Thông tin được ông Hồ Tấn Minh, Chánh văn phòng Sở, cho biết sáng nay. Để xem điểm thi lớp 10, thí sinh và phụ huynh vào địa chỉ diemthi.hcm.edu.vn hoặc ts10.hcm.edu.vn rồi nhập số báo danh.
Điểm xét tuyển hệ đại trà là tổng điểm 3 môn Ngữ văn, Toán, Tiếng Anh và điểm ưu tiên (nếu có). Thí sinh phải dự thi đủ ba môn, không vi phạm quy chế, không bị điểm liệt (0 điểm).
Nguyện vọng của các em được xét theo thứ tự. Căn cứ chỉ tiêu từng trường, Sở xét từ trên xuống dưới cho đến khi đủ học sinh, nguyên tắc là điểm chuẩn nguyện vọng sau không thấp hơn nguyện vọng trước.
Điểm xét tuyển hệ chuyên là tổng điểm bài thi ba môn chung (hệ số 1), cộng điểm bài thi chuyên (hệ số 2), các bài thi phải từ 2 điểm trở lên.
Kỳ thi lớp 10 ở TP HCM kết thúc hôm 2/6. Đề thi giảm độ khó so với khu vực TP HCM trước khi sáp nhập nên nhiều giáo viên, hiệu trưởng dự báo điểm chuẩn tăng 0,25-2.
Những năm gần đây, THPT Nguyễn Thượng Hiền luôn dẫn đầu về điểm chuẩn với mức 23,5-25,5. Những gương mặt khác trong top 10 thường lấy trên 22 điểm, như THPT Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Thị Minh Khai, Phú Nhuận, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Hữu Cầu, Trần Phú.
Ở khu vực Bình Dương, những trường ở Thuận An, Dĩ An, Thủ Dầu Một, Tân Uyên cũ có đầu vào cao hơn mặt bằng chung, đa số lấy trên 15 điểm.
Còn ở Bà Rịa – Vũng Tàu, nhóm lấy ổn định ở mức 5-7 điểm mỗi môn là THPT Vũng Tàu, Đinh Tiên Hoàng, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Huệ, Nguyễn Khuyến, Xuyên Mộc. Ngược lại, không ít trường lấy chưa đến 3 điểm mỗi môn, như THPT Dương Bạch Mai, Trần Văn Quan, Ngô Quyền, Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Phú Mỹ.
Tin Gốc: Vnexpress

Theo đó, người ta nói đến chuyên môn giỏi, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng với công nghệ và tinh thần hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy và tiếp xúc với sinh viên, tôi nhận ra một yếu tố rất quan trọng nhưng đôi khi chưa được nhìn nhận đúng mức: năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh.
Với tư cách là một giảng viên ngôn ngữ Anh, tôi từng gặp không ít trường hợp khiến mình vừa tiếc nuối vừa trăn trở. Có những sinh viên học rất tốt chuyên ngành, tư duy logic rõ ràng, thái độ làm việc nghiêm túc. Thế nhưng khi bước vào môi trường nghề nghiệp có yếu tố quốc tế, họ lại gặp rào cản lớn chỉ vì không đủ khả năng giao tiếp bằng ngoại ngữ.
Một lần, một cựu sinh viên tìm gặp tôi sau khi tốt nghiệp vài năm. Em làm trong lĩnh vực kỹ thuật và được công ty cử tham gia một dự án có đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, vì khả năng tiếng Anh hạn chế nên em chỉ có thể đảm nhận những phần việc nhỏ, không được trực tiếp trao đổi chuyên môn với đối tác. "Thầy biết không, nhiều lúc em hiểu vấn đề chuyên môn nhưng không đủ tự tin để nói", em chia sẻ.
Câu chuyện ấy không phải là cá biệt. Tôi từng chứng kiến nhiều người có năng lực chuyên môn rất tốt nhưng đánh mất những cơ hội phát triển chỉ vì thiếu ngoại ngữ. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, điều đó càng trở nên đáng tiếc.
Thực tế cho thấy tri thức ngày nay không còn bị giới hạn trong phạm vi quốc gia. Hầu hết các tài liệu khoa học, công nghệ, kinh tế hay quản trị hiện đại đều được công bố bằng tiếng Anh. Nếu không có khả năng đọc hiểu ngoại ngữ, người học sẽ bị hạn chế trong việc tiếp cận những nguồn tri thức mới nhất của thế giới.
Điều này đặc biệt rõ trong môi trường đại học. Một sinh viên chỉ đọc giáo trình tiếng Việt có thể vẫn hoàn thành chương trình học.
Nhưng một sinh viên có khả năng đọc thêm tài liệu quốc tế sẽ có tầm nhìn rộng hơn rất nhiều. Các em có thể cập nhật nghiên cứu mới, so sánh các quan điểm học thuật và hiểu được xu hướng phát triển của ngành nghề. Ngoại ngữ vì thế không chỉ là công cụ giao tiếp, mà còn là chìa khóa mở ra tri thức.
Vai trò của ngoại ngữ ở góc độ nghề nghiệp lại càng rõ ràng hơn. Nhiều doanh nghiệp hiện nay hợp tác với đối tác quốc tế, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc sử dụng công nghệ chuyển giao từ nước ngoài. Trong môi trường ấy, khả năng làm việc bằng ngoại ngữ trở thành một lợi thế lớn.
Một kỹ sư có thể rất giỏi chuyên môn, nhưng nếu không thể trao đổi trực tiếp với chuyên gia nước ngoài thì việc tiếp cận công nghệ mới sẽ gặp nhiều khó khăn. Một nhà nghiên cứu nếu không đọc được các công trình quốc tế sẽ khó bắt kịp nhịp phát triển của lĩnh vực mình theo đuổi.
Một doanh nhân nếu không giao tiếp được với đối tác quốc tế cũng sẽ bị hạn chế trong việc mở rộng thị trường… Từ đây, có thể thấy ngoại ngữ không chỉ là một kỹ năng bổ trợ, mà là một phần của năng lực chuyên môn trong thời đại toàn cầu hóa.
Tuy vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi cũng nhận thấy nhiều sinh viên vẫn xem việc học ngoại ngữ như một nghĩa vụ bắt buộc để vượt qua kỳ thi. Các em học để lấy chứng chỉ, để đủ điều kiện tốt nghiệp, nhưng chưa thật sự xem ngoại ngữ là công cụ cho tương lai nghề nghiệp của mình. Đây là một điều đáng suy nghĩ.
Việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao không thể chỉ dừng ở việc đào tạo kiến thức chuyên ngành. Một người lao động trong thời đại mới cần có khả năng học hỏi liên tục, làm việc trong môi trường đa văn hóa và thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thế giới. Ngoại ngữ chính là chiếc cầu nối giúp họ thực hiện những điều đó.
Tất nhiên, việc học ngoại ngữ không phải là điều dễ dàng. Quá trình rèn luyện, cải thiện đòi hỏi sự kiên trì, thời gian và phương pháp phù hợp.
Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là nhận thức. Khi người học hiểu rằng ngoại ngữ là công cụ để mở rộng cơ hội nghề nghiệp và phát triển bản thân, họ sẽ có động lực học tập bền bỉ hơn.
Tôi nghĩ các trường đại học cũng cần nhìn nhận ngoại ngữ như một phần quan trọng trong chương trình đào tạo.
Việc dạy ngoại ngữ không nên chỉ tập trung vào ngữ pháp hay thi cử, mà cần hướng đến khả năng sử dụng thực tế: đọc tài liệu chuyên ngành, thuyết trình, trao đổi học thuật và làm việc trong môi trường quốc tế.
Bên cạnh đó, sinh viên cũng cần được khuyến khích tiếp xúc nhiều hơn với môi trường sử dụng ngoại ngữ. Các hoạt động học thuật, hội thảo quốc tế, chương trình trao đổi sinh viên hay những dự án hợp tác với đối tác nước ngoài đều là cơ hội quý để người học rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ trong bối cảnh thực tế.
Trong một thế giới ngày càng kết nối, khoảng cách giữa các quốc gia không còn nằm ở địa lý, mà nằm ở khả năng giao tiếp và hợp tác. Một người có chuyên môn giỏi nhưng thiếu ngoại ngữ giống như người có chìa khóa nhưng không mở được cánh cửa.
Xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao vì vậy không chỉ là đào tạo những người giỏi nghề, mà còn là đào tạo những con người có khả năng bước ra thế giới. Và trong hành trình ấy, ngoại ngữ chính là một trong những hành trang quan trọng nhất.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông tư quy định tiêu chuẩn người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) nhằm chuẩn hóa đội ngũ lãnh đạo và nâng cao chất lượng quản trị tại các cơ sở giáo dục đại học.
Theo Thông tư 17 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (có hiệu lực từ ngày 27-3), tiêu chuẩn chung đối với hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học là người có phẩm chất đạo đức tốt; có đủ sức khỏe để thường xuyên, trực tiếp quản lý, điều hành công việc; có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược và có năng lực xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược phát triển cơ sở giáo dục đại học.
Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cơ sở giáo dục công lập phải đáp ứng các yêu cầu của vị trí việc làm và các quy định khác của Đảng, pháp luật của Nhà nước về viên chức quản lý.
Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn chung nêu trên, hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học cần đủ tiêu chuẩn cụ thể:
Có trình độ tiến sĩ và có uy tín trong lĩnh vực chuyên môn của cơ sở giáo dục đại học;
Có ít nhất 5 năm kinh nghiệm giảng dạy, nghiên cứu phù hợp với trình độ đào tạo của cơ sở giáo dục;
Có ít nhất 2 năm kinh nghiệm quản lý cơ sở giáo dục đại học từ cấp trưởng khoa, phòng, ban hoặc tương đương trở lên;
Có năng lực lãnh đạo, quản trị và phát triển cơ sở giáo dục đại học; có khả năng hợp tác phát triển, huy động nguồn lực cho cơ sở giáo dục đại học.
Thực tế hiện nay, tại nhiều trường đại học trên cả nước, thậm chí ở cả những trường thuộc nhóm tốp đầu, vẫn có phó hiệu trưởng chỉ có trình độ thạc sĩ. Ở các trường đại học tư thục có đến 2-3 phó hiệu trưởng trình độ thạc sĩ.
Các thạc sĩ đang giữ vị trí phó hiệu trưởng ở trường đại học không phụ trách hoạt động đào tạo, khoa học - công nghệ mà chỉ phụ trách, công tác đoàn thể, công tác sinh viên…
Đáng chú ý, theo quy định mới nhất tại Thông tư 17, trình độ thạc sĩ không còn đủ điều kiện để được bổ nhiệm làm phó hiệu trưởng tại phần lớn các trường đại học.
Ngoài việc phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung, vị trí phó hiệu trưởng trường đại học bắt buộc phải có trình độ tiến sĩ trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với yêu cầu vị trí công tác.
Trường hợp ngoại lệ đối với các trường đào tạo ngành đặc thù, chỉ những trường có quy mô đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực nghệ thuật, nhóm ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài, nhóm ngành thể dục thể thao chiếm ít nhất 70% tổng quy mô đào tạo toàn trường, thì phó hiệu trưởng mới có thể giữ trình độ từ thạc sĩ trở lên trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với vị trí công tác.
Ngoài bằng cấp, nhân sự phó hiệu trưởng trường đại học phải có ít nhất 2 năm kinh nghiệm quản lý cơ sở giáo dục đại học từ cấp phó trưởng khoa, phòng, ban hoặc tương đương trở lên; có năng lực quản lý và phát triển các lĩnh vực cụ thể của cơ sở giáo dục đại học.
Nguồn: https://tuoitre.vn/thac-si-khong-con-duoc-lam-pho-hieu-truong-truong-dai-hoc-20260408103759912.htm
Giáo Dục
Thí sinh có từ 2 chứng chỉ ngoại ngữ được ưu tiên xét tuyển ĐH ra sao?

Chia sẻ tại hội nghị tuyển sinh năm 2026 của Bộ GD-ĐT hôm 20.4, tiến sĩ Lê Văn Tường Lân, Trưởng ban Đào tạo và công tác sinh viên ĐH Huế, đặt vấn đề: Bộ đã có quy định về chính sách ưu tiên với thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh, tuy nhiên thực tế cho thấy có thí sinh dùng 2 loại chứng chỉ tiếng Anh khác nhau (IELTS và V-STEP) khi tham gia xét tuyển, 1 chứng chỉ cộng điểm và 1 chứng chỉ quy đổi, thì có được không?
Giải đáp băn khoăn này, GS-TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục ĐH (Bộ GD-ĐT), khẳng định, thí sinh chỉ có thể áp dụng điều kiện vừa cộng điểm vừa quy đổi điểm nếu có 2 chứng chỉ của 2 ngoại ngữ khác nhau.
Với thí sinh có 2 chứng chỉ cùng một ngoại ngữ, như bảng quy đổi các trường ĐH đã công bố và trong quy chế cũng đã thể hiện, thí sinh chỉ được quyền lựa chọn chứng chỉ có mức ưu tiên cao nhất. Điều này theo ông Thảo là cần thiết để tránh tình trạng thí sinh thi nhiều loại chứng chỉ khác nhau trong cùng một ngoại ngữ không cần thiết.
Quy chế tuyển sinh quy định, trường hợp thí sinh sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ (để miễn thi tốt nghiệp THPT môn ngoại ngữ) đăng ký xét tuyển ĐH, cơ sở đào tạo xây dựng và công bố bảng quy đổi kết quả chứng chỉ ngoại ngữ và điểm xét môn ngoại ngữ. Bảng quy đổi kết quả chứng chỉ tiếng Anh và điểm xét môn ngoại ngữ xây dựng phải có tối thiểu 5 mức điểm chênh lệch ứng với thang điểm của chứng chỉ sử dụng. Bảng quy đổi kết quả chứng chỉ ngoại ngữ khác và điểm xét môn ngoại ngữ tương ứng do hiệu trưởng cơ sở đào tạo quy định. Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được dùng cho quy đổi điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển hoặc sử dụng cho điểm khuyến khích.
Theo dự thảo hướng dẫn tuyển sinh ĐH 2026 của Bộ GD-ĐT, các chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh được dùng để miễn thi tốt nghiệp THPT theo quy định tại Quy chế thi tốt nghiệp THPT hiện hành, cơ sở đào tạo quy đổi thành tối thiểu 5 mức điểm chênh lệch ứng với các thang điểm khác nhau của chứng chỉ bảo đảm tính phân hóa về năng lực tiếng Anh của thí sinh (Ví dụ: IELTS 6.0, 6.5, 7.0, 7.5...). Chứng chỉ ngoại ngữ khác và điểm xét môn ngoại ngữ tương ứng do hiệu trưởng cơ sở đào tạo quy định. Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được dùng cho quy đổi điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển hoặc sử dụng cho cộng điểm điểm khuyến khích.
Hiện trong thông tin tuyển sinh, nhiều trường ĐH đã công bố mức điểm cộng hoặc quy đổi chứng chỉ ngoại ngữ thành điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển. Tuy nhiên, nhiều trường cho biết vẫn đang chờ hướng dẫn chi tiết của Bộ GD-ĐT mới công bố thông tin chi tiết.
Tin Gốc: Thanh Niên

