trí các ca bệnh nguy kịch, tưởng chừng không thể can thiệp.